image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement





























Đề khảo sát chất lượng Ngữ văn lớp 9 (2025–2026): Truyện ngắn “Hi vọng” của Mai Văn Phấn

UBND…

TRƯỜNG THCS…

 

 (Đề bài gồm 01 trang )

 

ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG LỚP 9

NĂM HỌC 2025–2026

 

Môn: Ngữ văn

            Thời gian làm bài:120 phút (không kể thời gian giao đề)

 

 

 

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

 

Đọc văn bản sau:

 

HI VỌNG

Mai Văn Phấn

 

Mưa từ sáng, rả rích trên mái nhà Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp Cúc Phương. Âm thanh quen thuộc ấy hôm nay khác lạ, như báo hiệu rừng già đang chuyển mình.

Hương ngồi một mình trong phòng trực. Căn phòng nhỏ, gọn gàng, ánh sáng từ màn hình máy tính là điểm sáng duy nhất trong không gian mưa chiều. Gió thoảng vào phòng hương thơm ngọt ngào của hoa đậu tằm và cả mùi thuốc sát trùng từ phòng y tế bên cạnh, nơi vài cá thể linh trưởng đang được điều trị.

[…]

Hương đang tua lại đoạn video từ cụm camera giám sát suối Thanh Vân, nhưng ánh mắt cô không còn tập trung vào đó nữa. Qua khung cửa sổ, cô dõi theo con vượn đen má hung đang thu mình trong chuồng bán lộ thiên ở góc sân. Con vượn đực ấy từng đi lạc vào khu đầm nhà ông Đoàn ở Tràng Cát, Hải Phòng. Nhận ra dấu hiệu đặc trưng của một loài động vật quý hiếm, gia đình ông đã chủ động liên hệ và bàn giao nó cho Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp tại Cúc Phương.

Suốt hơn ba thập kỉ qua, Trung tâm bền bỉ chăm sóc và bảo tồn các loài linh trưởng bên bờ tuyệt chủng. Ẩn mình dưới tán cổ thụ rậm rạp ven Vườn Quốc gia Cúc Phương, nơi đây đã ghi dấu nhiều thành tựu quan trọng, trong đó có những ca sinh sản thành công trong điều kiện nuôi nhốt, trước khi những con vật ấy được đưa trở lại rừng xanh.

Hương nhớ lại ngày đầu tiên con vượn đen má hung được đưa về Trung tâm này; nó gầy gò, hoảng loạn, thường thu mình trước những tiếng động và cử chỉ của con người. Hương đứng bên chuồng sắt, nhìn con vật co ro trong tuyệt vọng. Lòng cô chùng xuống, đầy nỗi xót xa và nghi ngại: liệu con vượn kia có thể phục hồi? Nhưng trong sâu thẳm, Hương cảm nhận một sức sống bền bỉ tiềm ẩn của con vượn, cô đặt tên cho nó là Hi Vọng. Và, không phụ lại kì vọng của cô, nó hồi phục một cách ngoạn mục, bộ lông đen óng mượt ánh bạc dưới nắng, chuyển động nhanh nhẹn. Ánh mắt hốt hoảng của nó giờ đã bình thản hơn, đôi lúc nhìn theo Hương khi cô đi ngang qua, như một dấu hiệu lặng lẽ rằng nó đã bắt đầu tin tưởng con người.

[…]

Mưa vẫn dạt dào qua mái chuồng như tấm rèm mỏng, ngăn cách con vượn với thế giới hoang dã của nó. Ánh mắt con vật gần giống mắt người, đôi lúc đượm một nỗi buồn u uẩn như hoài nhớ chốn rừng già. Từ xa bỗng vọng lại tiếng hú dài, vang vọng giữa đại ngàn. Âm thanh ấy rung động không gian, cắt ngang dòng suy nghĩ của Hương. Cô quay lại, thấy Hi Vọng bám chặt lấy song chuồng, rồi cũng cất tiếng hú da diết, đầy khắc khoải. Âm thanh xuyên qua màn mưa, vang vọng về miền rừng xa thẳm.

[…]

Hương quỳ bên chiếc lồng. Con vượn cái hé mắt nhìn, ánh nhìn của nó vẫn hoang mang nhưng không còn hoảng loạn. Nó được đưa về Trung tâm trong tình trạng kiệt sức, mất máu, nhưng may mắn đã qua cơn nguy kịch. Dù bắt đầu ăn trở lại, nó vẫn thu mình trong góc chuồng, co rúm lại mỗi khi nhân viên chăm sóc đến gần. Hương dành phần lớn thời gian chuyện trò với con vật, an ủi nó bằng giọng êm ái, thân mật.

Con vượn cái đang dần hồi phục. Hương thường ngồi bên chuồng, tay nắm lấy song sắt và gọi nó bằng cái tên cô đặt: Bình An. Giọng cô nhẹ nhàng và kiên nhẫn. Ban đầu, con vật chỉ im lặng, đôi mắt đầy vẻ lo âu. Nhưng từng chút một, ánh mắt ấy dần bớt hoang mang; và mỗi khi Hương gọi, nó lại quay đầu về phía cô, như đang lắng nghe. Dần dà, nó mon men đến gần Hương và nhón lấy thức ăn từ tay Hương chìa ra. Sự tin cậy lớn dần, đôi khi nó để cho Hương chạm vào tay hoặc gại gại lên đầu nó.

Sau khi hồi phục hoàn toàn, Bình An được thả chung vào lồng với Hi Vọng, chúng nhanh chóng làm thân với nhau. Hai con cùng vui đùa chuyền trên những cành cây gài trên song sắt trong lồng. Thỉnh thoảng từ rừng xa vọng lại tiếng hú của vài con vượn khác, chúng dỏng tai lên nghe, áp người vào song sắt, dõi mắt ra xa, đầy vẻ nhớ nhung và thèm khát cuộc sống ngoài kia.

Sau vài tháng theo dõi sức khỏe và hành vi của hai con vượn, Hương biết chúng đã sẵn sàng trở về rừng.

Một sáng đầu thu, xe của Trung tâm dừng bên suối Thanh Vân. Cửa chuồng được mở ra, sau vài phút nhìn ngó thăm dò, Hi Vọng phóng ra trước với động tác dứt khoát. Nó bám lấy thân cây, chuyền cành nhanh nhẹn, bộ lông đen tuyền nổi bật dưới nắng sớm. Bình An theo sau, bước đi cẩn trọng nhưng không hề sợ hãi. Hi Vọng dừng trên cành cao, ánh mắt nâu sẫm dõi theo đoàn người. Bất chợt, nó cất lên chuỗi âm thanh vang vọng. Ngay lập tức, con vượn cái cũng ngân lên tiếng hót thánh thót. Tiếng hót của chúng hòa quyện, lan xa giữa thinh không.

Hương nhìn theo bóng hai con vượn, nói với Khang giọng nghèn nghẹn: “Chúng đang chào tạm biệt chúng ta đấy.”

[…]

Vài năm sau, vào một sáng trong lành, Hương nhìn vào màn hình giám sát. Hình ảnh từ camera gắn trên tán cây cao truyền về hiện rõ hai con vượn quen thuộc đang hái quả trên cành. Cạnh chúng, một con vượn nhỏ đang chập chững chuyền cành. Mỗi bước nhảy của nó như dội lên trong tim Hương niềm hạnh phúc khôn tả.

 

(Trích Hi vọng, Mai Văn Phấn, Dẫn theo Baovannghe.vn, ngày 28–02–2026)

 

* Chú thích: Mai Văn Phấn (sinh năm 1955) là nhà văn, nhà thơ Việt Nam đương đại, quê ở Kim Sơn, hiện sống và sáng tác tại Hải Phòng. Sáng tác của ông thường hướng đến vẻ đẹp của thiên nhiên, sự sống và mối quan hệ hài hòa giữa con người với thế giới tự nhiên.

 

               Thực hiện các yêu cầu:

 

Câu 1. (0,5 điểm) Xác định ngôi kể của văn bản trên.

 

Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra hai chi tiết cho thấy sự thay đổi của con vượn đen má hung (Hi Vọng) từ khi mới được đưa về Trung tâm Cứu hộ đến khi hồi phục.

 

Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích hiệu quả nghệ thuật của biện pháp so sánh trong câu văn: “Mưa vẫn dạt dào qua mái chuồng như tấm rèm mỏng, ngăn cách con vượn với thế giới hoang dã của nó.

 

Câu 4. (1,0 điểm) Chi tiết sau có ý nghĩa gì? Cạnh chúng, một con vượn nhỏ đang chập chững chuyền cành. Mỗi bước nhảy của nó như dội lên trong tim Hương niềm hạnh phúc khôn tả.”?

 

Câu 5. (1,0 điểm) Thông điệp nào trong văn bản có ý nghĩa nhất đối với em? Vì sao?

