Nơi bầy ong trở lại
(Truyện ngắn)
Mai Văn Phấn
Trằn trọc mãi đến gần
sáng, Hưng thiếp đi trong giấc mơ nơi cánh đồng trải dài ngút ngát. Xác ong
chất thành đống, dồn đến tận chân đê mới đắp. Những thân thể bé xíu, cánh nhàu
nát, rỉ mật đen sẫm, đặc quánh như máu. Trên cao, đứa trẻ đeo mặt nạ một loại
côn trùng dữ tợn, quay mặt ra biển. Gió lùa qua những lỗ nhỏ trên mặt nạ, vi vu
như tiếng ong gọi nhau về tổ cũ...
Hưng bừng tỉnh giữa mùi
đất mặn nồng và tiếng mái tôn lạch tạch trên đầu. Trước nhà, những cây sú vẹt
non đang vươn lên từ lớp bùn vàng sậm màu phù sa. Đây là vùng đất mới bồi cuối
làng Kim Trạch, ven đê
quai lấn biển thuộc huyện Kim Sơn. Những cánh rừng sú vẹt non đang bám rễ, gồng
mình chắn sóng để giữ lấy dải phù sa đang thành hình. Xưa kia, khi rừng còn
dày, đây chính là vựa mật của làng, cứ đến mùa hoa nở là ong về chật bãi, nuôi
sống cả trăm nhà. Anh châm điếu thuốc, lặng lẽ nhìn bầu trời đang rạng dần.
Tiếng máy xúc từ công trường kè biển vọng về, chát chúa và đột ngột, như báo
hiệu ngày mới nhiều biến động. Mai vẫn chưa về. Đêm qua, cô trực ở trạm kỹ
thuật.
Hưng múc nước mưa trong
chum sành rửa mặt. Nước mát lạnh táp vào da thịt, giúp anh dứt ra khỏi dư âm
của giấc mơ đêm qua. Mùa này, đất chưa kịp ngọt lại đã phải đón những đợt thủy
triều mới. Cánh thanh niên vừa ra quân trồng lại vạt rừng ven đê. Họ gọi đó là
rừng kiểu mẫu, nhưng nhìn những hàng cây tăm tắp, đều chằn chặn như xếp hàng
cắm xuống bùn lầy, Hưng cứ thấy nó thiếu cái sức sống tự nhiên của rừng cũ.
Hưng chợt nhớ đến lời anh Toán, tổ trưởng kỹ thuật, vốn là thợ nề, mới đi tập
huấn mười ngày trước khi triển khai dự án: “Cần
nhất là tốc độ cây sinh trưởng và mẫu chuẩn để báo cáo, không cần lo con ong.”
Trạm kỹ thuật nằm chếch
về hướng tây, ánh nắng buổi chiều đổ nghiêng lên những chồng hồ sơ bìa bọc
nylon đã ố màu. Trong lúc đợi những hàng số chạy dài trên màn hình, Hưng lật
lại chồng hồ sơ cũ. Anh giật mình trước những con số được tô vẽ cho tròn trịa,
cho đẹp lòng cấp trên. Những con số đã bị chỉnh sửa để kịp ngày nghiệm thu, dù
thực tế mặn chát đang ngấm dần dưới chân đê. Ngoài cửa, nắng đang lên. Tiếng ve
rền rã như trùm kín cả bầu trời. Hưng tắt máy tính, bước nhanh ra phía bờ rừng.
Ông Bình đang ngồi tước
tre dưới hiên nhà. Những thanh tre già được vót mảnh, đều tăm tắp, xếp thành
từng bó nhỏ bên cạnh. Dáng ông gầy nhưng rắn rỏi, bàn tay thoăn thoắt không cần
nhìn ngó. Ông là người đầu tiên được giao giữ rừng khi dự án mới bắt đầu. Suốt
mấy năm, ông Bình dựng chòi giữa bãi bồi, ngày nào cũng lội bùn kiểm tra từng
gốc sú, từng dấu chân lạ lọt vào rừng. Khi dự án chuyển sang tay đơn vị khác,
ông lặng lẽ rút về thửa ruộng cũ, không nhận thêm trợ cấp. Thấy Hưng tới, ông
ngước lên, ánh mắt rạng rỡ, chất phác: “Hưng
đấy à! Đến thăm rừng hay thăm ong đấy?”
Hưng bước lên hiên, cười
thân mật:
“Cháu
đến thăm chú. Chú tước tre đều tay thật đấy. Cái này để đan lờ hả chú?”
“Ừ,
làm chơi cho vui thôi. Mắt còn thấy, tay còn làm.”
Hưng ngồi xuống bên ông,
tay xoay một thanh tre.
“Dạo
này chú khỏe không? Nhà mình còn nuôi ong không ạ?”
Ông Bình gật đầu, giọng
trầm xuống:
“Cũng
tạm gọi là khỏe, nhưng mà buồn. Từ ngày ong bỏ đi, không còn giọt mật nào đem
ra chợ. Ruộng nhiễm mặn, rau không lên nổi. Mật ong vốn là sinh kế của cả làng
này đấy cháu ạ.”
Cơn gió biển lùa qua mái
hiên, mang theo vị mặn quen thuộc. Hưng quay mặt nhìn ra bãi đất thấp:
“Rừng
đang được trồng thêm, phủ lại dần mà chú. Thêm rừng, thêm hoa, ong rồi sẽ lại
về thôi.”
Ông Bình khẽ hắng giọng,
rót nước chè từ cái siêu đen đáy vào hai chiếc bát sành đã ngả màu.
“Ôi
dào, rừng cũ thì bị chặt, bị đào hết lên để làm đầm tôm, bơm cát lấp kín bãi.
Trước đây cứ độ giữa xuân đến đầu hè là rừng trắng hoa, ong bay lấy mật như
mây, thùng ong nào cũng cho đầy mật. Giờ trồng lại toàn giống sú chịu mặn, sống
dai thì có, mà không có hoa. Không có hoa thì lấy gì mà giữ được ong?”
Hưng im lặng, lòng nặng
trĩu. Rừng cũ giờ chỉ còn trong ký ức, hoa không nở, dân làng không dám nuôi
ong nữa.
Cuối chiều, Hưng rẽ vào
chợ làng. Bà Lành đang gói cá khô cho khách, chiếc áo bà ba bạc màu ướt đẫm mồ
hôi, dính sát lưng. “Chào cậu kỹ sư! Lâu
lắm mới thấy cậu.”
Hưng cười, mua một gói cá
nục, rồi ngập ngừng: “Cháu nghe nói trước
đây bà cũng nuôi nhiều ong, phải không ạ?”
Bà Lành mỉm cười, khóe
mắt nhăn lại. “Trước nhà cũng nuôi khá
nhiều. Vào mùa hoa sú vẹt, sáng ra ong bay đi hút mật rợp cả trời. Nhưng rồi
rừng cũ mất dần, rừng mới trồng thì không ra hoa, ong bay đi cả, chẳng còn gì.”
Ánh mắt Hưng lướt qua mớ
hàng khô trên sạp của bà Lành. Chỉ thấy nồng nặc mùi mực cay, tôm nõn và những
túi rong biển ép sẵn. Tuyệt nhiên không còn thấy bóng dáng những chai mật ong
màu cánh gián, thứ từng làm nên cái hồn của chợ làng Kim Trạch này.
“Con
gái bà vẫn ở trong Nam ạ?”
“Ừ,
nó đi làm công nhân. Nó bảo ở đây mà chết đói à. Ruộng không có, ong cũng không
còn, chẳng giữ chân nó được.”
Hưng muốn nói điều gì đó,
nhưng cổ họng bỗng nghẹn lại.
Đêm ấy Hưng lại mơ, anh
thấy mình lạc vào một tổ ong, nhưng không có ong, chỉ những lớp sáp xám lạnh,
trống rỗng. Những bức tường phập phồng như lồng ngực hấp hối. Dòng chữ đỏ rực
như máu hiện lên trên vách sáp báo điềm chẳng lành về cái chết của đất. Hưng
thấy bà lão rút ra những sợi tơ mặn chát, mỗi sợi tơ là một con số nhảy múa,
xoắn lấy nhau kể về nỗi đau của rừng, của nước đang lụi bại dần vì muối mặn.
Hưng đến gần, hỏi: “Bà đang quay gì vậy?”
Bà lão không trả lời, rút
ra một suốt tơ chìa cho Hưng xem, sợi tơ từ suốt tỏa ra dãy số dài. Hưng dõi
mắt nhìn thì ra số liệu khảo sát trồng rừng phòng hộ thực tế của những năm
trước. Ở đoạn giữa hiện lên dòng chữ: “Ngưỡng
cảnh báo đã bị điều chỉnh”. Cơn gió mặn thổi đến. Tổ ong tan ra thành lớp
bùn lỏng. Anh vùng vẫy. Trong khoảnh khắc cuối cùng trước khi bị nhấn chìm, anh
thấy Mai đứng lặng lẽ bên một thân cây sú trổ hoa trắng, tay cô đưa về phía
anh. Trên đầu cô, đàn ong đang lượn vòng...
Hưng choàng tỉnh. Trong
bóng tối, tiếng gì đó như gõ vào cửa sổ, không rõ là sóng, hay những cánh ong
lạc đàn. Đúng lúc ấy, Mai gọi điện cho anh: “Em
đang ở ngoài đê. Anh ra đây nhé!”
Hưng ra đê khi trời mới
rạng. Mai đang đứng trên đoạn đê quai cũ, nơi từng bị vỡ trong cơn bão năm
ngoái, giờ đã được đắp lại bằng bao cát và rọ đá. Dưới chân đê, nước sủi bọt
lăn tăn, có mùi rong mục lẫn với mùi dầu máy.
“Em
vẫn nhớ mùi này. Năm lớp tám, em đã từng bị cuốn xuống đoạn này. Người làng kéo
lên được, nhưng con chó nhà em thì mất tích, mấy ngày sau xác nó mới dạt vào
chân đầm.”
Câu chuyện nghe lạnh và buồn,
có gì đó sâu hơn trong mắt Mai, lớp sương quá khứ chưa tan hết.
“Lần
trước, em nói dối anh. Về cái thư học bổng.”
Mai rút từ túi xách một
phong bì đã nhàu. Đó là thư mời nghiên cứu sinh từ một trường đại học bên Nhật,
chuyên ngành sinh thái biển. Thư đã quá hạn phản hồi gần một năm.
“Em
đã nhận thư mời này nhưng không muốn đi, vì em tưởng mình có thể làm được điều
gì đó ở đây. Giờ thì em không chắc nữa.”
Hưng đọc lướt. Con dấu
của trường bằng tiếng Nhật như vết ong chích, nhức nhối.
“Sao
em không nói cho anh biết từ trước?”
“Vì
em sợ anh cũng đi.”
Câu trả lời bật ra, như
vết nứt nhỏ trên tảng băng. Hưng quay mặt đi. Dưới chân, những thân sú vẹt đâm
thẳng xuống bùn, lặng lẽ cắm rễ. “Dự án
đang dùng dữ liệu giả. Anh tìm thấy hồ sơ nội bộ bị chỉnh sửa. Có thể có ai đó
đã điều chỉnh ngưỡng cảnh báo mặn, để độ mặn khớp với chỉ số an toàn.”
Mai không bất ngờ, cũng
không phản ứng. “Em nghi ngờ từ năm
ngoái, nhưng không đủ bằng chứng.”
Hưng quay lại nhìn Mai.
Mắt cô sâu thẳm, nói chậm rãi: “Em đã
nghĩ nếu cố giữ được một phần rừng, trồng thêm, giám sát tốt hơn, sẽ cứu được
hệ sinh thái này. Nhưng giờ em không chắc.” Cả hai nhìn nhau, im lặng.
Hưng nhớ lại thời sinh
viên, cùng Mai học chuyên ngành Quản lý tài nguyên và Môi trường, cùng ngồi
trong phòng thí nghiệm đến tối muộn chỉ để phân tích mẫu đất ven sông Hồng. Mai
khi ấy tóc buộc cao, đôi mắt lúc nào cũng ánh lên vẻ nhiệt thành. Họ cưới nhau
ngay sau khi ra trường, không bày nhiều tiệc tùng, chỉ một bữa liên hoan với
người thân, bạn bè và tấm bằng tốt nghiệp còn thơm mùi giấy mới. Hưng từng đùa: “Chúng mình cưới nhau trước khi có việc
làm ổn định, liều như trồng rừng lấn biển vậy.”
Cô bật cười: “Thì cứ cắm rễ đã, rồi tính.”
Về Kim Trạch, họ được sắp
xếp một căn phòng nhỏ ngay trong trạm kỹ thuật, tường ván ép, mái tôn rung lên
mỗi khi gió lùa. Khi ấy, họ chưa nói gì về tương lai, chỉ tin rằng còn rừng,
còn đất, thì sẽ có chỗ cho hai người. Hưng đã nghĩ tình yêu của họ giống như rễ
sú, rễ bần cắm sâu trong đất, bền chặt, không dễ bị cuốn trôi.
Đêm đó, Hưng trở về trạm
kỹ thuật, mở lại hồ sơ lần nữa. Độ mặn tăng chậm, như cách một vết rạn lan trên
bức tường cũ. Hưng chưa từng biết đến sự bất thường này, song anh đoán ngay ra
những chỉnh sửa này nhằm làm đẹp hồ sơ, để báo cáo, để có thành tích. Việc này
vẫn được coi là bình thường trong những dự án dài hơi như vậy; những người
chỉnh sửa số liệu đều cho rằng trong quá trình thực hiện, nếu mưa thuận gió
hòa, đất sẽ bớt mặn, số liệu bị vênh kia sẽ tự cân đối lại. Nhưng thời gian qua
lượng mưa rất ít, độ mặn vẫn tăng dần đều. Thực tế này hiển nhiên không thể
chỉnh sửa.
Hưng hít sâu, vị muối mặn
len vào cổ họng. Anh nhớ lần đầu đặt chân đến vùng đất bồi này, từng tin đó là
lựa chọn đúng đắn nhất. Giờ thì trước mắt vẫn chỉ là bùn chua và những thân cây
gầy guộc. Anh cất tập hồ sơ vào cặp, cố giữ bình tĩnh. Không thể chần chừ thêm
nữa.
Cuộc họp diễn ra đúng vào
đêm áp thấp nhiệt đới chuyển thành bão. Sân nhà văn hóa ngập nước từ trưa, mùi
ẩm mốc lẫn với mùi dầu máy và mồ hôi người. Gió quất qua những khe cửa, dội vào
những tấm pano phai màu treo trên vách. Hưng đến muộn. Mai đã ngồi sẵn hàng ghế
đầu, cạnh ông Lâm – Phó chủ tịch xã, người làm chủ tọa. Bên cạnh là bà Lành,
một cán bộ lâm nghiệp đã nghỉ hưu. “Thưa
bà con! Bên kỹ thuật báo hệ thống bơm vẫn hoạt động bình thường. Tôi xin tuyên
bố khai mạc cuộc họp đánh giá tình hình thực hiện dự án trồng rừng phòng hộ
kiểu mẫu của xã ta, cụ thể là làng Kim Trạch, nơi thực hiện thí điểm đầu tiên.”
Ông Lâm gõ cây bút xuống
bàn, giọng khê đặc: “Hôm nay mời mọi
người ra đây để nghe anh Hưng, chị Mai nói thật về tình hình rừng sú vẹt của
làng mình. Có gì khuất tất, cứ đưa hết ra ánh sáng.”
Giọng ông Lâm đều đều như
phát thanh viên đọc tin, ánh mắt đảo nhanh một vòng quanh hội trường như thể dò
xét thái độ từng người. Ông nhìn về phía Hưng và Mai rồi nói tiếp: “Do bão lớn, Ban quản lý dự án không xuống
dự được. Hiện có hai kỹ sư trực tiếp phụ trách ở làng ta là chị Mai và anh
Hưng, thay mặt báo cáo tình hình.”
Mai đứng dậy: “Thưa ông Lâm, thưa bà con! Bão sát nách
rồi, tôi xin phép để anh Hưng nói thẳng vào những con số thực tế mà chúng tôi
mới tìm được.”
Hưng bước lên, tay trải
hồ sơ ra bàn, giọng khản nhưng dứt khoát: “Thưa
bà con! Tôi xin trình bày số liệu thật, không phải số liệu đã báo cáo lên tỉnh.
Theo những hồ sơ lưu này thì các chỉ số mặn đã vượt ngưỡng từ mười bốn tháng
trước. Dữ liệu gốc đã bị can thiệp, cố tình điều chỉnh ngưỡng cảnh báo xuống
thấp hơn thực tế. Dự án này đã đi chệch từ lâu. Nếu độ mặn cứ tiếp tục tăng thế
này, không chỉ lụi rừng, mất ong, mà con đê quai cũng có nguy cơ sụp lở.”
Mai đứng lên tiếp lời
Hưng: “Rừng kiểu mẫu trồng đồng loạt, một
loài, một lứa, trụi cả tầng cỏ. Đất mặn vượt ngưỡng. Cây phải giữ năng lượng
nuôi thân lá, chúng còi cọc, không còn đủ điều kiện để sinh sản nên không ra
hoa, đó là nguyên nhân khiến ong bỏ đi. Chúng tôi thấy có trách nhiệm phải
trình bày để bà con hiểu rõ tình hình thực tế.”
Tiếng xì xầm lập tức nổi
lên. Một bà từ cuối hội trường đứng lên, gay gắt: “Các anh chị nói thế là thế nào? Làm ăn mà giấu nhẹm như vậy thì bà con
chúng tôi biết xoay sở ra sao? Trông vào trồng rừng mới để còn gây lại đàn ong,
bỏ bao nhiêu công sức vào đấy, đất đai của các hộ liền kề cũng bị quy hoạch vào
dự án, giờ thành công cốc à?”
Một thanh niên đứng lên,
tay vung mạnh: “Các ông bắt dân chịu khổ!
Trồng rừng gì đâu? Chỉ là cái cớ để tiêu tiền ngân sách.”
Cả hội trường nhao nhao,
tiếng phản đối dồn dập. Ông Lâm cố gắng cắt ngang, giọng như người đang gồng
lên: “Xin bà con bình tĩnh! Ai có ý kiến
xin mời giơ tay, phát biểu lần lượt. Đề nghị các anh chị kỹ sư dự án trả lời
cho người dân!”
Mai ngây người ra, giọng
nghẹn lại: “Chúng tôi xin nhận lỗi vì đã
không thông báo kịp thời, để dự án gây ra thiệt hại cho bà con. Chúng tôi sẽ
báo cáo tình hình thực tế để xin ý kiến cấp trên.”
Hưng nói tiếp: “Chúng tôi cam kết sẽ chịu trách nhiệm, sẽ
trực tiếp phối hợp với các cơ quan liên quan để sửa sai.”
Ông Bình đứng lên, giọng
từ tốn: “Các anh chị định sửa sai bằng
cách nào, nói chúng tôi nghe thử? Đất vẫn cứ mặn dần lên, rừng thì đã trồng
rồi, các anh chị làm gì để đất bớt mặn, để cây ra hoa được?”
Bà Lành bật dậy, đanh
thép: “Nếu các người không làm được,
chúng tôi sẽ kiến nghị lên huyện, lên tỉnh. Chuyện này chẳng phải chỉ nói chơi
vài câu thế đâu!”
Mọi người ồ lên tán thành
ý kiến của bà Lành. Căng thẳng dâng cao, ông Lâm nhìn quanh, rồi cũng đứng lên,
giọng trầm xuống: “Tôi xin tóm lại thế
này. Nếu các kỹ sư chưa có giải pháp khắc phục nào khả thi, thì dự án phải dừng
ngay việc trồng rừng mới. Từ nay, sẽ ưu tiên bảo vệ rừng nguyên sinh còn lại.
Cấm tuyệt đối khai thác cây vẹt và không cho đào ao nuôi tôm để phá hoại môi
trường. Có lẽ phải làm lại từ đầu, và phải lắng nghe ý kiến bà con. Chỉ có hợp
sức mới cứu được rừng, cứu được làng ta!”
Cả hội trường vỗ tay rào
rào. Ngoài trời, gió rít dữ dội, tiếng cành cây gãy đập xuống mái nhà. Một
tiếng rầm vang lên khiến mọi người giật thót. Một cậu bé lao vào, tóc ướt sũng,
gào lên: “Nước tràn vào đê phụ phía Nam
rồi! Cây mới trồng bị gió quật bật gốc rồi!”
Mọi người bật dậy, kẻ
chạy về nhà, người lao ra cứu đê. Trong lúc vội vã, Hưng quay sang Mai: “Có lẽ chúng ta đã chậm mất rồi.”
Mai cắn chặt môi, rồi bất
ngờ bước nhanh xuống bậc thềm, tay ôm chặt túi tài liệu.
Vài ngày sau, đoàn kiểm
tra liên ngành từ tỉnh về Kim Trạch. Họ mang theo thiết bị đo hiện trường, lấy
mẫu đất, mẫu nước, kiểm tra độ mặn và sinh khối rừng. Tại trạm kỹ thuật, Hưng
bàn giao bản đối chiếu giữa dữ liệu gốc và bản báo cáo đã bị chỉnh sửa. Đoàn
sao lưu toàn bộ hồ sơ, phỏng vấn thêm bà Lành, ông Bình và một số hộ nuôi ong.
Chiều ấy, tại trụ sở xã, không khí căng thẳng bao trùm. Những dự án mở rộng
rừng bị đình lại. Người ta bắt đầu nói về việc lập tổ giám sát, nơi tiếng nói
của ông Bình, bà Lành, những người ăn đời ở kiếp với bãi bồi này, sẽ được coi
trọng.
Mấy tuần sau cơn bão,
vùng đất Kim Trạch vẫn ngai ngái mùi rong rêu trôi dạt. Những vết nứt trên sườn
đê đã được vá lại, các rãnh tiêu nước gần chân đê được khơi thông, bảo vệ đê
khỏi hư hại. Gió mang theo âm thanh mới, tiếng côn trùng cựa mình trong đám cỏ,
tiếng cá quẫy ở các ao trũng ven đê. Hưng ngước nhìn tán sú vẹt vừa nhú đợt lá
mới. Vài con ong nhỏ xíu bay ngang qua, như tín hiệu của sự sống trở lại.
Bà Lành đã dựng lại tổ
ong bằng những thùng gỗ, bên cạnh vạt rừng đang dần hồi phục. Một nhóm sinh
viên đại học về thực tập quyết định ở lại suốt mùa mưa để khảo sát đất và nước
ngầm. Mai được mời tham gia dự án nghiên cứu liên vùng, còn Hưng cùng đám sinh
viên bám trụ ngoài bãi bồi. Anh chỉ cho họ cách phân biệt đất qua từng mẫu bùn,
lần tìm từng dấu vết nhỏ nhất của sự sống đang hồi sinh dưới chân đê.
Đêm cuối xuân, Hưng mơ
thấy làng Kim Trạch. Nhưng đó không còn là ngôi làng quen thuộc nữa. Những mái
nhà nằm san sát như các ô tổ ong. Con đê cong dài, mềm như lớp sáp ong mới đắp.
Người trong làng đi lại lặng lẽ, chăm chỉ như đàn ong kiếm mật. Mỗi bước chân
dường như làm mặt đất rung nhẹ, lan qua rễ cây và lớp nước dưới bãi bồi. Những
con số khô khốc, những nỗi lo toan về độ mặn, về sự lụi bại mà Hưng từng thức
trắng đêm theo dõi, giờ đây bỗng hóa thân thành những chùm hoa sú vẹt trắng
ngần, ngan ngát tỏa hương, dẫn lối cho bầy ong quay lại. Hoa trắng phủ kín bãi
đất ngập mặn. Ong bay về từng đàn. Hưng thấy mình cũng có cánh. Đôi cánh mỏng
và nhẹ. Trên tóc, trên vai anh bám đầy phấn hoa li ti. Anh bay qua những tán
sú, tán vẹt đang trổ hoa trắng, nhìn các chùm hoa sáng lên trong màn sương sớm.
Giữa làn phấn vàng, anh nhìn thấy bà Lành đang cười. Gương mặt ông Lâm không
còn nặng nề như trước. Mai lướt ngang qua anh, ánh mắt trong trẻo và yên bình.
Mọi người cùng chuyển động, không vội vã nhưng đầy sức sống. Hưng cảm nhận rõ
hơi ấm của làng xóm, của đất và rừng ngập mặn. Giấc mơ ấy khiến anh thấy tương
lai không còn xa xôi hay mơ hồ nữa.
Hưng tỉnh giấc khi ngày mới vừa hé rạng, ánh sáng dịu
dàng lan nhanh vào phòng. Gió biển lùa qua khe cửa, mang theo mùi mặn mòi của
muối và tiếng lá sú vẹt xào xạc. Mai đã đi làm từ sớm, có lẽ đang cùng nhóm
sinh viên ngoài bãi. Trên bàn gỗ, tờ giấy được chặn bởi một mảnh san hô trắng.
Đó là bản in vệ tinh vùng ven biển kéo dài tới tận mép rừng, nơi Mai đã dùng
bút màu vạch một đường ngoằn ngoèo nối từ trạm kỹ thuật đến vạt rừng mới bồi.
Hưng nhìn ra cửa sổ. Từ phía rừng vọng lại tiếng rù rì, là tiếng bầy ong đang
tìm về tổ cũ, cũng có thể chỉ là tiếng gió đang thổi qua ký ức. Anh khoác áo,
bước nhanh ra ngoài.
Kim Sơn, 05/6/2025
M.V.P
(Đã đăng: Tạp chí Văn Nghệ Ninh Bình, số 305+305/5/2025)
