Khi thơ tựa vào truyện kể... – Nguyễn Thanh Tâm
Khi
thơ tựa vào truyện kể...

Tiến sỹ
Nguyễn Thanh Tâm
Maivanphan.com: Ngày xuân thư nhàn, lòng
chậm lại trong hương trà thơm, ta muốn lật giở những trang viết từng khiến mình
lắng lại. “Khi thơ tựa vào truyện kể...” của Nhà phê bình văn học, TS. Nguyễn
Thanh Tâm là một lựa chọn như thế. Giọng văn đậm đà mà tỉnh táo, dung dị nhưng
giàu suy tưởng. Từ những chuyển động của thơ đương đại, tác giả khơi gợi một
lối đọc: khi câu thơ tiệm cận nhịp văn xuôi, khi tích truyện, nhân vật, đối
thoại và đa thanh bước vào không gian vốn quen với nhạc tính và khoảnh khắc. Bài
viết không chỉ bàn về sự tương tác thể loại, mà còn khơi dậy suy ngẫm về bản
thể của thơ trong dòng chảy biến đổi. Trân trọng chia sẻ cùng các bạn yêu thơ.
Nguyễn
Thanh Tâm
Tương tác thể loại trong thơ đương đại thể hiện
trước hết ở việc gia tăng chất tự sự trong cấu trúc trữ tình. Việc gia tăng
chất tự sự diễn ra trên một số phương diện, biểu hiện như: trong hình thức câu
thơ - tiến đến hình thức câu văn xuôi, trong cấu trúc trữ tình - cấu trúc mang
hình thức của những câu chuyện, có cốt truyện, có nhân vật, đối thoại, đa
giọng, có mở đầu, kết thúc,…
Định hình một cốt truyện
có thể nói là hình thức khá nổi bật trong thơ đương đại. Lịch sử của nó nếu
khảo đến tận cùng dường như bắt nguồn từ văn học dân gian với những bài ca dao
than thân trách phận, những bài ca dao về tình cảnh gia đình, thân phận con
người: “Con cò chết rũ trên cây/ Cò con mở lịch xem ngày đưa ma/ Cà cuống
uống rượu la đà/ Chim ri ríu rít chạy ra chia phần/ Chào mào thì đánh trống
quân/ Chim chích cởi trần vác mõ đi rao” (Ca dao). Ở bộ phận văn học viết,
trong văn học trung đại ta cũng bắt gặp nhiều trường hợp như thế mà tiêu biểu
nhất là những tác phẩm kinh điển như “Cung oán ngâm khúc”, “Chinh phụ ngâm”, và
đỉnh cao là “Truyện Kiều”. Đến thời cận hiện đại, Thơ mới cũng xuất hiện nhiều
bài thơ giàu yếu tố tự sự. “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp, “Chợ tết” của
Đoàn Văn Cừ, “Hoa Thuỷ tiên” của Thế Lữ, đặc biệt là thơ Nguyễn Bính (“Thời
trước”, “Cô hái mơ”, “Giấc mơ anh lái đò”, “Mưa xuân”, “Giời mưa ở Huế”, “Cô
láng giềng”,…).
Thơ đương đại cũng du nhập
khá nhiều chất tự sự vào trong cấu trúc trữ tình của mình. Đó có thể là câu
chuyện về những con cá, con mèo, con bò, về những người đàn bà goá bụa,… trong
thơ Nguyễn Quang Thiều; là câu chuyện của một hình hài trong hành trình trở về
“Cửa Mẫu” trong thơ Mai Văn Phấn; câu chuyện của người cha, người chị, người em
trong bài “Ngóng chị” của Nguyễn Bình Phương; câu chuyện của những người sinh
ra trong thời đại hoang đường trong “Những kỉ niệm tưởng tượng” của Trương Đăng
Dung; là những câu chuyện của Vili, Nàng Tím trong thơ Vi Thuỳ Linh,…
Những
ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà xuống gánh nước sông
Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt
Một bàn tay họ bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi
Bàn tay kia bấu vào mây trắng
Sông gục mặt vào bờ đất lần đi
("Những người đàn bà
gánh nước sông" - Nguyễn Quang Thiều)
Nguyễn Quang Thiều, được
đặt trong khuynh hướng cách tân, với những dụng công làm cho câu thơ, bài thơ
dài ra. Về mặt lí thuyết, đây là một phương thức nhằm giải cấu trúc hình thức
thể loại. Để có thể kéo dài câu thơ, bài thơ, dĩ nhiên, như chúng ta thấy,
Nguyễn Quang Thiều đã lồng trong cấu trúc trữ tình của mình những câu chuyện.
Mạch tự sự trở thành một thủ pháp để trữ tình trong ý đồ tháo tung hình thức
lời văn của Nguyễn Quang Thiều. Cốt truyện trở thành một mạch, một cái lõi để
từ đó chủ thể sáng tạo bám vào nhằm triển hiện những suy tư, cảm xúc của mình.
Cùng với cốt truyện, thơ
trữ tình đương đại, theo mạch gia tăng tự sự đã xuất hiện thêm các nhân vật.
Trong thơ vốn cũng có nhân vật trữ tình. Tuy nhiên, với những bài thơ trong đó
có sự giao thoa, xâm nhập của các thể loại khác, nhất là các thể loại tự sự, có
thể nhận thấy những nhân vật được xuất hiện liên quan đến cấu trúc truyện kể,
đến cốt truyện. Đặc tính của các thể loại tự sự là tính khách quan hóa, trong
khi, tác phẩm trữ tình hướng vào chủ thể, chủ quan. Do vậy, khi gia tăng yếu tố
tự sự, đẩy câu chuyện vào hệ thống các nhân vật, cho nhân vật đi qua sự kiện,
đặc tính chủ quan có xu hướng bị hóa giải, quá trình khách quan hóa diễn ra.
Cha vừa gượng dậy sau trận ốm liệt, men dần ra cửa, lọt vào khối
vuông ánh sáng
Người cố đưa ngón tay và bảo con cánh cam trên tán lá kia cha
nhìn thấy lần đầu
Con kể những chuyện vô tình lúc cha hôn mê. Chuyện đám mây lớn
thường bay chậm qua nhà mình. Chiếc giếng khơi dâng hơi nước lên cửa sổ. Chuyện
tiếng con chim khách làm mọi người cùng nhìn bát thuốc
Cơ thể cha tựa sông cạn, củi khô, hạt lép
Chùm quả nặng đung đưa gió mạnh
Cha bỗng thều thào hãy dìu cha đi nghỉ
Tiếng lá khô trượt trên mái nhà làm cha và con cùng rơi nước
mắt.
(Cửa mẫu VI, “Bầu trời
không mái che” - Mai Văn Phấn)
Nhân vật đã tạo nên không
khí khách quan của câu chuyện, giảm trừ áp lực trữ tình, tránh được tình trạng
rơi vào đơn điệu trong những tác phẩm dài hơi. Một điểm có thể nhận thấy rất rõ
trong những động thái này chính là tính chất khoảnh khắc trạng thái đã bị xô
đẩy, mớm dụ để mang dáng dấp của một quá trình. Rõ ràng, đọc thơ đương đại,
người ta buộc phải chú ý đến những câu chuyện, những cấu trúc tự sự duy trì hạt
nhân trữ tình. Như thế, tức là phải theo dõi tiến trình để nắm được sự vận động
của mạch cảm xúc, suy tư:
“Mĩ
Lai”, ông nói “tôi vừa đến Mĩ Lai”
Rồi trong mắt ông, những bức ảnh ông đã xem
tại địa điểm cuộc thảm sát diễn ra
người mẹ ôm chặt đứa con thơ đã chết
xác những người phụ nữ chân trần rải rác trên những lối bùn
những đứa trẻ trần truồng lạnh ngắt dưới chân
những người lính Mĩ đang đứng đó, điếu thuốc cháy đỏ trên tay
(“Viết ở miền Nam” -
Nguyễn Phan Quế Mai)
Với những dạng thơ như thế
này, phải theo dõi câu chuyện để nắm được mạch trữ tình là điều cần thiết. Giảm
trừ tính chất trạng thái để dịch chuyển vào đặc tính hành trình là nét tiêu
biểu của thơ văn xuôi đương đại.
Không chỉ có vậy, khi nhân
vật được huy động trong cấu trúc trữ tình, cũng là lúc xuất hiện đối thoại, đa
thanh, nhiều bè, nhiều kiểu phát ngôn, nhiều nhân vật trữ tình trong một bài
thơ. Kết cấu này không dễ để thuyết phục người đọc về chất thơ của nó. Tuy
nhiên, sự du nhập của ngôn ngữ đời sống, viết theo cách nói, phá vỡ các cấu
trúc thơ truyền thống (vần, khổ, du dương, nhịp nhàng),… đã hướng đến một định
dạng mới lạ cho văn bản thơ, cấu trúc thơ, mang tâm hồn và trái tim thường ngày
của thi sĩ.
Ở đây, chủ thể sáng tạo
phải có ý thức thể loại rất cao để vừa có thể sử dụng các yếu tố tự sự như một
công cụ, phương tiện, vừa giữ được đặc tính thể loại - thơ, không bị chuyển hóa
thành thể loại khác. Chính trong sự thương thỏa giữa hai quá trình đó, những
khả năng của các thể loại được phát huy. Nhà thơ, hơn ai hết hiểu rõ sức mạnh
của những phương thức biểu đạt khác nhau trong một chỉnh thể nghệ thuật. Điều
quan trọng nhất trong những động thái này chính là chủ thể phải duy trì được
đặc tính thể loại trữ tình khi vận dụng các phương thức tự sự. Chính mối bận
tâm thường trực này tạo ra những liên hệ ngầm ẩn sâu xa mà chúng ta có thể căn
cứ để xác lập bản chất thể loại của một hình thức lời văn.
Về hình thức lời văn, thơ
có thể biến đổi không ngừng, tuy nhiên, như R. Jakobson nhấn mạnh, “chức năng
thi ca” vẫn là điều quan trọng nhất, làm nên bản thể của thơ thay vì có thể
chuyển hóa sang một thể loại khác. Chức năng thi ca duy trì, điều hướng, tổ
chức các hình thức lời văn, sự tương tác thể loại, cấu trúc nên bài thơ. Nhưng,
chức năng thi ca lại là điều mà chúng ta không thấy được một cách trực quan.
Tất cả cấu trúc chỉnh thể của bài thơ nói lên “chức năng thi ca” ẩn chứa trong
tổng thể của nó. Chức năng thi ca chính là chất thơ, giúp duy trì và bảo toàn
đặc tính thể loại trong những tương tác của nhiều hình thức biểu đạt.
Sự gia tăng yếu tố tự sự,
xuất hiện nhân vật, đối thoại, đa thanh dẫn đến một hệ quả “nhãn tiền” là hình
dáng câu thơ bị xô đẩy, kéo dài như những câu văn xuôi. Có thể nói, đây là một
hướng sáng tạo đang khá thịnh hành trong đời sống thơ ca Việt Nam. Những hình
thức thể loại quen thuộc bị phá vỡ trong hai động hướng rút gọn và kéo dài câu
thơ. Những câu thơ dài như câu văn xuôi đã tích hợp vào nó các khả năng giải
phóng năng lượng, xúc cảm và suy tư:
Vẫn
tìm Anh suốt dọc thanh xuân những tinh mơ những chiều lạnh lẽo
Vẫn tìm Anh giấc em hoảng hốt
Vẫn biện minh thời gian bằng cách làm việc quá sức
Vẫn chỉ nghĩ đến Anh, thuần nhất
("Mùa
tình" - Vi Thuỳ Linh)
Đến đây, người đọc sẽ nhận
thấy hiệu năng của những câu thơ dài như câu văn xuôi. Dung lượng mở rộng tới
không hạn định, bỏ cả dấu câu, dòng, khổ, để trở thành một văn bản mà căn cứ
duy nhất để xác lập là chất thơ - chức năng thi ca. Trong hình thái này, chủ
thể có cơ hội thể hiện các trạng thái cảm xúc, các liên tưởng, tưởng tượng, suy
tưởng được khơi dẫn từ một cấu trúc lời tự do. Cấu trúc của thể loại không còn
là một ràng buộc, điều đó đồng nghĩa với việc nhà thơ được tự do trong mọi khả
năng nhằm thể hiện tốt nhất thế giới tinh thần, tư tưởng của mình. Thế giới tư
tưởng, tinh thần là trừu tượng, vô hình, nhưng hình thức lời văn lại hữu hình,
có thể tri giác. Vì vậy, hoàn toàn có thể nhận ra những thay đổi ở bên trong từ
hình thức bên ngoài của văn bản mà người đọc tiếp cận.
Với hướng gia tăng chất tự
sự, thơ trữ tình đã tự mình giãi bày một lối lựa chọn không thể khác. Dẫu vậy,
chất tự sự chỉ được xem như phương thức, phương tiện. Chất thơ vẫn là chủ đạo,
khi câu chuyện, nhân vật, đối thoại, đa thanh, nhịp điệu, nhạc tính,… vận hành
hướng đến tỏ bày được cảm xúc, suy tư trong tâm tưởng chủ thể trữ tình. Người
đọc không đi tìm cốt truyện, hay những diễn tiến sự việc, kết cục của nhân vật,
mà thông qua sự việc để tương tri, đồng điệu, khám phá những vỉa tầng của xúc
cảm thẩm mĩ gợi lên từ thế giới nghệ thuật.
(Nguồn bài và ảnh minh họa: Văn nghệ Công an)

Những tác phẩm thơ đương đại mang nhiều chất tự sự.