image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement





























Nơi bầy ong trở lại (truyện ngắn) – Mai Văn Phấn

Nơi bầy ong trở lại

(Truyện ngắn)

 

 

Mai Văn Phấn

 

Trằn trọc mãi đến gần sáng, Hưng thiếp đi trong giấc mơ nơi cánh đồng trải dài ngút ngát. Xác ong chất thành đống, dồn đến tận chân đê mới đắp. Những thân thể bé xíu, cánh nhàu nát, rỉ mật đen sẫm, đặc quánh như máu. Trên cao, đứa trẻ đeo mặt nạ một loại côn trùng dữ tợn, quay mặt ra biển. Gió lùa qua những lỗ nhỏ trên mặt nạ, vi vu như tiếng ong gọi nhau về tổ cũ...

Hưng bừng tỉnh giữa mùi đất mặn nồng và tiếng mái tôn lạch tạch trên đầu. Trước nhà, những cây sú vẹt non đang vươn lên từ lớp bùn vàng sậm màu phù sa. Đây là vùng đất mới bồi cuối làng Kim Trạch[1], ven đê quai lấn biển thuộc huyện Kim Sơn. Những cánh rừng sú vẹt non đang bám rễ, gồng mình chắn sóng để giữ lấy dải phù sa đang thành hình. Xưa kia, khi rừng còn dày, đây chính là vựa mật của làng, cứ đến mùa hoa nở là ong về chật bãi, nuôi sống cả trăm nhà. Anh châm điếu thuốc, lặng lẽ nhìn bầu trời đang rạng dần. Tiếng máy xúc từ công trường kè biển vọng về, chát chúa và đột ngột, như báo hiệu ngày mới nhiều biến động. Mai vẫn chưa về. Đêm qua, cô trực ở trạm kỹ thuật.

Hưng múc nước mưa trong chum sành rửa mặt. Nước mát lạnh táp vào da thịt, giúp anh dứt ra khỏi dư âm của giấc mơ đêm qua. Mùa này, đất chưa kịp ngọt lại đã phải đón những đợt thủy triều mới. Cánh thanh niên vừa ra quân trồng lại vạt rừng ven đê. Họ gọi đó là rừng kiểu mẫu, nhưng nhìn những hàng cây tăm tắp, đều chằn chặn như xếp hàng cắm xuống bùn lầy, Hưng cứ thấy nó thiếu cái sức sống tự nhiên của rừng cũ. Hưng chợt nhớ đến lời anh Toán, tổ trưởng kỹ thuật, vốn là thợ nề, mới đi tập huấn mười ngày trước khi triển khai dự án:

– Cần nhất là tốc độ cây sinh trưởng và mẫu chuẩn để báo cáo, không cần lo con ong.

Trạm kỹ thuật nằm chếch về hướng tây, ánh nắng buổi chiều đổ nghiêng lên những chồng hồ sơ bìa bọc nylon đã ố màu. Trong lúc đợi những hàng số chạy dài trên màn hình, Hưng lật lại chồng hồ sơ cũ. Anh giật mình trước những con số được tô vẽ cho tròn trịa, cho đẹp lòng cấp trên. Những con số đã bị chỉnh sửa để kịp ngày nghiệm thu, dù thực tế mặn chát đang ngấm dần dưới chân đê. Ngoài cửa, nắng đang lên. Tiếng ve rền rã như trùm kín cả bầu trời. Hưng tắt máy tính, bước nhanh ra phía bờ rừng.

Ông Bình đang ngồi tước tre dưới hiên nhà. Những thanh tre già được vót mảnh, đều tăm tắp, xếp thành từng bó nhỏ bên cạnh. Dáng ông gầy nhưng rắn rỏi, bàn tay thoăn thoắt không cần nhìn ngó. Ông là người đầu tiên được giao giữ rừng khi dự án mới bắt đầu. Suốt mấy năm, ông Bình dựng chòi giữa bãi bồi, ngày nào cũng lội bùn kiểm tra từng gốc sú, từng dấu chân lạ lọt vào rừng. Khi dự án chuyển sang tay đơn vị khác, ông lặng lẽ rút về thửa ruộng cũ, không nhận thêm trợ cấp. Thấy Hưng tới, ông ngước lên, ánh mắt rạng rỡ, chất phác:

– Hưng đấy à! Đến thăm rừng hay thăm ong đấy?

Hưng bước lên hiên, cười thân mật:

– Cháu đến thăm chú. Chú tước tre đều tay thật đấy. Cái này để đan lờ hả chú?

– Ừ, làm chơi cho vui thôi. Mắt còn thấy, tay còn làm.

Hưng ngồi xuống bên ông, tay xoay một thanh tre.

– Dạo này chú khỏe không? Nhà mình còn nuôi ong không ạ?

Ông Bình gật đầu, giọng trầm xuống:

– Cũng tạm gọi là khỏe, nhưng mà buồn. Từ ngày ong bỏ đi, không còn giọt mật nào đem ra chợ. Ruộng nhiễm mặn, rau không lên nổi. Mật ong vốn là sinh kế của cả làng này đấy cháu ạ.

Cơn gió biển lùa qua mái hiên, mang theo vị mặn quen thuộc. Hưng quay mặt nhìn ra bãi đất thấp:

– Rừng đang được trồng thêm, phủ lại dần mà chú. Thêm rừng, thêm hoa, ong rồi sẽ lại về thôi.

Ông Bình khẽ hắng giọng, rót nước chè từ cái siêu đen đáy vào hai chiếc bát sành đã ngả màu.

– Ôi dào, rừng cũ thì bị chặt, bị đào hết lên để làm đầm tôm, bơm cát lấp kín bãi. Trước đây cứ độ giữa xuân đến đầu hè là rừng trắng hoa, ong bay lấy mật như mây, thùng ong nào cũng cho đầy mật. Giờ trồng lại toàn giống sú chịu mặn, sống dai thì có, mà không có hoa. Không có hoa thì lấy gì mà giữ được ong?

Hưng im lặng, lòng nặng trĩu. Rừng cũ giờ chỉ còn trong ký ức, hoa không nở, dân làng không dám nuôi ong nữa.

Cuối chiều, Hưng rẽ vào chợ làng. Bà Lành đang gói cá khô cho khách, chiếc áo bà ba bạc màu ướt đẫm mồ hôi, dính sát lưng.

– Chào cậu kỹ sư! Lâu lắm mới thấy cậu.

Hưng cười, mua một gói cá nục, rồi ngập ngừng:

– Cháu nghe nói trước đây bà cũng nuôi nhiều ong, phải không ạ?

Bà Lành mỉm cười, khóe mắt nhăn lại.

– Trước nhà cũng nuôi khá nhiều. Vào mùa hoa sú vẹt, sáng ra ong bay đi hút mật rợp cả trời. Nhưng rồi rừng cũ mất dần, rừng mới trồng thì không ra hoa, ong bay đi cả, chẳng còn gì.

Ánh mắt Hưng lướt qua mớ hàng khô trên sạp của bà Lành. Chỉ thấy nồng nặc mùi mực cay, tôm nõn và những túi rong biển ép sẵn. Tuyệt nhiên không còn thấy bóng dáng những chai mật ong màu cánh gián, thứ từng làm nên cái hồn của chợ làng Kim Trạch này.

– Con gái bà vẫn ở trong Nam ạ?

– Ừ, nó đi làm công nhân. Nó bảo ở đây mà chết đói à. Ruộng không có, ong cũng không còn, chẳng giữ chân nó được.

Hưng muốn nói điều gì đó, nhưng cổ họng bỗng nghẹn lại.

Đêm ấy Hưng lại mơ, anh thấy mình lạc vào một tổ ong, nhưng không có ong, chỉ những lớp sáp xám lạnh, trống rỗng. Những bức tường phập phồng như lồng ngực hấp hối. Dòng chữ đỏ rực như máu hiện lên trên vách sáp báo điềm chẳng lành về cái chết của đất. Hưng thấy bà lão rút ra những sợi tơ mặn chát, mỗi sợi tơ là một con số nhảy múa, xoắn lấy nhau kể về nỗi đau của rừng, của nước đang lụi bại dần vì muối mặn. Hưng đến gần, hỏi:

– Bà đang quay gì vậy?

Bà lão không trả lời, rút ra một suốt tơ chìa cho Hưng xem, sợi tơ từ suốt tỏa ra dãy số dài. Hưng dõi mắt nhìn thì ra số liệu khảo sát trồng rừng phòng hộ thực tế của những năm trước. Ở đoạn giữa hiện lên dòng chữ: “Ngưỡng cảnh báo đã bị điều chỉnh”. Cơn gió mặn thổi đến. Tổ ong tan ra thành lớp bùn lỏng. Anh vùng vẫy. Trong khoảnh khắc cuối cùng trước khi bị nhấn chìm, anh thấy Mai đứng lặng lẽ bên một thân cây sú trổ hoa trắng, tay cô đưa về phía anh. Trên đầu cô, đàn ong đang lượn vòng...

Hưng choàng tỉnh. Trong bóng tối, tiếng gì đó như gõ vào cửa sổ, không rõ là sóng, hay những cánh ong lạc đàn. Đúng lúc ấy, Mai gọi điện cho anh:

– Em đang ở ngoài đê. Anh ra đây nhé!

Hưng ra đê khi trời mới rạng. Mai đang đứng trên đoạn đê quai cũ, nơi từng bị vỡ trong cơn bão năm ngoái, giờ đã được đắp lại bằng bao cát và rọ đá. Dưới chân đê, nước sủi bọt lăn tăn, có mùi rong mục lẫn với mùi dầu máy.

– Em vẫn nhớ mùi này. Năm lớp tám, em đã từng bị cuốn xuống đoạn này. Người làng kéo lên được, nhưng con chó nhà em thì mất tích, mấy ngày sau xác nó mới dạt vào chân đầm.

Câu chuyện nghe lạnh và buồn, có gì đó sâu hơn trong mắt Mai, lớp sương quá khứ chưa tan hết.

– Lần trước, em nói dối anh. Về cái thư học bổng.

Mai rút từ túi xách một phong bì đã nhàu. Đó là thư mời nghiên cứu sinh từ một trường đại học bên Nhật, chuyên ngành sinh thái biển. Thư đã quá hạn phản hồi gần một năm.

– Em đã nhận thư mời này nhưng không muốn đi, vì em tưởng mình có thể làm được điều gì đó ở đây. Giờ thì em không chắc nữa.

Hưng đọc lướt. Con dấu của trường bằng tiếng Nhật như vết ong chích, nhức nhối.

– Sao em không nói cho anh biết từ trước?

– Vì em sợ anh cũng đi.

Câu trả lời bật ra, như vết nứt nhỏ trên tảng băng. Hưng quay mặt đi. Dưới chân, những thân sú vẹt đâm thẳng xuống bùn, lặng lẽ cắm rễ.

– Dự án đang dùng dữ liệu giả. Anh tìm thấy hồ sơ nội bộ bị chỉnh sửa. Có thể có ai đó đã điều chỉnh ngưỡng cảnh báo mặn, để độ mặn khớp với chỉ số an toàn.

Mai không bất ngờ, cũng không phản ứng.

– Em nghi ngờ từ năm ngoái, nhưng không đủ bằng chứng.

Hưng quay lại nhìn Mai. Mắt cô sâu thẳm, nói chậm rãi:

– Em đã nghĩ nếu cố giữ được một phần rừng, trồng thêm, giám sát tốt hơn, sẽ cứu được hệ sinh thái này. Nhưng giờ em không chắc.

Cả hai nhìn nhau, im lặng.

Hưng nhớ lại thời sinh viên, cùng Mai học chuyên ngành Quản lý tài nguyên và Môi trường, cùng ngồi trong phòng thí nghiệm đến tối muộn chỉ để phân tích mẫu đất ven sông Hồng. Mai khi ấy tóc buộc cao, đôi mắt lúc nào cũng ánh lên vẻ nhiệt thành. Họ cưới nhau ngay sau khi ra trường, không bày nhiều tiệc tùng, chỉ một bữa liên hoan với người thân, bạn bè và tấm bằng tốt nghiệp còn thơm mùi giấy mới. Hưng từng đùa:

– Chúng mình cưới nhau trước khi có việc làm ổn định, liều như trồng rừng lấn biển vậy.

Cô bật cười:

– Thì cứ cắm rễ đã, rồi tính.

Về Kim Trạch, họ được sắp xếp một căn phòng nhỏ ngay trong trạm kỹ thuật, tường ván ép, mái tôn rung lên mỗi khi gió lùa. Khi ấy, họ chưa nói gì về tương lai, chỉ tin rằng còn rừng, còn đất, thì sẽ có chỗ cho hai người. Hưng đã nghĩ tình yêu của họ giống như rễ sú, rễ bần cắm sâu trong đất, bền chặt, không dễ bị cuốn trôi.

Đêm đó, Hưng trở về trạm kỹ thuật, mở lại hồ sơ lần nữa. Độ mặn tăng chậm, như cách một vết rạn lan trên bức tường cũ. Hưng chưa từng biết đến sự bất thường này, song anh đoán ngay ra những chỉnh sửa này nhằm làm đẹp hồ sơ, để báo cáo, để có thành tích. Việc này vẫn được coi là bình thường trong những dự án dài hơi như vậy; những người chỉnh sửa số liệu đều cho rằng trong quá trình thực hiện, nếu mưa thuận gió hòa, đất sẽ bớt mặn, số liệu bị vênh kia sẽ tự cân đối lại. Nhưng thời gian qua lượng mưa rất ít, độ mặn vẫn tăng dần đều. Thực tế này hiển nhiên không thể chỉnh sửa.

Hưng hít sâu, vị muối mặn len vào cổ họng. Anh nhớ lần đầu đặt chân đến vùng đất bồi này, từng tin đó là lựa chọn đúng đắn nhất. Giờ thì trước mắt vẫn chỉ là bùn chua và những thân cây gầy guộc. Anh cất tập hồ sơ vào cặp, cố giữ bình tĩnh. Không thể chần chừ thêm nữa.

Cuộc họp diễn ra đúng vào đêm áp thấp nhiệt đới chuyển thành bão. Sân nhà văn hóa ngập nước từ trưa, mùi ẩm mốc lẫn với mùi dầu máy và mồ hôi người. Gió quất qua những khe cửa, dội vào những tấm pano phai màu treo trên vách. Hưng đến muộn. Mai đã ngồi sẵn hàng ghế đầu, cạnh ông Lâm – Phó chủ tịch xã, người làm chủ tọa. Bên cạnh là bà Lành, một cán bộ lâm nghiệp đã nghỉ hưu.

– Thưa bà con! Bên kỹ thuật báo hệ thống bơm vẫn hoạt động bình thường. Tôi xin tuyên bố khai mạc cuộc họp đánh giá tình hình thực hiện dự án trồng rừng phòng hộ kiểu mẫu của xã ta, cụ thể là làng Kim Trạch, nơi thực hiện thí điểm đầu tiên.

Ông Lâm gõ cây bút xuống bàn, giọng khê đặc:

– Hôm nay mời mọi người ra đây để nghe anh Hưng, chị Mai nói thật về tình hình rừng sú vẹt của làng mình. Có gì khuất tất, cứ đưa hết ra ánh sáng.

Giọng ông Lâm đều đều như phát thanh viên đọc tin, ánh mắt đảo nhanh một vòng quanh hội trường như thể dò xét thái độ từng người. Ông nhìn về phía Hưng và Mai rồi nói tiếp:

– Do bão lớn, Ban quản lý dự án không xuống dự được. Hiện có hai kỹ sư trực tiếp phụ trách ở làng ta là chị Mai và anh Hưng, thay mặt báo cáo tình hình.

Mai đứng dậy:

– Thưa ông Lâm, thưa bà con! Bão sát nách rồi, tôi xin phép để anh Hưng nói thẳng vào những con số thực tế mà chúng tôi mới tìm được.

Hưng bước lên, tay trải hồ sơ ra bàn, giọng khản nhưng dứt khoát:

– Thưa bà con! Tôi xin trình bày số liệu thật, không phải số liệu đã báo cáo lên tỉnh. Theo những hồ sơ lưu này thì các chỉ số mặn đã vượt ngưỡng từ mười bốn tháng trước. Dữ liệu gốc đã bị can thiệp, cố tình điều chỉnh ngưỡng cảnh báo xuống thấp hơn thực tế. Dự án này đã đi chệch từ lâu. Nếu độ mặn cứ tiếp tục tăng thế này, không chỉ lụi rừng, mất ong, mà con đê quai cũng có nguy cơ sụp lở.

Mai đứng lên tiếp lời Hưng:

– Rừng kiểu mẫu trồng đồng loạt, một loài, một lứa, trụi cả tầng cỏ. Đất mặn vượt ngưỡng. Cây phải giữ năng lượng nuôi thân lá, chúng còi cọc, không còn đủ điều kiện để sinh sản nên không ra hoa, đó là nguyên nhân khiến ong bỏ đi. Chúng tôi thấy có trách nhiệm phải trình bày để bà con hiểu rõ tình hình thực tế.

Tiếng xì xầm lập tức nổi lên. Một bà từ cuối hội trường đứng lên, gay gắt:

– Các anh chị nói thế là thế nào? Làm ăn mà giấu nhẹm như vậy thì bà con chúng tôi biết xoay sở ra sao? Trông vào trồng rừng mới để còn gây lại đàn ong, bỏ bao nhiêu công sức vào đấy, đất đai của các hộ liền kề cũng bị quy hoạch vào dự án, giờ thành công cốc à?

Một thanh niên đứng lên, tay vung mạnh:

– Các ông bắt dân chịu khổ! Trồng rừng gì đâu? Chỉ là cái cớ để tiêu tiền ngân sách.

Cả hội trường nhao nhao, tiếng phản đối dồn dập. Ông Lâm cố gắng cắt ngang, giọng như người đang gồng lên:

– Xin bà con bình tĩnh! Ai có ý kiến xin mời giơ tay, phát biểu lần lượt. Đề nghị các anh chị kỹ sư dự án trả lời cho người dân!

Mai ngây người ra, giọng nghẹn lại:

– Chúng tôi xin nhận lỗi vì đã không thông báo kịp thời, để dự án gây ra thiệt hại cho bà con. Chúng tôi sẽ báo cáo tình hình thực tế để xin ý kiến cấp trên.

Hưng nói tiếp:

– Chúng tôi cam kết sẽ chịu trách nhiệm, sẽ trực tiếp phối hợp với các cơ quan liên quan để sửa sai.

Ông Bình đứng lên, giọng từ tốn:

– Các anh chị định sửa sai bằng cách nào, nói chúng tôi nghe thử? Đất vẫn cứ mặn dần lên, rừng thì đã trồng rồi, các anh chị làm gì để đất bớt mặn, để cây ra hoa được?

Bà Lành bật dậy, đanh thép:

– Nếu các người không làm được, chúng tôi sẽ kiến nghị lên huyện, lên tỉnh. Chuyện này chẳng phải chỉ nói chơi vài câu thế đâu!

Mọi người ồ lên tán thành ý kiến của bà Lành.

Căng thẳng dâng cao, ông Lâm nhìn quanh, rồi cũng đứng lên, giọng trầm xuống:

– Tôi xin tóm lại thế này. Nếu các kỹ sư chưa có giải pháp khắc phục nào khả thi, thì dự án phải dừng ngay việc trồng rừng mới. Từ nay, sẽ ưu tiên bảo vệ rừng nguyên sinh còn lại. Cấm tuyệt đối khai thác cây vẹt và không cho đào ao nuôi tôm để phá hoại môi trường. Có lẽ phải làm lại từ đầu, và phải lắng nghe ý kiến bà con. Chỉ có hợp sức mới cứu được rừng, cứu được làng ta!

Cả hội trường vỗ tay rào rào.

Ngoài trời, gió rít dữ dội, tiếng cành cây gãy đập xuống mái nhà. Một tiếng rầm vang lên khiến mọi người giật thót. Một cậu bé lao vào, tóc ướt sũng, gào lên:

– Nước tràn vào đê phụ phía Nam rồi! Cây mới trồng bị gió quật bật gốc rồi!

Mọi người bật dậy, kẻ chạy về nhà, người lao ra cứu đê. Trong lúc vội vã, Hưng quay sang Mai:

– Có lẽ chúng ta đã chậm mất rồi.

Mai cắn chặt môi, rồi bất ngờ bước nhanh xuống bậc thềm, tay ôm chặt túi tài liệu.

Vài ngày sau, đoàn kiểm tra liên ngành từ tỉnh về Kim Trạch. Họ mang theo thiết bị đo hiện trường, lấy mẫu đất, mẫu nước, kiểm tra độ mặn và sinh khối rừng. Tại trạm kỹ thuật, Hưng bàn giao bản đối chiếu giữa dữ liệu gốc và bản báo cáo đã bị chỉnh sửa. Đoàn sao lưu toàn bộ hồ sơ, phỏng vấn thêm bà Lành, ông Bình và một số hộ nuôi ong. Chiều ấy, tại trụ sở xã, không khí căng thẳng bao trùm. Những dự án mở rộng rừng bị đình lại. Người ta bắt đầu nói về việc lập tổ giám sát, nơi tiếng nói của ông Bình, bà Lành, những người ăn đời ở kiếp với bãi bồi này, sẽ được coi trọng.

Mấy tuần sau cơn bão, vùng đất Kim Trạch vẫn ngai ngái mùi rong rêu trôi dạt. Những vết nứt trên sườn đê đã được vá lại, các rãnh tiêu nước gần chân đê được khơi thông, bảo vệ đê khỏi hư hại. Gió mang theo âm thanh mới, tiếng côn trùng cựa mình trong đám cỏ, tiếng cá quẫy ở các ao trũng ven đê. Hưng ngước nhìn tán sú vẹt vừa nhú đợt lá mới. Vài con ong nhỏ xíu bay ngang qua, như tín hiệu của sự sống trở lại.

Bà Lành đã dựng lại tổ ong bằng những thùng gỗ, bên cạnh vạt rừng đang dần hồi phục. Một nhóm sinh viên đại học về thực tập quyết định ở lại suốt mùa mưa để khảo sát đất và nước ngầm. Mai được mời tham gia dự án nghiên cứu liên vùng, còn Hưng cùng đám sinh viên bám trụ ngoài bãi bồi. Anh chỉ cho họ cách phân biệt đất qua từng mẫu bùn, lần tìm từng dấu vết nhỏ nhất của sự sống đang hồi sinh dưới chân đê.

Đêm cuối xuân, Hưng mơ thấy làng Kim Trạch. Nhưng đó không còn là ngôi làng quen thuộc nữa. Những mái nhà nằm san sát như các ô tổ ong. Con đê cong dài, mềm như lớp sáp ong mới đắp. Người trong làng đi lại lặng lẽ, chăm chỉ như đàn ong kiếm mật. Mỗi bước chân dường như làm mặt đất rung nhẹ, lan qua rễ cây và lớp nước dưới bãi bồi. Những con số khô khốc, những nỗi lo toan về độ mặn, về sự lụi bại mà Hưng từng thức trắng đêm theo dõi, giờ đây bỗng hóa thân thành những chùm hoa sú vẹt trắng ngần, ngan ngát tỏa hương, dẫn lối cho bầy ong quay lại. Hoa trắng phủ kín bãi đất ngập mặn. Ong bay về từng đàn. Hưng thấy mình cũng có cánh. Đôi cánh mỏng và nhẹ. Trên tóc, trên vai anh bám đầy phấn hoa li ti. Anh bay qua những tán sú, tán vẹt đang trổ hoa trắng, nhìn các chùm hoa sáng lên trong màn sương sớm. Giữa làn phấn vàng, anh nhìn thấy bà Lành đang cười. Gương mặt ông Lâm không còn nặng nề như trước. Mai lướt ngang qua anh, ánh mắt trong trẻo và yên bình. Mọi người cùng chuyển động, không vội vã nhưng đầy sức sống. Hưng cảm nhận rõ hơi ấm của làng xóm, của đất và rừng ngập mặn. Giấc mơ ấy khiến anh thấy tương lai không còn xa xôi hay mơ hồ nữa.

Hưng tỉnh giấc khi ngày mới vừa hé rạng, ánh sáng dịu dàng lan nhanh vào phòng. Gió biển lùa qua khe cửa, mang theo mùi mặn mòi của muối và tiếng lá sú vẹt xào xạc. Mai đã đi làm từ sớm, có lẽ đang cùng nhóm sinh viên ngoài bãi. Trên bàn gỗ, tờ giấy được chặn bởi một mảnh san hô trắng. Đó là bản in vệ tinh vùng ven biển kéo dài tới tận mép rừng, nơi Mai đã dùng bút màu vạch một đường ngoằn ngoèo nối từ trạm kỹ thuật đến vạt rừng mới bồi. Hưng nhìn ra cửa sổ. Từ phía rừng vọng lại tiếng rù rì, là tiếng bầy ong đang tìm về tổ cũ, cũng có thể chỉ là tiếng gió đang thổi qua ký ức. Anh khoác áo, bước nhanh ra ngoài.

 

 

______________

[1] Tên làng Kim Trạch do tác giả hư cấu.

 

Kim Sơn, 05/6/2025

M.V.P

 

 

(Đã đăng: Tạp chí Văn Nghệ Ninh Bình, số 305+305/5/2025)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 
Xem thêm

image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement




























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị