Người mang phù sa về cõi không mùa

Nhà
thơ Lâm Xuân Vi
Mai
Văn Phấn
Nhà thơ Lâm Xuân Vi vừa
rời cõi tạm lúc 8g03 ngày 31/3/2026 tại nhà riêng, để lại khoảng trống vắng
trong lòng người thân, bạn bè và văn giới. Sự ra đi của ông – người kỹ sư thủy
lợi, thi sĩ của những dòng sông quê – như nhịp lặng bất ngờ, một trái tim từng
bền bỉ chở nặng phù sa đời sống và thi ca đã ngừng nghỉ. Ông ra đi vào những
ngày cuối xuân, khi những mầm xanh ông nâng niu suốt dọc đời mình đã kịp lớn
lên, đủ sức đón nhận nắng gió, như sự gửi trao trọn vẹn trước khi khép lại hành
trình.
Một đời tận tụy với quê
hương, với sáng tạo thi ca và những giá trị nhân văn, nay khép lại trong niềm
tiếc thương vô hạn. Những ai từng gặp Lâm Xuân Vi, hay có đôi lần chạm vào
những câu chữ chân tình giàu cảm xúc, đều cảm nhận rõ một giọng thơ giàu ân
nghĩa, chan chứa niềm tin yêu. Giờ đây nhà thơ đã ra đi “chầm chậm”, như chính
tên một tập thơ của ông, “Chầm chậm sang thu” (NXB Hội Nhà văn, 2005), để lại
phía sau những dải phù sa ân tình còn ấm hơi người.
Sinh ngày 21/11/1941 tại
vùng quê Tùy Hối, Gia Tân, Gia Viễn (Ninh Bình), nhà thơ Lâm Xuân Vi mang trong
mình cốt cách của người con đồng đất, lớn lên cùng nhịp chảy sông nước, thời vụ
gieo cấy, mùa màng. Là kỹ sư thủy lợi, ông gắn bó cả đời với những công trình,
với dòng chảy, với việc đắp đập, be bờ, nạo vét kênh mương, khơi thông dòng
dẫn, giữ nước, tiêu úng, chống hạn...; và cũng từ đó, ông lặng lẽ vun đắp một
dòng chảy khác – dòng chảy thi ca, bồi đắp tâm hồn con người bằng những lớp
“phù sa” ân tình và bền lâu như chính đất đai ông đã suốt đời gìn giữ.
Hành trình sáng tác của
ông trải dài qua nhiều tập thơ: từ “Mưa nắng sông quê”, “Nắng ngày xa”, “Muộn
mằn”, “Trăng riêng”, đến “Lời cỏ may”, “Lục bát đi tìm”, “Sau phía cơn mưa”,
“Nẻo vòng tìm yêu”, “Chầm chậm sang thu”, “Phúc nhà”… Mỗi tập thơ là một chặng
lắng đọng tâm hồn, nơi ông gửi gắm những suy tư về con người, đời sống, về
những điều tưởng như nhỏ bé mà thấm sâu.
Từ những lắng đọng âm
thầm ấy, thơ ông dần tìm được sự đồng cảm và ghi nhận trong đời sống văn
chương. Những giải thưởng văn học ông nhận được qua nhiều năm tháng, từ giải
Nhì thơ Hà Nam Ninh (1987–1988), giải A thơ Ninh Bình (1995), đến các giải
thưởng của văn học Trương Hán Siêu và Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam
cho các tập “Trăng riêng”, “Lời cỏ may”, “Sau phía cơn mưa”, minh chứng cho hành
trình sáng tạo cần mẫn, tích tụ nội lực.
Điều cốt lõi trong thơ
Lâm Xuân Vi, trước hết, nằm ở tình yêu con người và niềm tin bền vững vào điều
thiện lành. Thơ ông hướng về những số phận mong manh, thua thiệt trong đời
sống, luôn được soi chiếu và nâng đỡ bởi tinh thần nhân ái, bao dung. Triết lý
sống ấy được gửi gắm giản dị qua những câu thơ: “Hồn thơ giản dị khiêm nhường/ Bứt từ gan ruột máu xương từng lời/ Nỗi
niềm thổn thức thơ tôi/ Bớt đi câu chữ dong chơi vô hồn/ Bớt phù phiếm, bớt phô
trương/ Biết chia sẻ với đời thường đơn đau”. Người đọc bắt gặp một thái độ
sống, biết giữ mình trước những xô lệch của cuộc đời, luôn hướng về sự cảm
thông và sẻ chia. Tác giả tự nhắc nhở về trách nhiệm của người cầm bút trước
những thử thách. Thơ ca trở về với bản chất nguyên sơ, là tiếng nói trung thực
của nội tâm, được chắt lọc qua trải nghiệm và những dằn vặt.
Quê hương, nguồn cội là
mạch chảy xuyên suốt toàn bộ sáng tác của Lâm Xuân Vi. Những bãi bồi, thủy
triều, cánh đồng… hiện lên cụ thể, mang ý nghĩa biểu trưng. Ông viết về quê
hương bằng tất cả sự gắn bó máu thịt, như cách gìn giữ ký ức và trả nghĩa với
nơi đã nuôi dưỡng cả đời sống lẫn tâm hồn mình: “Quê xưa xoáy lũ quặn lòng/ Kiếp phù du
cuốn theo dòng nổi trôi”; “Mỹ nhân, Ngọc Mỹ nhân ơi/ Tim em thổn thức
chi lời lặng câm/ Dẫu ngàn năm, dẫu triệu năm/ Càng tươi non với phút lòng mình
yêu”; “Bể dâu ngàn vạn nẻo vòng/ Nẻo nào cũng một nẻo trong tim mình...”. Những
câu thơ ấy mở ra không gian cảm thức, nơi thời gian và biến động đời người
không ngừng xoáy chuyển, nhưng vẫn quy tụ về điểm tựa tinh thần bền chắc. Ở đó,
quá khứ và hiện tại, riêng tư và phổ quát, hòa vào nhau trong dòng chảy liên
tục, gợi nên ý thức về sự mong manh của kiếp người, đồng thời khơi dậy khát
vọng níu giữ những giá trị không dễ phai mờ. Mạch thơ giàu dư âm lắng đọng,
khiến hình ảnh và cảm xúc lan xa trong cảm nhận người đọc. Chính từ độ mở ấy,
thơ không chỉ là ký ức hay hoài niệm, mà trở thành không gian để con người đối
diện với những biến thiên của đời sống và nhận ra điểm hội tụ sâu kín trong
chính mình.
Từ nền cảm thức ấy, mạch
thơ dần lắng lại trong những rung động gần gũi, nơi hình ảnh con người thân
thuộc hiện lên với tất cả dấu vết của thời gian và sự nhọc nhằn. Nổi bật trong
đó là hình ảnh người mẹ tảo tần, âm thầm hy sinh, biểu tượng kết tinh của quê
hương và nguồn cội. “Lưng còng lệch dáng
mẹ đi/ Thơ đành thất luật mỗi khi trở trời...”; “Yêu
đồng chiêm đến tàn hơi/ Trở về đất lại đắp bồi đồng chiêm”. Những trải nghiệm riêng tư được nâng lên thành
chiều kích tinh thần bền vững, nơi ký ức, tình cảm và đạo lý gặp nhau trong một
điểm lắng sâu. Nhịp điệu câu thơ như chùng xuống, tạo khoảng lặng để người đọc
tự lắng nghe những chuyển động tế vi của ký ức và thời gian.
Thơ Lâm Xuân Vi mang
giọng điệu chậm rãi, trầm lắng, giàu suy tư. Ông có sở trường trong thể lục
bát, nhưng không dừng lại ở khuôn thức quen thuộc, mà luôn tìm cách làm mới
bằng nhịp điệu linh hoạt và cách tổ chức câu thơ giàu nội lực. “Sum suê cảnh sắc vườn nhà/ Phúc trời lộc
đất ngày qua độ ngày”; “Hiển linh tự cội nguồn xa/ Rưng rưng dội mạch tim ta
máu hồng”. Nhịp thơ ấy như nhịp sống và sáng tạo ông đã chọn, trầm tĩnh mà
thấm sâu.
Hình ảnh thơ của ông giàu
tính biểu tượng, đặc biệt là hình ảnh dòng sông – một ẩn dụ xuyên suốt cho sự
bồi đắp và tiếp nối. “Biết mai này ai còn
với ta không/ Để ngẫm ngợi chầm chậm chiều thu đến/ Tìm tán phượng xanh soi kỷ
niệm/ Vì cội nguồn dâng hiến – sông trôi”. Dòng chảy ấy gợi cách lưu dấu, ở
lại trong những gì đã trao gửi, vun đắp, lặng lẽ dâng hiến cho đời. “Anh tìm về bản
Lác/ không chỉ để nghe sông Mã hát/ khúc độc hành/ còn đắm vào hoài vọng/ về
một thời em dâng hiến tuổi xanh”. Hình
tượng dòng sông tiếp tục được triển khai như một trục liên kết giữa ký ức và
hiện tại, giữa cái đã qua và cái còn lại. Dòng chảy ấy chuyên chở những lớp
nghĩa lắng sâu của đời sống, nơi mỗi trải nghiệm đều được bồi tụ và lưu giữ
theo cách riêng. Trong chiều kích ấy, hành trình tìm về trở thành sự hòa nhập
vào dòng chảy liên tục của ký ức, nơi con người nhận ra những gì tưởng đã xa
vẫn âm thầm hiện diện, như phù sa lắng lại qua năm tháng. Dòng sông, vì thế
không chỉ là không gian của hoài niệm, mà còn là biểu tượng của sự tiếp nối,
những dâng hiến không mất đi, mà chuyển hóa, xôm tụ.
Nhà thơ Lâm Xuân Vi đã
mang “phù sa” của một đời sống tận tụy và tâm hồn nhân hậu về cõi không mùa.
Những gì ông để lại, những vần thơ thấm sâu, giàu cảm xúc vẫn tiếp tục bồi đắp
cho đời sống tinh thần của người đọc, như những bãi bồi âm thầm mở rộng theo
năm tháng, nuôi dưỡng ký ức và tình người. “Hồn thơ chìm nổi khổ đau/ Càng cao nhân ái càng giàu bao
dung”; “Hồn thơ cứu cánh cho anh/ Lợi danh, ghen ghét, giật giành mặc ai”. Giọng điệu thơ đã đạt tới độ chưng cất, nơi trải
nghiệm đời sống được chuyển hóa thành nhận thức tinh thần mang tính định hướng.
Thơ trở thành một cách tự xác lập vị thế của con người trước những xao động và
cám dỗ. Từ điểm nhìn ấy, thi ca hiện ra như lực nâng nội tâm, giúp con người
giữ được sự quân bình, vượt qua những va đập thường nhật để hướng tới những giá
trị bền vững hơn.
Với những ai từng gặp gỡ,
nhà thơ Lâm Xuân Vi luôn để lại ấn tượng về một tâm hồn quảng bác và nhân hậu.
Ông sống chân thành, giản dị, luôn biết lắng nghe và sẻ chia. Nụ cười hiền hậu
cùng giọng nói ấm áp của ông dường như vẫn còn đây, trở thành miền ký ức không
thể phai mờ trong lòng bạn bè, đồng nghiệp. Ở ông, thơ và người thơ hòa quyện
từ trái tim chan chứa yêu thương, lặng lẽ nâng đỡ những phận đời nhỏ bé. Dẫu đã
đi xa, nguồn sáng ấy vẫn âm thầm lan tỏa, sưởi ấm lòng người.
Xin cúi đầu bái biệt vị thi sĩ của lòng nhân hậu. Ở
miền mây trắng thong dong, tin rằng ông vẫn đang tiếp tục cuộc hành trình bồi
đắp phù sa cho cõi nhân gian, lặng lẽ và bền bỉ như chính cuộc đời và tâm hồn
thơ ca ông để lại.
Ninh
Bình, 31/3/2026
M.V.P