Người chơi vơi giữa cơn mưa

Mai
Văn Phấn
“Mình
yêu nhau vội vã
Mưa
một đời chơi vơi…”
V.T.H
Bộ ba tập thơ mới xuất
bản của Vũ Thanh Hoa có thể xem như một cuốn biên niên ký bằng thơ, ghi lại
hành trình mười tám năm sống thành thật và kiêu hãnh, qua đó cất lên khúc ca
của bản ngã. “Chơi vơi” có lẽ là từ khóa, là tinh thần xuyên suốt trong thế
giới thơ Vũ Thanh Hoa, với các dấu mốc: “Vũ”, “Thanh”, “Hoa” (NXB Hội Nhà văn,
2025). Chơi vơi vốn là trạng thái hụt hẫng, không điểm tựa, không nơi bám víu;
nhưng khi được nghiệm sinh trong một số phận và một mạch thơ, nó mở ra những
tầng nghĩa mới, đồng thời trở thành yếu tố định danh, định tính cho một căn
tính tồn tại. Đó là những khoảng trống vắng, cô đơn, là khoảng cách mong manh
giữa những hạt mưa, hay giữa hai bông hoa cùng chung một cành mà vẫn lạc nhau.
Nó tựa tiếng côn trùng cùng cất lên giữa một không gian tịch mịch, nơi mỗi âm
thanh dường như đơn độc, và cũng là cái giật mình thảng thốt: “một buổi chiều tôi chẳng thấy tôi đâu”
(Đi tìm).
Nhà thơ đã đi dọc số phận
mình suốt gần hai thập kỷ thăng trầm, kể từ bài thơ “Chữ ký” (16.11.2007) mở ra
tập “Vũ”, cho đến bài “Trú mưa” (19.7.2025) khép lại hành trình của “Hoa”. Dấu
mốc ấy đã kết tinh và định hình chân dung thi sĩ Vũ Thanh Hoa. Người đọc bắt
gặp những câu thơ trong sáng mà lay động, một tâm hồn mong manh, nhạy cảm: “chiều vắng chìm vào biển lạnh/ phố đông ghế
đá độc thân” (Chiêm cảm); tâm thế cô độc tận cùng khi “em gập lại giấc mơ góa bụa/ giấu mình vào ký ức ngủ đông” (Đơn
độc); hay khoảnh khắc phân thân đầy đau đớn khi “khép cánh cửa gió/ giật mình/ tôi gặp / góc trong cùng/ một người đàn
bà co ro ngồi khóc” (Đi tìm). Tất cả đã mở ra cánh cửa dẫn vào mê lộ của
một tâm hồn luôn tự kiếm tìm chính mình.
Hành trình của Vũ Thanh
Hoa khởi đi từ trạm dừng của những dông bão mang tên “Vũ”. Đó là sự thức tỉnh
mãnh liệt của cái tôi hiện đại, dám nhìn thẳng vào nỗi cô đơn bản thể trần trụi
giữa một đời sống xô lệch, biến động. Người phụ nữ trong “Vũ” chọn tâm thế đối
diện, và đôi khi mang sắc thái nổi loạn, một mình đi ngược lại những trật tự
thông thường: “khóc một mình/ cười một
mình/ ngoài phố đông người chen lấn/ những con đường xuôi mà em đi ngược/ không
nhận ra ai” (Một mình).
Bao trùm lên những đổ vỡ,
đắng cay và cả những bước chân lầm lũi ngược lối ấy, người đàn bà trong “Vũ”
chưa bao giờ tuyệt vọng. Trái lại, một khát vọng yêu thương cuồng nhiệt, một
bản năng dâng hiến vẹn nguyên luôn trỗi dậy, dẫu biết tình yêu ở đời thực luôn
đầy rẫy những vết thương. Dù tự nhận mình là một kẻ lệch pha, nhân vật trữ tình
vẫn kiên quyết giải phóng xúc cảm, từ chối sự rập khuôn để được sống thật với
chính mình thông qua những tuyên ngôn đầy cá tính: “ngược lối đàn cừu”, quyết “phóng
thích ý nghĩ”.
Tập thơ “Vũ” sử dụng thể
thơ tự do phóng khoáng, kết hợp nhuần nhuyễn bút pháp siêu thực, kiến tạo không
gian thẩm mỹ chông chênh, nơi ranh giới giữa thực và ảo, tỉnh và mơ luôn nhòe
mờ trong ký ức. Bi kịch của sự đơn chiếc không còn là khái niệm trừu tượng mà
được cụ thể hóa bằng những hình ảnh trực cảm, trần trụi và day dứt qua bài thơ
“Ngủ một mình”: “đêm qua nằm ngủ một
mình/ mơ mơ tỉnh tỉnh một bình yên tôi// tròng trành nửa mảnh trăng côi/ tóc
mây buông thả lả lơi vai trần//... gối ôm lỏng một vòng tay/ giường thừa thãi
rộng sao xoay để vừa”.
Vũ Thanh Hoa thành công
khi sử dụng thủ pháp phân thân, biến những chất liệu góc cạnh, sắc nhọn của đời
sống hiện đại thành phương tiện biểu đạt tinh vi, ám ảnh. Điệp khúc của hoài
niệm và sự tan vỡ được đẩy lên đỉnh điểm bằng những câu thơ giàu sức gợi, nhức
nhối như một vết thương chưa lành: “nắm
chặt bàn tay sợi khói vẫn bay hoang/ người đứng lại/ mùa thu nức nở/ cây khép
lá ru vùi giấc ngủ/ trong mơ nỗi nhớ bàng hoàng/ ảo ảnh vỡ tan/ hồi ức vỡ tan/
người run rẩy nhặt tro quá khứ” (Nhỡ hẹn).
Chính sự kết hợp hài hòa
giữa ngôn từ giàu tính huyễn hoặc (tro quá khứ, mảnh trăng côi) cùng nhịp điệu thơ
khi dồn dập, khi rấm rứt, có lúc đột ngột gãy khúc, đã tạo nên giọng điệu thơ
Vũ Thanh Hoa, mở đầu cho một hành trình chữ đầy ám ảnh.
Đến với tập thơ “Thanh”,
người đọc được bước vào một không gian nghệ thuật mang tính phản tỉnh. Ở chặng này,
Vũ Thanh Hoa có sự dịch chuyển nội tại rõ nét, từ đối thoại, nổi loạn sang tự
giải phóng bản ngã để đạt đến độ thanh lọc và tái sinh. Người phụ nữ không còn
gào thét hay oán trách số phận; trái lại, nàng dũng cảm đứng trên những mảnh
vỡ, chủ động đóng lại các ảo vọng quá khứ, tạo dựng nội tâm tĩnh lặng, chấp
nhận bước qua nỗi đau một cách tự tin.
Tâm thế tự phủ định đầy
quyết liệt ấy được xác lập ngay từ bài thơ “Phủ định”mở đầu tập thơ: “em tát cạn giấc mơ khứ hồi/ lòng hồ trơ
khốc đá/ rêu xanh thiếp ngủ/ cái bóng chết trước khi nhận ra nguyên bản mình”.
Nhà thơ chủ động đoạn
tuyệt với những ký ức đã tàn phai, qua đó giải cấu trúc trạng thái tồn tại bị
quy chiếu bởi hoài niệm, nhằm kiến tạo một nền tảng hiện hữu mới cho chủ thể
trữ tình. Trên bình diện tư tưởng, “Thanh” có thể được xem như một điểm quy
chiếu hướng đích, nơi cái tôi đạt tới trạng thái thản nhiên và ung dung khi tiếp
nhận nghịch cảnh như một tất yếu của hiện hữu. Trong hệ quy chiếu ấy, nỗi cô
độc không còn vận hành như áp lực đè nặng lên ý thức, mà được tái định nghĩa
như một thành tố nội tại của kinh nghiệm sống, gắn với sự hình thành và khẳng
định bản lĩnh cá nhân: “dẫu bao lần trơn
trượt/ những vết xước đã thành tri kỉ/ bình thản khóc/ tự tại cười” (Cho
một ngày tháng Bảy). Sự an nhiên, vì thế, không mang tính trạng thái tĩnh tại
thuần túy, mà là kết quả của một quá trình chuyển hóa nội tâm, trong đó, mọi va
đập của đời sống được chủ thể hấp thụ, chuyển hóa thành nhịp điệu tồn tại, bền
bỉ và tĩnh tại.
Bên cạnh đó, tập thơ “Thanh”
còn chứa đựng tư tưởng hoài nghi mang tính triết học trước thế giới hiện đại.
Tác giả phê phán lối sống rập khuôn, sự vô cảm của thời đại công nghệ. Nghệ
thuật sử dụng chất liệu đương đại này chính là điểm sáng của thơ Vũ Thanh Hoa.
Bi kịch của nỗi cô đơn công nghệ được lột tả một cách xót xa: “lặng nghe tiếng bước anh xa dần/ thành phố
chưa bao giờ thôi vội vã// em không muốn nhìn màn hình điện thoại/ từ ngữ xếp
hàng quanh quẩn/ lời chúc ngọt ngào/ lời chào âu yếm/ những lời hứa suông quá
nhiều dị bản” (Để trong chăn). Con người đã ý thức rõ hơn về khoảng cách
giữa hiện hữu và kết nối, giữa những tín hiệu và sự trống vắng. Sự im lặng ấy không chỉ là dư âm của một
cuộc chia tay, mà còn gợi lên một câu hỏi giản dị: trong một thế giới ngày càng
cách xa nhau, con người còn có thể thật sự chạm tới nhau hay không.
Nếu “Vũ” và “Thanh” là
những chặng đường bão giông, đổ vỡ rồi phản tỉnh và quyết liệt buông bỏ, thì
đến tập thơ “Hoa”, người đọc được chứng kiến sự viên mãn trong tâm hồn Vũ Thanh
Hoa. Tập thơ mang bước chuyển dịch có tính bản lề, từ đối thoại, phản kháng
sang hòa giải và thấu suốt. Người phụ nữ không còn oán than hay quyết liệt rũ
bỏ quá khứ một cách cực đoan nữa; trái lại, nàng nhìn nhận mọi tổn thương như
chất xúc tác chữa lành và làm cho tâm hồn đẹp hơn, xem cuộc đời như một dòng
sông phiêu lãng và bản thân như một đóa hoa tỏa hương qua nghịch cảnh: “những trật tự ngủ quên/ những triết lý xếp
hàng trên giá sách/ những mặc định đóng đinh/ những lời nguyền cay đắng/ nhẹ
bẫng con thuyền phiêu lãng giữa dòng sông” (Cơn dông không báo thức). Cảm
thức không còn dừng lại ở sự vượt qua, mà nghiêng về trạng thái buông bỏ đầy ý
thức. Con người không còn bị ràng buộc bởi những hệ quy chiếu cũ, mà lặng lẽ
trôi trong nhịp điệu riêng, nơi mọi va đập đã được chuyển hóa. Sự “nhẹ bẫng” ở
đây gợi ra một hình thái tự do tinh tế, không thoát ly, mà đi xuyên qua đời
sống mà không còn bị nó chi phối. Khát vọng yêu và sống, vì thế, không mất đi
tính mãnh liệt của bản năng nhưng đã được gia tăng bởi sự thấu hiểu, ung dung
và lòng bao dung. Bản ngã nữ tính được giải phóng, dũng cảm đối diện với ký ức;
dẫu có những tiếc nuối hay lỡ dở, vẫn chọn cách mỉm cười đi qua mà không chút
oán hận: “một câu thơ cũ/ một điệu nhạc
buồn/ nỗi nhớ đi ngang/ lẫn vào ký ức/ ơi cơn mưa chưa bao giờ dứt/ ướt ngày
xưa ngày xưa/ em định hỏi anh có cùng em đi thêm đoạn nữa/ mà thôi” (Đêm
nắng).
Tập thơ “Hoa” đánh dấu độ
chín, sự kết tinh trong bút pháp của Vũ Thanh Hoa bằng sự tối giản, hàm súc
nhưng giàu sức gợi. Không còn sử dụng quá nhiều những từ ngữ góc cạnh, gai góc
hay nổi loạn như chặng thơ đầu, ngôn ngữ của “Hoa” trở nên mềm mại, tinh tế
hơn, nhưng lắng sâu vào người đọc. Thủ pháp lặp cấu trúc và nghệ thuật tạo
khoảng trắng được tác giả sử dụng điêu luyện, biến các câu thơ ngắn thành những
nhịp đập thổn thức, gọi tên sự vỡ vụn của không gian và thời gian qua các giác
quan: “đi tìm một buổi chiều / chạm viên
gạch vỡ / chạm giọt sương rơi / chạm câu thơ cũ / chạm tiếng thở dài / những
cái tên mọc lên từ ký ức / chạm tiếng cửa khoá / chạm một vòng ôm / chạm đôi
môi nóng / mê miết nụ hôn” (Đi tìm một buổi chiều).
Bộ ba tập thơ “Vũ”, “Thanh”,
“Hoa” đã tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật nhất quán. Bên cạnh những điểm mạnh,
thơ Vũ Thanh Hoa đôi khi vẫn có xu hướng nghiêng về sự khép kín trong cái tôi,
khiến mạch cảm xúc có lúc vận động trong những quỹ đạo quen thuộc như cô đơn,
ký ức, chia lìa. Một số thi liệu và hình ảnh giàu tính biểu tượng được sử dụng
lặp lại, ít nhiều tạo cảm giác quen thuộc hơn là mở rộng biên độ biểu đạt. Dẫu
vậy, những giới hạn ấy không làm suy giảm giá trị cốt lõi của hành trình sáng
tạo.
Hình tượng người phụ nữ
trong thơ Vũ Thanh Hoa, dẫu tự định danh như một người “chơi vơi” của định
mệnh, nhưng không bị động hay khuất phục. Ngược lại, chủ thể trữ tình luôn duy
trì một năng lực tự thân trong việc đối diện và vượt qua các áp lực hiện sinh.
Những “cơn mưa” của số phận, vì thế, trở thành cơ chế thanh lọc và tôi luyện,
thúc đẩy sự vận động nội tại của cái tôi qua các chặng, “Vũ” (động thái bão
giông và nổi loạn), “Thanh” (quá trình thanh lọc và phản tỉnh), đi tới “Hoa”
như một trạng thái kết tinh của tự tại, dung hòa và ý thức thẩm mỹ bền vững.
Với giọng điệu nội cảm
giàu ám ảnh, bộ ba tập thơ đã xác lập một diễn ngôn riêng biệt, góp phần định
hình diện mạo của cái tôi nữ trong thơ đương đại, vừa ý thức sâu sắc về bản
thể, vừa khẳng định năng lực tự do và phẩm giá tồn tại trong tính hiện đại.
Hải
Phòng, 20/5/2026
M.V.P