 

II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)

 

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Hương trong đoạn truyện ở ngữ liệu trong phần đọc hiểu.

 

Câu 2. (4,0 điểm)

Nhà văn Mai Văn Phấn trong truyện ngắn Hi vọng đã gửi gắm một thông điệp xúc động: “Chỉ có tình yêu chân thành mới có thể chữa lành những vết thương của tạo hóa”. Trong tự nhiên, các loài động vật hoang dã là một phần không thể thiếu, góp phần tạo nên sự cân bằng và vẻ đẹp cho trái đất. Thế nhưng, giữa nhịp sống hiện đại, vẫn còn một số người chưa thật sự nhận thức được tầm quan trọng và có ý thức trân trọng, bảo vệ sự sinh tồn của muôn loài.

Là một người trẻ, em  hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ về vấn đề trên và đề xuất những giải pháp để khắc phục. 

 

–––––– HẾT ––––––

 

(Thí sinh không được sử dụng tài liệu, cán bộ coi thi không giải thích gì thêm).

Họ và tên thí sinh: ……………………

Số báo danh: ……………………………..

Cán bộ coi thi số 1: …………………..

Cán bộ coi thi số 2: …………….……

 

 

 

B. ĐÁP ÁN – HƯỚNG DẪN CHẤM

 

Phần

Câu

Nội dung

Điểm

I

 

ĐỌC HIỂU

4,0

 

1

Ngôi kể: Ngôi thứ ba.

0,5

2

* Hai chi tiết cho thấy sự thay đổi của con vượn đen má hung (Hi Vọng) từ khi mới được đưa về Trung tâm Cứu hộ đến khi hồi phục:

Lúc mới được đưa về Trung tâm: Con vượn gầy gò, hoảng loạn, thường thu mình trước tiếng động và cử chỉ của con người; co ro trong tuyệt vọng.

– Sau khi hồi phục: Bộ lông đen óng mượt ánh bạc dưới nắng, chuyển động nhanh nhẹn; ánh mắt bình thản hơn, đôi lúc nhìn theo Hương như đã bắt đầu tin tưởng con người.

0,5

3

– Học sinh chỉ ra biện pháp tu từ so sánh: Mưa vẫn dạt dào qua mái chuồng” được so sánh “như tấm rèm mỏng

Hướng dẫn chấm:

Trả lời như Đáp án: 0,25 điểm

Không chỉ ra hoặc chỉ ra chưa đầy đủ, chính xác dẫn chứng:

0 điểm

 – Hiệu quả nghệ thuật:

+ Biện pháp so sánh tạo hình ảnh giàu sức gợi, làm cho câu văn trở nên sinh động và tăng tính biểu cảm.

+ Hình ảnh so sánh tấm rèm mỏng gợi ra một ranh giới mong manh giữa không gian chuồng nuôi và thế giới rừng già, qua đó làm nổi bật cảm giác cách biệt của con vượn với môi trường sống tự nhiên của nó.

+ Từ đó, tác giả gợi lên nỗi khát khao trở về rừng của con vật, đồng thời thể hiện sự thấu cảm của con người trước số phận của các loài động vật hoang dã cần được bảo tồn và trả lại môi trường sống tự nhiên.

1,0

4

Ý nghĩa của chi tiết: “Cạnh chúng, một con vượn nhỏ đang chập chững chuyền cành. Mỗi bước nhảy của nó như dội lên trong tim Hương niềm hạnh phúc khôn tả.” là:

+ Chi tiết con vượn nhỏ xuất hiện cho thấy Hi Vọng và Bình An đã thích nghi tốt với môi trường tự nhiên, sinh sống và sinh sản bình thường trong rừng.

+  Hình ảnh “con vượn nhỏ chập chững chuyền cành” biểu tượng cho sự tiếp nối sự sống, cho thành công của công tác cứu hộ và bảo tồn động vật hoang dã.

+ Qua đó thể hiện niềm hạnh phúc, niềm tự hào và sự xúc động sâu sắc của Hương khi chứng kiến thành quả từ những nỗ lực chăm sóc, bảo vệ và trả lại tự do cho các loài linh trưởng.

+ Đồng thời chi tiết này gửi gắm thông điệp về ý nghĩa nhân văn của việc bảo vệ thiên nhiên và động vật hoang dã.

  

 

1,0

5

 Nêu được một thông điệp mà học sinh thấy có ý nghĩa nhất đối với bản thân (Có thể theo hướng: Tình yêu thương và sự kiên nhẫn có thể chữa lành những tổn thương; mỗi sinh vật đều khao khát tự do và được sống trong môi trường tự nhiên của mình; công tác cứu hộ và bảo tồn động vật hoang dã có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì sự sống của các loài; con người cần nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học.,…)

– Lí giải một cách hợp lí và thuyết phục.

 

1,0

II

 

VIẾT

6,0

 

1

Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Hương trong đoạn truyện ở ngữ liệu trong phần đọc hiểu.

2,0

a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức, bố cục của đoạn văn

0,25

 b. Xác định đúng yêu cầu về nội dung: phân tích nhân vật Hương trong đoạn truyện ở ngữ liệu trong phần đọc hiểu.

0,25

c. Viết được đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:

Có thể triển khai theo hướng:

c1. Mở đoạn:

Giới thiệu tác giả Mai Văn Phấn và truyện ngắn "Hi vọng".

– Khái quát nhân vật Hương: trái tim nhân hậu, tình yêu thiên nhiên tha thiết và tinh thần trách nhiệm

c2. Thân đoạn:

* Lòng trắc ẩn và sự thấu cảm sâu sắc với nỗi đau của loài vật:

– Hương biết rung động, "lòng chùng xuống" đầy xót xa khi chứng kiến con vượn "gầy gò, hoảng loạn" co ro trong tuyệt vọng.

* Sự kiên nhẫn và sức mạnh của tình thương chân thành:

– Hương dành phần lớn thời gian "chuyện trò", "an ủi bằng giọng êm ái, thân mật" để xóa tan nỗi sợ hãi, giúp con vật dần phục hồi tâm lý.

– Sự kiên trì "nắm lấy song sắt", gọi tên nhẹ nhàng đã tạo nên sợi dây tin cậy kỳ diệu, khiến con vượn từ chỗ "co rúm" đã dám "nhón lấy thức ăn" từ tay cô.

* Tâm hồn cao thượng và niềm hạnh phúc vị tha:

– Hương thấu hiểu khát khao tự do của loài vật qua ánh mắt "nhớ nhung", để rồi xúc động "nghèn nghẹn" khi tiễn chúng trở về với đại ngàn.

c. Đặc sắc nghệ thuật trong xây dựng nhân vật:

– Nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế: Khắc họa sinh động những chuyển biến cảm xúc từ "xót xa" đến "hạnh phúc khôn tả" qua hệ thống từ ngữ giàu sức biểu cảm.

– Chi tiết hành động và ngôn ngữ giàu tính hình tượng: Các cử chỉ "chuyện trò""gại gại lên đầu" và cách đặt tên "Hi Vọng""Bình An" làm nổi bật sự kiên nhẫn, tận tụy.

d. Đánh giá:

Nhân vật Hương không chỉ là người dẫn chuyện mà còn là điểm tựa tư tưởng, giúp chuyển tải trọn vẹn thông điệp về trách nhiệm bảo tồn thiên nhiên hoang dã.

c3. Kết đoạn: Khẳng định Hương là nhân vật tiêu biểu cho những con người bảo vệ màu xanh, gắn kết con người với tự nhiên.

 

1,0

d. Diễn đạt: đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.

Hướng dẫn chấm:

Bài làm có nhiều lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp: 0 điểm

0,25

đ. Sáng tạo: có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ, cảm xúc sâu sắc về bài thơ.

Hướng dẫn chấm:

Thí sinh thể hiện cảm nghĩ sâu sắc, có ý tưởng riêng hoặc có cách diễn đạt mới mẻ: 0,25 điểm

0,25

2

Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn đề cần giải quyết: giữa nhịp sống hiện đại, vẫn còn một số người chưa thật sự nhận thức được tầm quan trọng và có ý thức trân trọng, bảo vệ sự sinh tồn của muôn loài.

4,0

 

a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận xã hội

0,25

 

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: giữa nhịp sống hiện đại, vẫn còn một số người chưa thật sự nhận thức được tầm quan trọng và có ý thức trân trọng, bảo vệ sự sinh tồn của muôn loài.

0,5

 

c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu:

Có thể triển khai theo hướng:

c1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.

 c2. Thân bài:

* Giải thích vấn đề nghị luận:

Bảo vệ động vật hoang dã: Là việc chăm sóc, bảo tồn và duy trì môi trường sống cho các loài vật ngoài tự nhiên; đảm bảo sự đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái cho trái đất. Nó đòi hỏi sự hi sinh về lợi ích kinh tế trước mắt, sự kiên nhẫn và lòng trắc ẩn như cách nhân vật Hương dành cho Hi Vọng và Bình An.

Sự thiếu thấu hiểu và trân trọng: Là tình trạng con người chưa nhận thức được giá trị của muôn loài, xem động vật chỉ là công cụ phục vụ nhu cầu cá nhân (giải trí, thực phẩm, trang sức), từ đó có thái độ thờ ơ hoặc hành động xâm hại.

–> Vấn đề đặt ra: Cần nhìn nhận lại mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, từ đó hình thành lối sống trách nhiệm và biết trân trọng mọi sự sống trên hành tinh.

* Lí giải căn nguyên, cơ sở nảy sinh vấn đề:

– Bản thân: Thiếu hiểu biết về hệ sinh thái; cái tôi ích kỷ chỉ chú trọng đến sự hưởng thụ cá nhân mà quên đi quyền được sống của muôn loài.

Gia đình: Cha mẹ đôi khi chưa chú trọng giáo dục con cái tình yêu thiên nhiên, hoặc vô tình tạo thói quen sử dụng sản phẩm từ động vật hoang dã làm quà biếu, vật phẩm trang trí.

Nhà trường: Đôi khi quá nặng về lý thuyết khoa học mà thiếu đi những bài học khơi gợi cảm xúc, sự rung động và kĩ năng bảo vệ môi trường thực tế cho học sinh.

– Xã hội: Chạy theo giá trị thực dụng, coi thường các giá trị bền vững; sự phát triển của công nghệ khiến con người dần tách rời khỏi môi trường sống tự nhiên.

* Hậu quả:

– Đối với bản thân: Con người trở nên khô khan về tâm hồn, đánh mất cơ hội cảm nhận sự kỳ diệu của tự nhiên. Chỉ khi thiên nhiên suy kiệt, chúng ta mới nhận ra sự nuối tiếc muộn màng.

Đối với gia đình & xã hội: Môi trường sống bị hủy hoại dẫn đến thiên tai, dịch bệnh (như hệ lụy từ việc buôn bán thú rừng). Các giá trị nhân văn về sự cộng sinh bền vững bị mai một.

Đối với hành tinh: Mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng, đẩy nhiều loài vật đến bờ vực tuyệt chủng, làm nghèo nàn di sản thiên nhiên cho thế hệ mai sau.

* Nêu ý kiến trái chiều, phản bác:

 

1,25

 

* Đề xuất được giải pháp khả thi:

– Giải pháp đối với các bạn trẻ:

+ Trước hết, mỗi người trẻ cần nhận thức rõ giá trị của động vật hoang dã đối với sự cân bằng sinh thái, hiểu rằng sự sinh tồn của muôn loài (như Hi Vọng và Bình An) có liên quan trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của chính con người.

+ Cần thể hiện trách nhiệm bằng những hành động thiết thực: kiên quyết nói không với việc tiêu thụ thịt thú rừng, không sử dụng các sản phẩm từ ngà voi, sừng tê giác và kịp thời lên tiếng phản đối các hành vi săn bắt trái phép.

+ Đồng thời, mỗi bạn trẻ cũng cần tự rèn luyện lối sống xanh, biết yêu thương và trân trọng các giá trị tự nhiên, không để những cám dỗ thực dụng hay nhịp sống hiện đại làm chai sạn đi tình yêu dành cho thế giới động vật.

– Giải pháp từ gia đình – nhà trường – xã hội:

+ Gia đình cần định hướng lối sống nhân văn, cùng con cái tham gia các hoạt động thiện nguyện, tham quan các trung tâm cứu hộ (như Cúc Phương) để trẻ em hình thành tình yêu và ý thức bảo vệ muôn loài ngay từ nhỏ.

+ Nhà trường cần chú trọng giáo dục đạo đức môi trường, đưa các bài học về bảo tồn động vật hoang dã vào chương trình giảng dạy thông qua các hoạt động ngoại khóa, giúp học sinh hiểu rõ luật pháp và kỹ năng bảo vệ thiên nhiên.

– HS nêu dẫn chứng phù hợp

c3. Kết bài:

– Khẳng định lại vấn đề.

– Liên hệ bản thân.

1,25

 

d. Diễn đạt: đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.

0,25

 

đ. Sáng tạo: có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện sự am hiểu vấn đề nghị luận.

 

0,5

Tổng điểm toàn bài

10

 

–––––– HẾT ––––––

 

 

 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 3 4 5 
Xem thêm

image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement




























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị