"Nhịp điệu vẽ lối đi" - Dmitry Burago thực hiện phỏng vấn / В ритмах путь проявляется - Беседовал Дмитрий Бураго

NHỊP ĐIỆU VẼ LỐI ĐI

(Trả lời nhà thơ Dmitry Burago - Biên tập viên tạp chí «Эмигрантская лира*»)

 

 

Фото Бураго

Nhà thơ Dmitry Burago

 

 

 

- Dmitry Burago (D.B): Ngày nay, nhờ có Internet, con người có nhiều cơ hội giao tiếp và thu nhận thông tin. Và chúng ta đã từng quen nhau qua mạng. Tôi cũng đã dịch một số bài thơ của ông và đăng trên tạp chí Kiev "Collegium". Đó là một công việc thú vị, bởi trong khi làm việc với những bài thơ của ông, tôi đã nhiều lần bị thuyết phục rằng, phép ẩn dụ đã vượt qua rào cản ngôn ngữ và hợp nhất chúng ta trong thực thể thi ca. Thực tế này sâu sắc hơn, lớn hơn và đáng tin cậy hơn mô hình thông tin hiện nay. Xin ông vui lòng chia sẻ với chúng tôi ý nghĩa của ngôn ngữ thơ ca. Ẩn dụ, hình thức và âm hưởng quan trọng như thế nào đối với thơ đương đại?

 

- Mai Văn Phấn (M.V.P): Thưa nhà thơ Dmitry Burago! Cảm ơn ông đã mở đầu cuộc trò chuyện bằng câu hỏi gợi mở, rất thú vị. Tôi đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ bạn đọc qua bản dịch tiếng Nga của ông. Trong bản dịch ấy, đúng là ông đã trung thành với phép ẩn dụ, hình thức và âm hưởng từng câu thơ trong nguyên tác của tôi. Tôi quan niệm, thơ là ánh sáng khai thị cho con người bằng nghệ thuật ngôn từ, làm hiển lộ cái đẹp phản chiếu tâm hồn nhà thơ, tạo lập một không gian mới, cõi sống khác. Vậy đ tạo được ánh sáng đặc biệt ấy, thì phép ẩn dụ, hình thức và âm hưởng là một trong những thủ pháp quan trọng giúp nhà thơ kiến tạo được không gian nghệ thuật của riêng mình. Nghệ thuật tạo dựng không gian, theo tôi, là điều cơ bản nhất đ phân biệt sự khác nhau giữa thơ hiện đại với thơ cận đại và trước đó. Ví như trong toán học, thì thơ hiện đại tựa như hình học không gian, còn thơ trước đây là hình học phẳng. Trong không gian hiện đại ấy, những khoảng không lập phương được nối thông, đan cài, soi chiếu cho nhau, tạo nên những chuyển động đa chiều, đa tuyến tính. Nó kết nối các chiều thời gian, làm cho quá khứ, hiện tại và tương lai cùng đồng hiện. Do vậy, phép ẩn dụ, hình thức và âm hưởng được ví như những cửa ngõ dẫn dắt người đọc vào không gian của nhà thơ. Người đọc khi ấy là người đồng sáng tạo với nhà thơ, được bình đẳng và tự do tiếp cận với bài thơ và đi theo tưởng tượng và cảm xúc của riêng họ. Điều mà ông vừa nhắc về mô hình thông tin của hiện tại không thể sinh động và thấm sâu vào tâm hồn con người bằng một không gian thơ với cường đ ánh sáng đ mạnh dẫn dụ họ.

 

- D.B: Tác phẩm của đại thi hào Nguyễn Du và A. S. Pushkin vẫn là âm thoa nghệ thuật và chuẩn mực đạo đức cho hai dân tộc Nga và Việt. Có những tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam bằng tiếng Nga, nhưng công việc nghiên cứu và dịch thuật lớn lao vẫn phía trước, đ hé lộ cho độc giả hai nước một thế giới nghệ thuật Việt Nam. Xin ông cho biết số phận của văn học Nga tại Việt Nam?

 

- M.V.P: Đại thi hào A.S. Pushkin luôn là thần tượng của bạn đọc Việt Nam xưa và nay. Nhiều bài thơ ca ngợi tình yêu và thiên nhiên của ông được truyền tụng qua nhiều thế hệ. Bài thơ "Tôi yêu em" (Я вас любил) của ông nằm trong sổ tay của hầu hết những người yêu thơ, và từng có mặt trong sách Văn học lớp 11 phổ thông. Nhưng rất tiếc, đại thi hào Nguyễn Du của chúng tôi cũng như các tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam chưa đến được với đông đảo bạn đọc nói tiếng Nga. Trở ngại lớn nhất có lẽ vẫn là rào cản ngôn ngữ. Cũng đã có một số dịch giả cả Nga và Việt Nam dành thời gian và tâm huyết cho việc dịch thuật và quảng bá văn học Việt Nam sang các ngôn ngữ khác, trong đó có tiếng Nga. Nhưng việc ấy mới mang tính tự phát và chưa có hệ thống lâu bền. Việc này rất cần một kế hoạch chiến lược do nhà nước tài trợ, bảo lãnh. Ngược lại, văn học Nga vào Việt Nam rất sớm. Những tác phẩm quan trọng của các nhà văn Nga, Ucraina, Belarus và các nhà văn vùng trung Á đều đã được dịch sang tiếng Việt.

 

- D.B: Ông có biết về các nhà văn Nga sống Việt Nam không? Được biết rằng, chính tại ngã ba của các nền văn hóa, đôi khi những hiện tượng quan trọng nảy sinh. Người Nga tham gia vào văn học truyền thống bản địa thế nào?

 

- M.V.P: Các nhà văn, nhà thơ Nga hầu như không định cư lâu dài tại Việt Nam, nhưng từ thế kỷ 19 họ đã đến đất nước chúng tôi. Người đến Việt Nam sớm nhất là nhà văn Konstantin Mikhailovich Stanyukovich (1843-1903). Ông là nhà văn Nga theo khuynh hướng dân chủ, viết tiểu thuyết, làm báo... Ông đã đ lại một di sản văn chương khá đ sộ: 12 tuyển tập. Đóng góp lớn nhất của ông trong văn học có lẽ là những tác phẩm viết về biển. Năm 1860, trong cuộc hành trình vòng quanh thế giới trên một chiếm hạm Nga, ông đã đến thành phố Sài Gòn (nay là TP Hồ Chí Minh), khi thực dân Pháp vừa đặt ách cai trị đây. Trong cuốn sáchVòng quanh thế giới trên tàu Korsun” - NXBPravda”, M.1997), Stanyukovich đã dành 1 chương viết về Sài Gòn, nơi được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn đông". Đó là tác phẩm văn học có giá trị, rất sinh động và hấp dẫn; đồng thời cũng là tư liệu lịch sử, tư liệu văn hóa rất quý giá.

 

 

Từ những năm đầu của thế kỷ 20, nhiều nhà văn Nga-Xô Viết có mối quan hệ thân thiết, gắn bó với Việt Nam. Tác phẩm của họ đóng góp quan trọng vào đời sống tinh thần của Việt Nam. Trong số ấy, nổi bật nhất là nhà phê bình văn học, giáo sư Nikolai Ivanovich Nikulin (1931-2005). Năm 1961, ông bảo vệ luận án tiến sĩ về tác phẩm của đại thi hào Nguyễn Du (1765-1820) của Việt Nam. Ông đã đ lại cho bạn đọc Việt Nam nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, văn học rất quý giá.

 

Trong những năm qua, nhiều nhà văn, nhà thơ Nga đã đến đất nước chúng tôi dự các hội thảo và lễ hội văn học. Họ đã có những chuyến đi xuyên Việt, viết về con người, lịch sử và vẻ đẹp Việt Nam. Tôi có thể kể tên các nhà thơ tài năng là bạn thân của tôi, như Svetlana Savitskaya, Vadim Terekhin, Ruslan Pivovarov, Svetlana Melnikova-Pivovarova, Evgeny Chigrin.. Đặc biệt, nữ thi sĩ Svetlana Savitskaya đã viết tập thơ "Если в дороге... дождь... / Nếu trên đườngmưa" dành riêng cho Việt Nam, xuất bản bằng hai thứ tiếng Nga và Việt (do Nhà xuất bản Học viện N.E. Zhukovsky, Мax-cơ-va ấn hành năm 2021). Svetlana luôn dành trọn vẹn trái tim mình cho Việt Nam bằng tình yêu nồng nhiệt không biên giới. Tôi nhớ trong bài thơ có tênViệt Namchị đã viết:

 

Hãy hấp thụ như nhận giấc mơ

Mọi minh khí trời đất

Hãy cho chúng tôi

Bật tung nội lực.

Việt Nam!”

 

- D.B: Chúng ta tồn tại trong một mô hình cuộc sống không thể đoán trước về các sự kiện hàng ngày và thiên tai. Không chỉ tương lai, mà cả quá khứ cũng trở nên khó lường. Dường như nguyên tắc mới lạ trong nghệ thuật cuối cùng đã thay thế cả đạo đức và thẩm mỹ. Vai trò của nhà thơ trong xã hội đang thay đổi, và đôi khi anh ta biến từ một người khám phá ra những ý nghĩa mới thành một con chim nhại trên các trang mạng xã hội. Ngày càng có ít người đọc thơ, điều này được minh họa bởi nhiều lễ hội thơ nơi các nhà thơ tụ tập, giống như hội của những người chơi tem thư, trong khi tem bưu chính gần như rất ít sử dụng. Tình trạng này có khắc phục được không và có nên khắc phục không?

 

- M.V.P: Điều ông vừa nêu, theo tôi là quy luật phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại. Những biến động dữ dội và khó lường của thế giới hiện nay không còn là "Cú sốc tương lai", hay "sự thay đổi áp đảo con người" như Alvin Toffler đã từng viết, mà là cú sốc hiện tại diễn ra bất ngờ, gây hoang mang, thách thức đời sống nhân loại, trong đó có những người sáng tạo. Môi trường dành cho thơ, cũng như vai trò của nhà thơ trong xã hội đang thay đổi. Trước kia hoạt động thơ diễn ra trên quảng trường, đường phố, trong các nhà máy, công trường, cả trong sinh hoạt thường nhật của gia đình, cộng đồng... thì bây giờ nó diễn ra trong hội trường, thậm chí trong phòng hẹp. Nhưng chính vì những hoạt động mang tính đại chúng trước đây nên đã xuất hiện rất nhiều những nhà thơ nghiệp dư, làm mất thì giờ của bạn đọc. Nhưng những thay đổi của đời sống hiện đại đã loại bỏ bớt những cây bút nghiệp dư. Hiện nay, độc giả cũng được tinh tuyển hơn, chúng tôi thường gọi họ là tầng lớp bạn đọc tinh hoa. Và, dĩ nhiên, những nhà thơ tài năng, đích thực vẫn luôn có vị trí xứng đáng dù bất kể trong hoàn cảnh nào. Trước những thách thức của đời sống hiện đại, mỗi nhà thơ muốn tồn tại, có vị trí xứng đáng trong lòng bạn đọc, dĩ nhiên phải luôn tự hoàn thiện mình, tự rèn luyện để vươn tới tính chuyên nghiệp trong sáng tạo.

 

- D.B: Chiến tranh. Một từ buồn thảm này xuyên suốt toàn bộ lịch sử nhân loại. Từ sử thi cổ đại chuyển sang thời gian riêng tư của đời người. Trong nhiều thập kỷ, từ chiến tranh đã được liên kết với tên gọi của đất nước bạn. Nhưng Việt Nam cũng trở thành một biểu tượng vượt qua chiến tranh, một tác nhân kích thích mạnh mẽ cho sự phát triển của nghệ thuật trong 1/4 thế kỷ trước. Làm thế nào để những người trẻ ngày nay nhận thức được một trong những cuộc chiến khủng khiếp nhất - chiến tranh ở Việt Nam, vào thời điểm mà vũ khí và cái chết đã trở nên phổ biến trong không gian thông tin ngày nay?

 

- M.V.P: Các cuộc chiến tranh đã xuất hiện ngay từ buổi đầu Việt Nam dựng nước, bao gồm các cuộc chiến tranh với các quốc gia bên ngoài, với các nước láng giềng, các cuộc nội chiến và các cuộc nội chiến có sự can thiệp từ bên ngoài. Và, thế kỷ 20 là thế kỷ đẫm máu nhất trong lịch sử dân tộc Việt. Chúng tôi đã lần lượt chiến đấu với ba kẻ thù xâm lược có thế lực quân sự và kinh tế hùng mạnh gấp bội, đầu tiên là với thực dân Pháp, đến đế quốc Mĩ, sau đó với bành trướng Trung Quốc. Bi thương nhất là cuộc chiến tranh với Mĩ, gần 5 triệu người Việt cả hai phía đã chết, một nửa diện tích rừng Việt Nam bị phá hủy, hàng vạn nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam mà di chứng vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến tận hôm nay.  Chúng tôi đã mất đi cả những giá trị vô giá không thể nhìn thấy. Một nền văn học viết về chiến tranh đã song hành cùng với dân tộc chúng tôi và hiện nay nó tiếp tục được khai thác. Chiến tranh vẫn là đề tài lớn với nhiều ý nghĩa đối với các nhà văn Việt Nam, trong đó có cả những nhà văn trẻ được sinh ra trong thời bình. Người Việt Nam chúng tôi đã hiểu rõ sự khắc nghiệt và sự vô nghĩa của những cuộc chiến.

 

- D.B: Hơn bao giờ hết, sự quan tâm trong xã hội đối với nghệ thuật và truyền thống văn hóa đã giảm. Các xu hướng hiện đại trong việc phi nhân hóa lịch sử và văn hóa đã ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam ở mức độ nào?

 

- M.V.P: Xã hội phát triển luôn song hành với đời sống văn hóa và dân trí được nâng cao và ngược lại. Khi con người ý thức được quyền bình đẳng, quyền tự do, thì họ dám đấu tranh cho lẽ phải, cho chân lý, cho sự công bằng. Khi ấy, những hành động phi nhân hóa, như phủ nhận quyền con người, tước bỏ quyền tự do, hạnh phúc của con người sẽ bị lên án, phế bỏ. Việt Nam đang hòa nhập với thế giới trong mọi lĩnh vực, trong đó có nhân quyền.

 

- D.B: Có một quan điểm khá phổ biến rằng, các công nghệ trí tuệ nhân tạo có thể sớm thay thế con người trong lĩnh vực nhân đạo. Thậm chí ngày nay, các hãng tin đang ngày càng chuyển sang các công nghệ này. Liệu thơ ca có vượt qua được thử thách này? Chẳng phải một người suy nghĩ, tưởng tượng và đặt tên cho các sinh vật và hiện tượng sẽ đi vào lịch sử sao?

 

- M.V.P: Công nghệ trí tuệ nhân tạo do con người tạo ra, theo tôi, nó thuộc về quá khứ, là kho dữ liệu, là trí nhớ, đúng hơn là nơi chứa đựng khá đầy đủ ký ức của con người. Đó cũng là vùng ký ức sống động và linh hoạt của con người. Nó nhắc nhở con người về vai trò của ký ức, một ký ức luôn song hành cùng hiện tại, không phải ký ức chết. Còn những bài thơ của chúng ta xuất hiện không gian và thời gian khác. Thơ ca luôn thì tương lai, tức nó sẽ xuất hiện trước khi công nghệ trí tuệ nhân tạo có thể ập đến và chi phối nó.

 

- D.B: Câu hỏi này rất quan trọng đối với cá nhân tôi. Ông là một tác giả đã đạt được thành công trong nghệ thuật ngôn từ. Vậy ông có học trò không?

 

- M.V.P: Vâng, tôi cũng được một số bạn đọc yêu tin, hâm mộ, phần nhiều là những người trẻ. Một vài người trong số họ có lẽ trong lúc cao hứng đã xưng là "học trò" với tôi. Nhưng tôi đã chân thành nói với họ rằng, họ và tôi thuộc hai thế hệ khác nhau, mỗi thế hệ phải tìm được tiếng nói cho riêng mình. Tôi mong ước thế hệ sau không phải tiếp nối mà biết phủ định thế hệ đi trước. Như chính tôi đây cũng đang muốn phủ định những gì thuộc về tôi ngày hôm qua đ tạo ra những giá trị mới và khác.

 

- D.B: Xin chúc ông tiếp tục hành trình dài sáng tạo và khám phá những giá trị mới cho thơ. Theo truyền thống của tạp chí «Эмигрантская лира», chúng ta kết thúc cuộc trò chuyện này bằng bài thơ của ông:

 

 

NHỊP ĐIỆU VẼ LỐI ĐI

 

Khuấy động trí nhớ

Nơi bóng râm chôn chặt bóng râm

Và mục nát khát cơn hỏa hoạn

Bước mộng du các vì sao

Còn đó sương thưa bập bõm.

 

Lá đắng trườn qua than bỏng

Trong hơi thở lá thông khâm liệm quả thông

Ai đang cất hành trang khăn gói.

 

Bóng đen nép vào cổ vật

Còn run sợ lúc gọi tên

Nước mắt nhòe mờ niên đại.

 

Trong vận động phi lý của đất

Sấp mình nâng đỡ con đê

Làn khói trắng cuộn lên

Thác đổ từ tầng lá rụng.

 

Huyệt sâu mở trong ngực

Hiện lên đại lộ vòng quanh

Bê bết dính bao mái nhà lộn ngược

Vết ố tường vôi mạng nhện giăng

Âm ỉ bên trong tiếng gõ

Hối thúc chạy về cánh cửa.

 

© Mai Văn Phấn

Dmitry Burago đã dịch bài thơ từ tiếng Anh sang tiếng Nga

 

 

_____________

* Эмигрантская лира (tạm dịch: Đồng Lira di cư) - Tạp chí thơ hiện đại của người nói tiếng Nga ở hải ngoại, được bảo vệ bởi hiệp hội phi lợi nhuận cùng tên (Bỉ). Tạp chí dành cho tất cả các tác giả nói tiếng Nga, bất kể nơi cư trú của họ. Tạp chí được xuất bản mỗi quý một lần.

 

 

 

ĐÔI DÒNG VỀ DMITRY BURAGO

 

Nhà thơ Dmitry Burago, đồng thời là nhà xuất bản, nhà kinh doanh văn hóa. Ông sinh năm 1968 tại Kiev. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn của Học viện Sư phạm Kiev. Hiện sống ở Kiev, Ucraina. Tác phẩm của ông đã đăng trên các tạp chí "Lục địa", "Ngày thơ", "Cầu vồng", "Tổ ong", "Ngày thánh George", "Những đứa trẻ của Ra", "Nghệ thuật tương lai" và những tạp chí khác. Tác giả của 8 tập thơ. Người tổ chức hội thảo khoa học quốc tế thường niên “Ngôn ngữ và văn hóa” mang tên giáo sư S.B. Burago. Ông là người sáng lập Nhà Xuất bản Văn học Khoa học và Viễn tưởng hiện đại (Nhà xuất bản Dmitry Burago), tạp chí Collegium, tạp chí nghệ thuật «Соты» (tạm dịch: Tổ ong), bộ sách «И свет во сне светит, / И тьма не объяла его» (tạm dịch: Và ánh sáng tỏa rạng trong mơ, / Và bóng tối không bao bọc nó). Ông thường xuyên tổ chức các cuộc đối thoại hàng tháng trên tạp chí "Sân khấu", "Collegium" tại CLB Nghệ sĩ, tích cực tổ chức các sự kiện ở Ukraina và nước ngoài. Thành viên của Hội Nhà văn quốc gia Ukraina. Ông từng đoạt Giải thưởng Văn học mang tên L. Vysheslavsky (2007), Giải thưởng N. Ushakov (2008), Giải thưởng Quốc tế Arseny và Andrey Tarkovsky (2011), Giải thưởng văn học Kiriyenko-Voloshin (2018).

 

 

 

Художник номера - Кристоф Жан Мишель «Фофа» Рабеаривелу

 

 

 

В РИТМАХ ПУТЬ ПРОЯВЛЯЕТСЯ

(Беседовал Дмитрий Бураго - Редактор отдела «Интервью» журнала «Эмигрантская лира*»)

 

 

 

Май Ван Фан. Родился в 1955 году в дельте Красной реки, в северной части Вьетнама. Во Вьетнаме опубликовал шестнадцать поэтических сборников и книгу критических очерков. Двадцать девять из его поэтических книг изданы в зарубежных странах. Стихи Май Ван Фана переведены более чем на сорок языков. Обладатель ряда вьетнамских и международных литературных премий: лауреат престижной премии «Ассоциация писателей Вьетнама» (2010); литературной премии Швеции Cikada (2017); премии Сербской академии наук и искусств (2019)

 

- Дмитрий Бураго (Д.Б): Сегодня, благодаря интернету, появилось множество возможностей для общения и обретения информации. И мы с Вами познакомились в своё время в сети. Некоторые Ваши поэтические произведения были опубликованы в киевском журнале «Collegium» в моих переводах. Это был радостный труд, потому что, работая над Вашими стихами, я ещё и ещё раз убеждался, что метафора, преодолевая языковые барьеры, объединяет нас в поэтической реальности. И эта реальность глубже, больше и достовернее информационной парадигмы настоящего времени. Поделитесь пожалуйста с нами Вашим видением смыслов поэтической речи. Насколько важна метафора, форма и звукопись для современной поэзии?

 

- Май Ван Фан (М.В.Ф): Большое спасибо, Вы начинаете разговор с провокационного вопроса, очень интересно. Я получил много положительных откликов от читателей благодаря вашему русскому переводу. В этом переводе Вы действительно были верены метафоре, форме и звукописи каждого стиха моего оригинала. Я считаю, что поэзия – это свет, просвещающий людей искусством слова, раскрывающий красоту, в которой отражается душа поэта, свет, создающий новое пространство и другую жизнь. Таким образом, чтобы создать этот особый свет, метафора, форма и звукопись являются одним из важных приемов, помогающих поэтам создавать собственное художественное пространство. Искусство создания этого пространства, на мой взгляд, является основным условием для творчества. Например, в математике современная поэзия подобна пространственной геометрии, а более ранняя поэзия планарной геометрии. В современном поэтическом мире кубические пространства соединяются, переплетаются и отражают друг друга, создавая многомерные и многолинейные движения. Соединяются временные измерения, делая прошлое, настоящее и будущее со-настоящим. Поэтому метафора, форма и звукопись уподобляются воротам, ведущим читателя в пространство поэта. Тогда читатели становятся сотворцами вместе с ним, с равным и свободным доступом к стихотворению и следуют своему воображению и чувствам. То, что только упомянуто в информационной парадигме настоящего времени, может быть одушевлено и проникать глубоко в человеческую душу благодаря поэтическим пространствам с интенсивностью света, достаточно сильным, чтобы соблазнить действительность к перевоплощению.

 

- Д.Б: Творчество великих поэтов Нгуен Зу и А.С. Пушкина остаётся для наших народов художественным и этическим камертоном. Произведения классической вьетнамской литературы существуют на русском языке, но впереди большой переводческий и исследовательский труд для раскрытия для нашего читателя вьетнамского художественного мира. Расскажите пожалуйста о судьбе русской литературы во Вьетнаме?

 

- М.В.Ф: Великий поэт А.С. Пушкин всегда был кумиром вьетнамских читателей от прошлого до настоящего. Многие из его стихов, восхваляющих любовь и природу, передавались из поколения в поколение. Его стихотворение "Я вас любил" есть в тетрадях большинства любителей поэзии и раньше появлялось в литературной книге 11 класса в средней школе. Но, к сожалению, наш великий поэт Нгуен Зу равно как и классические произведения вьетнамской литературы еще не дошли до большого числа русскоязычных читателей. Самым большим препятствием по-прежнему остается языковой барьер. Также было несколько русских и вьетнамских переводчиков, которые посвятили свое время и энергию переводу и продвижению вьетнамской литературы на другие языки, включая русский язык. Но это было стихийно и неустойчиво. Для этой работы требуется стратегический план, который будет поддержан на государственном уровне. Напротив, русская литература проникла во Вьетнам очень рано. Важные произведения русских, украинских, белорусских и среднеазиатских писателей были переведены на вьетнамский язык.

 

В годы войны литература СССР (бывшего Советского Союза), включая русскую классику, занимала важное место в литературной жизни Вьетнама. Для юных читателей такие книги, как «Приключения Незнайки и его друзей» и «Витя Малеев в школе и дома» Николая Носова с иллюстрациями художника Алексея Лаптева «Доктор Айболит» Корнея Чуковского, «Золотой ключик» Алексея Толстого, «Стари́к Хотта́быч» Лазаря Лагина, «Тимур и его команда» Аркадия Гайдара - способствовали воспитанию душ вьетнамских детей на протяжении 1970-1980 годов и продолжают это делать до сих пор. После распада Советского Союза, связь между вьетнамской и русскоязычной литературой на какое-то время была прервана, но за последние 10 лет литература на русском языке вернулась к нам. Например, в 2016, 2017 и 2018 годах произведения русских писателей были тепло встречены вьетнамскими читателями. Это такие книги как «Дневник свекрови» и «Верный муж» Марии Метлицкой, «Рождение» Алексея Варламова. Российское правительство спонсировало перевод и издание книг во Вьетнаме - таких как сборник «Опыт любви», который включает в себя 6 произведений, удостоенных Госпремии Российской Федерации в области литературы и искусства за последние 10 лет, сборник рассказов «Крылья», опубликованный в 2017 году, роман «Хуррамабад» Андрея Волоса, получивший Государственную премию Российской Федерации, повесть «Дочь Ивана, мать Ивана» Валентина Распутина - одного из великих писателей современной русской литературы, и так далее.

 

- Д.Б: Знаете ли Вы о русских писателях, живущих во Вьетнаме? Известно, что именно на стыке культур возникают порой значительные явления. Насколько русские вовлечены в местную литературную традицию.

 

- М.В.Ф: Русские писатели, поэты почти не селились во Вьетнаме надолго, но с XIX века они приезжали в нашу страну. Первым человеком, посетившим Вьетнам, был писатель Константин Михайлович Станюкович  (1843-1903). Он оставил после себя достаточно большое литературное наследие и уникальными являются его произведения о море. В 1860 году, совершая кругосветное плавание на русском военном корабле, он прибыл в наш город Сайгон (ныне город Хошимин), когда французские колонизаторы только обосновались здесь. В книге "Вокруг света на "Коршуне" (Издательство "Правда", М.1997), Станюкович посвятил главу Сайгону - прозванному "Жемчужиной Дальнего Востока". Это ценное, очень живое и привлекательное литературное произведение; В то же время это еще и очень ценный историко-культурный документ.

 

С первых лет 20 века многие русско-советские писатели были тесно связаны с Вьетнамом. Их работа вносит важный вклад в духовную жизнь здесь. Среди них наиболее известен литературовед, профессор Никола́й Ива́нович Нику́лин (1931-2005). В 1961 году он защитил докторскую диссертацию на тему Творчество великого поэта Нгуен Зу (1765-1820) Вьетнама. Он оставил вьетнамским читателям много ценных исторических, культурных и литературных исследований.

 

В разные годы многие русские писатели и поэты приезжали в