Người mở đất
(Truyện
ngắn)
Mai
Văn Phấn
Cuối xuân, gió nồm từ
biển ùa về Kim Sơn, mang theo vị mặn của biển quyện trong hương lúa đang thì
con gái. Gió lan qua triền đê, bãi mía, thấm vào lòng người cảm giác vừa nuối
tiếc vừa khấp khởi. Khoa dừng lại trước cổng Truy Tư từ – ngôi đền thờ Doanh
điền sứ Nguyễn Công Trứ, tọa lạc bên dòng sông Ân. Sau tiết giảng cuối cùng về
triều Nguyễn, anh tìm về đây, mong được tận mắt chứng kiến vùng đất từng được
khai phá bởi một bậc trung liệt, văn võ song toàn – người đã lập nên huyện Tiền
Hải thuộc trấn Nam Định (nay thuộc Hưng Yên) và huyện Kim Sơn thuộc trấn Ninh Bình
gần hai thế kỷ trước.
Khoa bước chậm qua sân
đền trong hương trầm phảng phất, mắt nhìn lên mái ngói cong uyển chuyển và
những nét chạm tinh xảo trên cột gỗ. Đôi cột đồng sừng sững hai bên tiền đường,
dẫn lối vào công trình kiến trúc hình chữ Đinh cân đối. Từ chính điện, bức
hoành phi sơn son thếp vàng chạm bốn chữ “Quân
danh nghiệp đỉnh” (Danh tiếng ở đỉnh cao nhất) ánh lên bức tường gạch phủ
rêu phong, lan tỏa một vẻ trang nghiêm và tĩnh lặng. Tất cả gợi lên sự tôn kính
đối với bậc tiền nhân đã khai khẩn vùng đất này. Khoa kính cẩn khấu đầu trước
bức tượng Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ – dáng vẻ uy nghi, gương mặt toát lên ý
chí kiên trung.
Năm nay bốn mươi mốt
tuổi, là giảng viên sử học của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tại
Hà Nội, Khoa đã hoàn thành nhiều công trình nghiên cứu về Nguyễn Công Trứ – tác
giả của hai câu thơ lưu danh hậu thế: “Đã
mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông.” Giữa vùng đất
từng là bãi hoang ngập mặn, nay xanh mướt lúa và cói, anh càng cảm nhận rõ hơn
tầm vóc của Cụ Nguyễn – không chỉ là vị Uy Viễn tướng quân từng vào sinh ra tử,
là nhà thơ tài hoa đất Việt, mà còn là người đã khai khẩn đất này, trọn lòng vì
dân, vì nước.
Từ hậu cung bước ra, Khoa
gặp ông thủ từ đang chăm chú tỉa tán cây si ở góc sân. Thấy khách lạ, ông ngẩng
lên, đôi mắt hiền hậu thoáng ánh dò hỏi. Khoa chào ông, tự giới thiệu đôi chút
về bản thân, nói rằng anh đang nghiên cứu lịch sử vùng đất Kim Sơn và Tiền Hải,
và lần này về đây để tìm hiểu thêm về Cụ Nguyễn Công Trứ. Ông thủ từ dừng tay,
mời khách vào trong uống trà. Vừa rót nước trà xanh từ ấm tích ủ sẵn, ông vừa
hỏi xem Khoa quan tâm đến Cụ Nguyễn ở lĩnh vực nào, bởi Cụ là bậc kiệt hiệt văn
võ song toàn. Khoa đáp: “Cháu muốn tìm hiểu cách thức Cụ Nguyễn lãnh
đạo dân chúng quai đê lấn biển, khẩn hoang đất đai, lập nên hai huyện này ạ.”
Ông thủ từ nhấp ngụm trà, giọng từ tốn: “Thời
ấy vùng này còn hoang vu lắm, bốn bề sình lầy, nạn đói lan khắp trấn. Triều
đình cử Cụ Nguyễn về đây trị nhậm. Cụ thấu hiểu nỗi khổ của dân nghèo – nhiều
người theo thủ lĩnh nổi dậy chống triều đình chỉ vì thiếu ruộng đất, thiếu
miếng ăn. Cụ dâng sớ tâu xin khai khẩn lấn biển, mở đất cho dân nghèo trồng
cấy, đồng thời giữ yên bờ cõi, ngăn ngừa các cuộc nổi dậy ở vùng duyên hải. Vua
Minh Mạng chuẩn tấu, phong cho Cụ chức Doanh điền sứ vào năm 1828. Đây là cuộc
đại khẩn hoang chưa từng có trong lịch sử nước nhà. Cụ Nguyễn vừa khuyến khích
dân tại chỗ khai phá vùng giáp ranh, vừa chiêu mộ thêm lưu dân, chủ yếu là
nghĩa quân từng theo Phan Bá Vành – thủ
lĩnh cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất dưới triều Minh Mạng.” Ông thủ từ
dừng lại, chiêu một ngụm trà, ánh mắt xa xăm. Khoa hỏi: “Lưu dân tứ xứ lại thêm đám nghĩa quân, Cụ Nguyễn làm thế nào để giữ
được lòng dân ạ?” Ông thủ từ mỉm cười đôn hậu: “Cụ là người nghiêm khắc nhưng gần dân, thương dân. Cụ không ngại gian
khó, thường xuống tận nơi cùng dân quai đê, lắng nghe, chia sẻ những nhọc nhằn.
Chính sự chân tình ấy khiến người dân tin tưởng, gắn bó, đi theo Cụ”. Khoa
lại hỏi: “Thế ông có nhớ công cuộc khai khẩn
bắt đầu như thế nào không ạ?” Ông từ nheo mắt như hồi tưởng, chậm rãi
nói: “Cụ bảo muốn khai hoang, trước
hết phải trị thủy. Thế rồi Cụ chỉ dạy cho dân từng bước quai đê, đào sông ngòi
và kênh dẫn nước tưới tiêu. Riêng hệ thống thủy nông ở Tiền Hải đã gồm hàng
trăm cây số đê sông lớn nhỏ, với hệ thống sông đào và kênh rạch được bố trí
hình bàn cờ rất khoa học mà đến nay vẫn còn đắc dụng, biến bãi hoang thành hàng
vạn mẫu ruộng màu mỡ. Đó là chưa nói đến Kim Sơn đây. Sử sách có ghi lại cả,
người dân Kim Sơn ghi nhớ ơn Cụ mới lập ngôi Sinh từ để thờ Cụ từ khi Cụ còn
tại thế, sau khi Cụ mất mới đổi tên là Truy Tư từ. Để kỷ niệm ngày giỗ Cụ, hàng
năm vào trung tuần tháng Mười Một âm lịch dân Kim Sơn đều tổ chức lễ hội ở đền
này. Lễ hội to lắm, chú nên đến một lần cho biết.” Khoa vừa nghe ông từ kể,
vừa mường tượng ra hình ảnh một vị quan uy phong đức độ đã dấn thân, gieo mầm
sống cho mảnh đất này.
Anh nhìn ra cánh đồng
trước đền. Trời chiều gió nhẹ, thoảng đưa theo mùi ngô non, mùi lúa sữa trong
không gian. Trong đầu anh tái hiện cảnh Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ đặt bước
chân đầu tiên lên vùng đất này năm Kỷ Sửu (1829), bắt tay vào công cuộc khẩn
hoang Kim Sơn sau khi đã hoàn tất việc khai phá Tiền Hải.
☆
Sau ba năm khai khẩn gian
nan, đến năm Minh Mạng thứ mười, vùng đất Tiền Hải đã trở thành một dải đồng
điền phì nhiêu, dân cư quy tụ ngày một đông. Một chiều nọ, Nguyễn Công Trứ đứng
trên con đê chính, mắt hướng về phía nam. Cụ cho gọi viên thư lại tên Khiêm
đến, bảo rằng: “Nay việc khai khẩn ở Tiền
Hải căn bản đã hoàn thành. Trước khi khai khẩn nơi này, ta đã đi thị sát vùng
đất sình lầy rộng lớn ở trấn Ninh Bình phía nam sông Đáy, cũng là nơi hoang hóa
cần khai khẩn mở đất cho dân cày có ruộng, nên chúng ta sẽ xuống đó một
chuyến.” Cụ truyền cho thư lại Khiêm cắt cử người sang Ninh Bình với Cụ,
tiến hành đo đạc đất đai, lập phương sách chu toàn. Khiêm lĩnh ý, chẳng bao lâu
đoàn thám địa đi thuyền theo thủy đạo rẽ vào sông Càn. Khi ấy vùng này chỉ là
một dải đất hoang vu, lau sậy um tùm, song Cụ Nguyễn đã nhận ra thế đất trải
dài như cánh tay vươn ra biển lớn, bãi triều thoai thoải, nếu đắp đê, dẫn thủy
nhập điền, tất có thể biến thành đồng ruộng. Trên con thuyền nhỏ dập dềnh giữa
sóng triều lên, Cụ bảo với đoàn tùy tùng: “Việc
khai đất, không chỉ cốt lập điền địa, mà trọng ở kế dài lâu. Khai đất là khai
dân trí, chấn hưng dân khí. Làm ruộng không chỉ để no đủ, mà để an dân, gây
dựng gốc rễ cho quốc vận.”
Trở về, Nguyễn Công Trứ
lập tức dâng tấu lên triều đình, tường trình về địa thế vùng đất, phương lược
khẩn hoang, số nhân lực cần huy động cùng thời gian dự liệu thực hiện. Trong
bản tấu, Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ viết: “Thần trộm thấy ở các huyện Yên Khánh, Yên Mô thuộc Ninh Bình, cùng chỗ
đối ngạn với huyện Nam Chân thuộc Nam Định, một dải bãi biển còn nhiều đất
hoang rậm, đất cấy lúa được chẳng kém gì Tiền Hải. Xin cho đến đo đạc để lập
thành ấp lý.” Đọc bản tấu, vua Minh Mạng nhận rõ khí phách và tầm nhìn của
một vị quan có tâm, có tài. Nhà vua liền chuẩn y, cho Nguyễn Công Trứ tiếp tục
công cuộc khai khẩn vùng đất mới ở Ninh Bình. Cụ Nguyễn lại một phen thân
chinh, đưa theo mấy trăm dân đinh Tiền Hải – những người đã quen việc, sang hợp
cùng dân địa phương để tiếp tục công cuộc khai khẩn. Cụ nói với thuộc hạ rằng,
đem sức khai khẩn nơi Tiền Hải tiếp cho vùng đất mới, cũng như lấy lửa châm
thành đuốc sáng. Trước tiên Cụ Nguyễn cho đào con sông Ân – tuyến thủy đạo
chính nối thông vùng đất mới với các địa phương kế cận, đồng thời khởi công đắp
tuyến đê đầu tiên ngăn mặn giữ ngọt. Năm sau, Cụ tiếp tục cho đắp đê Hồng Ân,
mở rộng bãi bồi, tạo thành hành lang khẩn hoang ven biển có quy mô hiếm thấy
trong lịch sử.
Thuở ban đầu đặt chân tới
vùng này, ngoài số dân đinh từ Tiền Hải, phần đông là những người được chiêu mộ
từ Trà Lũ, Nam Định. Họ đều là dân nghèo, tay trắng, nhưng mang theo niềm tin
vững chãi vào Cụ Nguyễn – người mà họ tin sẽ dẫn đường khai đất, lập làng, tạo
dựng cuộc sống mới. Nhưng đất lạ vốn không dễ dung người: lau sậy rậm rạp, bùn
lầy ngập lưng, công việc nặng nhọc khiến ai nấy rã rời. Có khi xong việc, công
cụ cũng chẳng đủ sức mang về, đành bỏ lại giữa đồng. Dần dà, nơi đất mới ấy trở
thành chốn cư ngụ, dân gian gọi là làng Khởi. Gọi là làng, nhưng thuở ấy chưa
có lấy một nếp nhà vững chãi – chỉ là những mái lều tranh sơ sài, che mưa nắng
cho đám dân đinh trú tạm sau một ngày vất vả. Mỗi chiều, lửa bếp bập bùng bên
mép đê mới đắp, bữa cơm đạm bạc độn khoai sắn. Tiếng muỗi vo ve hòa với tiếng
ễnh ương, đôi khi chen lẫn tiếng thở dài vọng nhớ quê nhà. Thế nhưng, vừa tảng
sáng, người người lại gọi nhau ra bãi, kéo dây mực, cắm cọc, xắn đất đắp bờ.
Trong gian khó, người ta đùm bọc nhau, nhường cơm sẻ áo, san sẻ từng vật dụng
để cùng tồn tại. Từ đó, tình làng nghĩa xóm dần được vun đắp.
Mỗi khi cắm thêm cọc mốc
trên vùng đất bồi, Cụ Nguyễn đều đích thân đến tận nơi để quan sát, xem xét địa
thế, kiểm tra độ lún của bãi, rồi cẩn trọng cân nhắc, tính toán việc đắp đê,
dẫn thủy sao cho hợp lý. Có lần, dân đinh trông thấy Cụ ngồi trầm ngâm dưới gốc
bần già, mắt dõi về phía cửa biển, nơi những thửa ruộng đang dần hiện ra theo
con nước rút. Chính Cụ trực tiếp đốc thúc ngoài bãi, áo xắn cao, chân lội bùn,
phân định rạch mương. Hồi ấy phương pháp đạc điền còn thô sơ, Cụ Nguyễn đã nghĩ
ra cách dùng đèn chai xếp thành hàng làm mốc ban đêm. Những ngọn đèn le lói ấy
trở thành điểm chuẩn giúp dân đinh xác định đường đi, ranh giới đê điều, mương
máng chính xác. Nhờ cách định tuyến của Cụ, các thủy đạo trong vùng được đào
đắp thẳng lối, kéo dài hàng chục dặm. Người trong vùng vẫn truyền nhau câu: “Đèn của Cụ Nguyễn soi tới đâu, đất hóa
ruộng đến đó.”
☆
Cũng vào mùa hạ năm ấy,
thủy triều dâng cao khác thường. Mới đến hạ tuần tháng Tư, mà ruộng đất còn
đang bồi dang dở đã ngập nước. Nhiều đoạn đê sụt lở, tình thế càng lúc càng gay
go. Dân đinh ngày càng lam lũ, thân thể rã rời, khí lực cạn dần. Có người ngã
gục trên bãi, người bỏ cuộc trốn về. Thấy tình hình nguy cấp, các vị kỳ lão đã
kéo đến xin yết kiến Cụ lớn Nguyễn Công Trứ.
Nơi Cụ Nguyễn ở là ngôi
nhà ba gian mái rạ, bên trong chỉ có bộ phản tre và chiếc án thư gỗ mộc đơn sơ.
Sau khi thi lễ, một người đại diện thưa rằng: “Bẩm Cụ lớn, việc đắp đê dạo gần đây gặp nhiều trở ngại. Dân đinh phần
nhiều mỏi mệt, người ngã bệnh, kẻ bỏ về. Lượng sức người có hạn, cúi xin Cụ soi
xét, cho được tạm nghỉ, đợi mưa thuận gió hòa rồi tiếp tục.” Nghe xong, Cụ
Nguyễn lặng đi giây lát, rồi đứng dậy, ôn tồn nói: “Ta biết các người đã vất vả suốt thời gian qua. Nhưng khai khẩn là
việc ‘nhân định thắng thiên’, đòi hỏi phải bền gan vững chí. Các người là lưu
dân tay trắng, theo ta về đây lập nghiệp cũng vì tin vào một tương lai no ấm.
Nay đã đi được gần nửa đường, nếu chùn bước thì bao nhiêu công sức sẽ trôi theo
sông nước. Khó mấy cũng phải vượt qua. Nay chịu cực nhọc một phen, mai thành
làng xóm, thành điền thổ – ấy mới là chí trai, ấy mới là nghĩa lớn!”
Một cụ nhẹ giọng thưa: “Nhưng bẩm Cụ, đất này sóng dữ, nước mặn,
nay đắp mai sạt. Công hao mà lòng người cũng nản.”
Cụ Nguyễn trầm ngâm hồi
lâu, rồi ôn tồn: “Những điều đó ta đều đã
rõ. Song xem thiên văn thì chỉ ít hôm nữa thủy triều sẽ hạ, con nước sắp lui,
các người nên cùng ta tiếp tục công việc. Người đau ốm ta lo thuốc thang, cho
nghỉ ngơi, khỏe mạnh thì phải gắng sức. Muốn bãi hoang thành điền địa, tất phải
có chí bền.” Rồi Cụ bước đến gần vị kỳ lão vừa thưa, bảo: "Việc lớn chưa thành, ta không thể lùi
bước!"
Nghe vậy, các vị kỳ lão
đều cúi đầu ngẫm nghĩ. Giây lát, một vị kỳ lão ngẩng lên, chắp tay kính cẩn mà
rằng: “Lời Cụ lớn như dao chém đá. Chúng
tôi xin trở về khuyên răn dân đinh. Dẫu có nhọc nhằn cũng không bỏ việc. Nguyện
không thẹn với cháu con mai sau.”
Tối hôm ấy, trên các trại
đê, bếp lửa nhóm lên sớm hơn thường lệ. Mùi khoai nướng, cá đồng quyện cùng gió
biển, lan tỏa khắp bãi. Dân đinh tụ họp, truyền tai nhau: “Cụ lớn không lùi, thì ta cũng chẳng rời”.
☆
Mấy hôm sau, bầu trời xám
xịt, gió gào rít dữ dội, cuốn theo cát bụi bay mù mịt, xoáy ngược thành từng
vòng lốc cuộn qua con đê. Cụ Nguyễn đứng ở đầu bãi, tay nắm chặt cán mai còn
ngập trong bùn. Cụ nhìn quanh khắp bãi: cọc tre đã được cắm, đoạn đê mới đã đắp
xong, nhưng mây đen vần vũ, như báo hiệu bão lớn sắp ập đến.
Một gã lính lệ hớt hải
chạy tới, mặt mũi thất thần, phục xuống tâu gấp: “Bẩm quan lớn! Thế nước lên nhanh, sắp tràn bãi. Chúng con đã sắp sẵn
ngựa xe, xin đợi lệnh quan lớn!” Nguyễn Công Trứ ngước nhìn trời, mặt không
đổi sắc, nghiêm giọng: “Các ngươi cùng ta
xông pha trận mạc từ lâu, vốn dĩ phải can đảm hơn đám dân đinh. Chúng ta vì
nghĩa lớn, lúc nguy nan phải xả thân mà tranh đấu. Thiên tai cũng chẳng khác gì
địch họa, đều phải quyết liệt chống trả. Cổ nhân có câu ‘nuôi quân ngàn ngày
dùng một lúc’, chính là lúc này đây. Các ngươi hãy cùng ta giúp đám dân đinh
phòng hộ đê điều, công ấy không phải nhỏ!”
Một luồng gió dữ bất chợt
ập tới, thổi chiếc áo nâu bạc màu Cụ Nguyễn đang mặc dính chặt vào thân người.
Tấm địa đồ trải trên mặt phên bị gió hất tung, bay lật rồi co dúm lại dưới chân
Cụ. Viên thư lại từ dưới bãi hối hả chạy lên, người khoác áo tơi, mặt mày lấm
lem bùn đất, cúi đầu thưa vội: “Bẩm Cụ!
Dân làng Vĩnh Hòa đã rút lui gần hết. Giờ chỉ còn lại chừng mươi trai đinh.” Cụ
Nguyễn nhìn viên thư lại, ánh mắt rực lên như có lửa: “Ngươi có sợ không? Có muốn rút lui không?” Thư lại Khiêm cắn
môi, do dự trong thoáng chốc, rồi cúi đầu, đáp dứt khoát: “Thưa Cụ lớn, Cụ còn đứng đây thì thuộc hạ nguyện ở lại cùng, không sợ
gì ạ!” Cụ Nguyễn bèn quay sang mấy vị hương lý, nghiêm giọng: “Truyền gọi dân đinh đến ngay! Những ai còn
sức, thời chia ra từng toán, giữ những đoạn đê xung yếu.” Rồi Cụ hướng mắt
về nhóm binh lính, lớn tiếng: “Cọc tre
đóng chéo, phên nứa dằn ngay chỗ nước có thể phá! Chuyển nhanh bao đất và đá
lên mái đê! Không để sóng lấn thêm!”
Trời đất bỗng chao đảo,
cuồng phong ập đến. Nhiều người hoảng hốt. Tiếng phụ nữ gọi chồng, tiếng trẻ
khóc thất thanh từ dãy lán. Nguyễn Công Trứ chỉ tay về phía chân bãi, hô lớn: “Chỗ ấy là họng nước! Nếu vỡ ở đó, xoáy lũ
sẽ cuốn cả đoạn đê. Mau dồn bao đất tiếp ứng!”
Nghe giọng Cụ Nguyễn, đám
trai đinh thêm vững tinh thần. Nhóm thì lột áo, nhảy xuống lội kéo bao đất đắp
thêm vào mái đê, nhóm thì dầm ngang bụng nước, dựng kè gỗ giữ chân đê. Gió gào
thét, sấm chớp như muốn xé toạc bầu trời.
Đêm ấy, bão không đổ bộ
trực tiếp vào bãi mới, song nước biển vẫn tràn tới sát mép đê. Mãi đến canh ba,
nước mới bắt đầu rút chậm. Khi hửng sáng, những đoạn đê xung yếu đã được gia
cố. Nhiều mái lều bị gió xé rách, người và đồ vật ướt mướt, nhưng đều an toàn.
Nguyễn Công Trứ ngồi xuống vệ đê, rút khăn lau mặt. Phải đến khi ấy, Cụ mới
thấy cái lạnh ngấm vào tận xương cốt.
☆
Khoa đặt ba lô xuống
chiếc bàn gỗ cũ trong căn nhà nhỏ của ông Bính, nằm ngay gần cổng Truy Tư từ.
Anh tìm đến đây sau khi được ông từ ở đền thờ Cụ Nguyễn mách rằng ông Bính là
người học cao hiểu rộng, biết nhiều chuyện xưa của vùng này. Ông Bính trạc
ngoài bảy mươi, dáng người vẫn nhanh nhẹn, nước da rám nắng, ánh mắt sáng.
Trước kia, ông là giáo viên dạy môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông huyện.
Nhiều năm qua, ông lặng lẽ sưu tầm, ghi chép những câu chuyện dân gian, những
tư liệu liên quan đến Cụ Nguyễn.
Họ ngồi uống nước vối
dưới hiên nhà. Nghe Khoa tự giới thiệu bản thân và cho biết mục đích chuyến đi
của anh nhằm tìm hiểu vùng đất Tiền Hải, Kim Sơn mà Cụ Nguyễn đã lãnh đạo công
cuộc khai khẩn, ông Bính rất hào hứng. Trong lúc trò chuyện, ông Bính kể cho
Khoa nghe về cuộc sống cơ cực của người dân nơi đây thuở trước – những trận bão
lũ ập về bất ngờ, mùa màng nhiều năm mất trắng, và cảnh người dân gồng mình
chống chọi với thiên tai, giữ lấy ruộng đồng. Nhờ có hệ thống thủy lợi mà Cụ
Nguyễn cho đào và con đê Hồng Ân Cụ cho đắp thời mở đất Kim Sơn mà dân bớt điêu
linh, xóm thôn trù mật. Sau này, theo thời gian, huyện Kim Sơn đã đắp thêm
nhiều con đê như đê Sông Ân, đê Hoành Trực, đê Tùng Thiện, đê Cồn Thoi, và gần
đây nhất là con đê Bình Minh ba giai đoạn; đê đắp đến đâu là đất lấn biển mở
rộng ra đến đó, mà là đất phù sa màu mỡ, mùa màng no ấm. Ông cũng nhắc đến
những tập tục, nếp sống được gìn giữ qua bao thế hệ, bên cạnh những đổi thay
đang dần len vào đời sống của lớp trẻ ngày nay. Khoa chăm chú lắng nghe, rồi
hỏi: “Bây giờ người dân mình còn giữ được
tinh thần khai hoang mà Cụ Nguyễn để lại không hả chú?” Ông Bính mỉm cười,
ánh mắt sáng lên: “Còn chứ. Cụ là tấm
gương lớn về ý chí và sự bền gan vững chí. Người vùng này vẫn nhớ ơn Cụ, vẫn
giữ được cái nếp sống cần cù, bám ruộng, bám biển. Giờ thì có thêm máy móc,
cách làm mới, nhưng cái cốt cách chịu thương chịu khó thì vẫn vậy.”
Nói rồi, ông Bính đứng
dậy đi vào trong nhà, lát sau trở ra với một tấm gỗ đã sờn cũ, bề mặt hằn những
vết khắc mờ. Ông giải thích, ngày xưa khi đắp đê, Cụ Nguyễn cùng dân đinh dùng
những tấm gỗ nhỏ này gắn vào đầu các cọc mốc phân chia đất; trên mỗi tấm đều có
ký hiệu hoặc con số để đánh dấu từng đoạn đê, từng ô đất đã khai hoang. Khoa
chăm chú nhìn tấm gỗ cũ kỹ, nơi in hằn dấu vết của thời gian; trong từng thớ
gỗ, anh như cảm nhận được sự cẩn trọng, tỉ mỉ và tính khoa học mà Cụ Nguyễn đã
truyền dạy cho người dân thuở ấy. Anh ngước lên nhìn ông Bính, mắt ánh lên chút
tò mò: “Chú ấn tượng nhất với sự kiện hay
câu chuyện nào trong thời gian Cụ Nguyễn khẩn hoang ạ?” Giọng ông Bính chậm
rãi, như chìm sâu vào một miền ký ức: “Chuyện
về thời Cụ khẩn hoang ở đây thì nhiều lắm, nhưng tôi được nghe cụ cố nhà tôi kể
lại là có gia đình nhà nọ sinh đứa con đầu tiên ở đất mới Kim Sơn, Cụ Nguyễn đã
thân tới tận nhà, mang cho gạo, vải, và vui mừng bảo: ‘Thêm đất, thêm người,
mừng thay!’”. Khoa im lặng hồi lâu. Một câu chuyện bình dị mà cảm động,
khiến anh hình dung về buổi đầu mở đất – nơi con người gieo hạt giống đầu tiên
của hạnh phúc. Anh đưa mắt nhìn ra sân. Cây phi lao già nghiêng về phía sông
Ân, rễ trồi khỏi mặt đất như những gân tay đang bám chặt vào lòng đất mẹ. Anh
quay sang ông Bính, khẽ hỏi: “Giờ còn ai
trong vùng nhớ được những chuyện về Cụ nữa không chú?” Ông Bính trầm ngâm
giây lát, rồi chậm rãi đáp: “Còn cụ Lữ,
nhưng cụ già yếu lắm. Hơn chục năm nay không nói năng được gì.” Khoa khẩn
khoản: “Cháu rất muốn gặp cụ Lữ. Chú đưa
cháu đến nhà cụ được không ạ?” Ông Bính gật đầu, rồi nhanh tay xếp dọn ấm
chén. Ông với lấy chiếc mũ lưỡi trai treo trên mắc, bảo: “Ta đi thôi!”
Ông Bính đưa Khoa men
theo lối nhỏ vòng sau đền, qua bụi tre rậm và hàng giậu râm bụt đang lấm tấm nụ
đỏ. Trong ngôi nhà mái thấp, cụ Lữ ngồi tựa lưng vào vách. Đôi mắt đã mờ đục.
Bên cạnh là cô cháu gái gầy gò, trạc ngoài ba mươi, thấy khách liền đon đả
chào. Nghe ông Bính giới thiệu có thầy giáo dạy sử từ Hà Nội về đến thăm cụ, cô
vội đi pha trà. Sợ cụ Lữ lãng tai, Khoa
hắng giọng, chào thật to rồi ngồi xuống bên ông cụ. Cụ không trả lời, nhưng khẽ
nghiêng người, hướng đôi mắt mờ đục về phía Khoa như nhận biết có người lạ đến.
Cô cháu gái quay lại với cái phích trên tay, nói nhỏ: “Mấy năm nay ông em chẳng nói năng gì, cứ ngồi nguyên một chỗ ấy thôi,
tựa hồ như đã lẫn. Nhưng lạ lắm, hễ ai nhắc đến Cụ Nguyễn là ông quay ra hóng”.
Cô
rót trà, bưng từng chén đến mời khách rồi mời ông mình. Khoa từ tốn hỏi: “Thưa cụ, cụ còn nhớ Cụ Nguyễn Công Trứ
không ạ?” Ngón tay trỏ của cụ Lữ bỗng chấm nhẹ vào chén trà, rồi di lên mặt
phản gỗ, bắt đầu vạch từng nét chậm rãi. Khoa cúi xuống, chăm chú dõi theo.
Dưới đầu ngón tay run rẩy ấy, dần hiện ra những cọc gỗ cắm nghiêng, phía dưới
là một đường cong uốn lượn như dáng một dòng sông, và sau cùng là một vòng tròn
nhỏ, như mặt trời vừa nhô lên, hoặc như một chiếc cọc đã chôn sâu xuống lòng
đất. Khoa ngẫm nghĩ rồi hỏi: “Cụ ơi,
những hình vẽ này có phải là cách Cụ Nguyễn ghi lại dấu hiệu của từng đoạn đê
đã đắp xong hay con kênh đã dẫn nước phải không ạ?” Cụ Lữ nở nụ cười móm
mém đầy trìu mến. Cô cháu gái đứng bên cạnh nhìn cả hai người với vẻ ngạc
nhiên. Ông Bính nhìn họ rồi gật đầu nhẹ, như muốn nói điều gì nhưng lại thôi.
Khoa nhìn ông cụ như nhìn một chứng nhân lịch sử, dù anh biết ông cụ không tận
mắt chứng kiến thời khai khẩn ấy. Còn những con người như cụ Lữ, ông Bính, ông thủ
từ, những câu chuyện về Cụ Nguyễn khai sinh ra đất này sẽ còn lưu truyền mãi
cho hậu thế.
Rời khỏi nhà cụ Lữ, Khoa
cùng ông Bính quay lại nhà ông. Gió biển rì rào qua hàng phi lao, mang theo hơi
thở của vùng đất đã bao phen hồi sinh từ hoang vu. Thủy triều đang lên, nước
dâng theo những con mương, luồn lách qua rặng cói, len vào những thửa ruộng ven
đê.
Chiều hôm, ông Bính đưa
Khoa ra đê quai – con đê bao quanh vùng đất bồi mới. Từ triền đê, Khoa lặng
người trước cánh đồng cói trải dài ngút mắt, những ngọn cói mảnh mai ánh lên
trong nắng xế. Cói và lúa là hai loài cây đã gắn bó với con người nơi đây suốt
bao đời – như chính họ: bén rễ nơi đất mặn, kiên cường giữa gió bão, vững chãi
trước sóng gió. Ông Bính chỉ tay về phía một xóm nhỏ, kể rằng chỗ ấy ngày xưa
là nơi Cụ Nguyễn cho người cắm cọc, quai đê. Nay nhà nào cũng khang trang, có
ao, có vườn. Khoa dừng lại, cởi chiếc mũ lưỡi trai, khẽ lau mồ hôi trán. Ánh
mắt anh lưu lại khá lâu nơi đám trẻ con đang nô đùa, ríu rít như bầy chim sẻ.
Anh mỉm cười, rồi rút điện thoại, định chụp vài tấm ảnh.
Vừa giơ máy lên, anh chợt
khựng lại. Trong khung hình, lũ trẻ chạy thoăn thoắt trên bờ đồng cói, những
gót chân như không chạm đất. Dưới bóng chúng, anh như thấy thấp thoáng dấu chân
thuở mở đất của Cụ Nguyễn, của bao bậc tiền nhân. Khoa lặng lẽ hạ máy. Không
chụp nữa.
Kim
Sơn, 9/7/2025
M.V.P
