Người mở đất
(Truyện
ngắn)
Minh họa của Đặng Tiến
Lời giới thiệu của Báo Hải Phòng cuối
tuần: Nguyễn Công Trứ là một vị danh nhân nổi
tiếng trong lịch sử dân tộc, được biết đến là người tài năng, có chí lớn và
luôn hết lòng vì đất nước, nhân dân. Không chỉ là một vị tướng, nhà thơ, ông
còn có công lớn trong việc khai phá, mở mang vùng đất mới, để lại dấu ấn sâu
đậm trong lòng nhân dân. Truyện ngắn “Người mở đất” của Mai Văn Phấn đã tái
hiện hình ảnh Nguyễn Công Trứ trong hành trình khai khẩn vùng đất Kim Sơn, Tiền
Hải. Qua tác phẩm, tác giả ca ngợi ý chí, tài năng và tấm lòng vì dân của ông,
đồng thời thể hiện niềm tự hào về bậc tiền nhân đã góp phần xây dựng quê hương.
HPCT
Mai
Văn Phấn
Cuối
xuân, gió biển ùa về Kim Sơn, mang theo vị mặn quyện trong hương lúa đang thì
con gái. Sau tiết giảng cuối cùng về triều Nguyễn, Khoa tìm về vùng đất ven
biển này. Là giảng viên sử học, nhiều năm nghiên cứu Nguyễn Công Trứ qua sử
sách và tư liệu, anh luôn mong một lần được đứng trên chính nơi người xưa đã mở
đất.
Dừng
trước cổng Truy Tư từ, ngôi đền thờ Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ bên dòng sông
Ân, Khoa bỗng thấy những trang sử mình từng đọc như gần lại. Anh bước chậm qua sân đền trong hương trầm phảng phất, ngước
nhìn mái ngói cong uyển chuyển và những nét chạm tinh xảo trên cột gỗ. Từ chính
điện, bức hoành phi sơn son thếp vàng chạm bốn chữ “Quân danh nghiệp đỉnh” nổi bật trên bức tường gạch rêu phong, lan tỏa một vẻ trang nghiêm,
tĩnh lặng. Khoa kính cẩn khấu đầu trước bức tượng cụ.
Từ hậu
cung bước ra, Khoa gặp ông thủ từ đang chăm chú tỉa tán cây si ở góc sân. Ông
ngẩng lên, đôi mắt hiền hậu thoáng vẻ dò hỏi: “Chú từ xa đến phải không?
Chắc muốn tìm hiểu về cụ Nguyễn?” Khoa lễ phép đáp: “Dạ, cháu muốn tìm hiểu cách thức cụ Nguyễn lãnh đạo dân chúng quai đê
lấn biển, khẩn hoang đất đai, lập nên vùng đất này ạ.”
Ông thủ
từ nhấp ngụm trà, giọng từ tốn: “Thời ấy
vùng này còn hoang vu lắm, bốn bề sình lầy, nạn đói lan khắp trấn ven biển. Triều đình cử cụ Nguyễn về đây trấn
nhậm. Cụ thấu hiểu nỗi khổ của dân nghèo, nhiều người theo thủ lĩnh nổi dậy
chống triều đình chỉ vì thiếu ruộng đất, thiếu miếng ăn. Cụ dâng sớ tâu xin
khai khẩn lấn biển, mở đất cho dân nghèo trồng cấy, đồng thời giữ yên bờ cõi, dẹp
mối lo giặc giã nổi lên ở vùng duyên hải. Vua Minh Mạng chuẩn tấu, phong cho cụ
chức Doanh điền sứ vào năm Minh Mạng thứ chín. Đây là cuộc đại khẩn hoang xưa
nay chưa từng có. Cụ Nguyễn khuyến khích dân tại chỗ khai phá vùng giáp ranh,
chiêu mộ thêm lưu dân, chủ yếu là đám tàn quân từng theo Phan Bá Vành nổi lên
chống triều đình trước đó.”
Khoa
chăm chú lắng nghe, khẽ nhích người về phía trước: “Lưu dân tứ xứ lại thêm đám nghĩa quân, cụ Nguyễn làm thế nào để giữ
được lòng dân ạ?”
Ông thủ
từ mỉm cười đôn hậu: “Cụ là người nghiêm
khắc nhưng gần dân, thương dân. Cụ không ngại gian khó, thường xuống tận nơi
cùng dân quai đê, lắng nghe, chia sẻ những nhọc nhằn.”
“Thế ông có nhớ công cuộc khai khẩn bắt đầu như
thế nào không ạ?”
Ông từ
nheo mắt, chậm rãi nói: “Cụ bảo muốn khai
hoang, trước hết phải trị thủy. Thế rồi cụ chỉ dạy cho dân từng bước quai đê,
đào sông ngòi và kênh dẫn nước tưới tiêu. Riêng đê điều, sông ngòi ở Tiền Hải
đã dài hàng trăm dặm, kênh rạch đào theo thế bàn cờ, đến nay vẫn còn ích lợi
cho dân. Đó là chưa nói đến Kim Sơn đây. Sử sách đều có ghi lại, người dân Kim
Sơn nhớ ơn cụ mới lập ngôi Sinh từ để thờ cụ ngay từ khi cụ còn tại thế, sau
khi cụ mất mới đổi tên là Truy Tư từ. Để kỷ niệm ngày giỗ cụ, hàng năm vào
trung tuần tháng Mười Một âm lịch dân Kim Sơn đều tổ chức hội đền.”
☆
Sau hơn
một năm khai khẩn gian nan, đến năm Minh Mạng thứ mười, vùng đất Tiền Hải đã
trở thành dải đồng điền phì nhiêu, dân cư quy tụ ngày một đông. Chiều nọ,
Nguyễn Công Trứ đứng trên con đê chính, mắt hướng về phía nam. Cụ cho gọi viên
thư lại tên Khiêm đến, bảo rằng: “Nay
việc khai khẩn ở Tiền Hải đã xong được phần lớn. Trước khi khai khẩn nơi này,
ta đã thị sát vùng đất sình lầy rộng lớn ở trấn Ninh Bình phía nam sông Đáy,
cũng là nơi hoang hóa cần khai khẩn cho dân cày có ruộng, nên ta sẽ xuống đó
một chuyến.”
Khiêm lĩnh
ý, chẳng bao lâu đoàn thám địa đi thuyền theo thủy đạo rẽ vào sông Càn. Khi ấy
vùng này chỉ là dải đất hoang vu, nhưng cụ Nguyễn đã nhận ra thế đất trải dài
như cánh tay vươn ra biển lớn. Trên con thuyền nhỏ dập dềnh giữa sóng triều
lên, cụ bảo với đoàn tùy tùng: “Việc khai
đất không chỉ cốt lập điền địa, mà trọng ở kế lâu dài. Có ruộng thì dân yên
nghiệp, có dân thì đất hóa làng, bờ cõi thêm vững.”
Trong
bản tấu dâng lên triều đình, Nguyễn Công Trứ trình bày: ở các huyện Yên Khánh,
Yên Mô thuộc Ninh Bình, đối ngạn huyện Nam Chân thuộc Nam Định, còn một dải bãi
biển nhiều đất hoang, có thể trồng cói, cấy lúa chẳng kém Tiền Hải, xin cho đo
đạc để lập thành ấp lý.
Vua Minh
Mạng chuẩn y, cho Nguyễn Công Trứ tiếp tục công cuộc khai khẩn vùng đất mới ở
Ninh Bình. Cụ Nguyễn lại một phen đích thân đưa theo mấy trăm dân đinh Tiền
Hải, những người đã quen việc, sang hợp cùng dân địa phương để tiếp nối việc mở đất. Cụ nói với thuộc
hạ rằng, đem những điều đã trải nơi Tiền Hải tiếp sức cho vùng đất mới, cũng
như lấy lửa mồi thêm lửa. Trước tiên cụ Nguyễn cho đào con sông Ân, tuyến thủy
đạo chính nối thông vùng đất mới với các địa phương kế cận, đồng thời cho đắp
con đê đầu tiên để ngăn mặn giữ ngọt. Năm sau, cụ tiếp tục cho đắp đê Hồng Ân,
mở rộng bãi bồi, tạo thành một dải đất khẩn hoang ven biển.
Thuở ban
đầu đặt chân tới vùng này, ngoài số dân đinh từ Tiền Hải, phần đông là những
người được chiêu mộ từ Trà Lũ, Nam Định. Họ đều là dân nghèo, tay trắng, nhưng
mang theo niềm tin vững chãi vào cụ Nguyễn. Dần dà, nơi đất mới ấy trở thành
chốn cư ngụ, dân gian gọi là làng Khởi. Mỗi chiều, lửa bếp bập bùng bên mép đê
mới đắp, bữa cơm đạm bạc độn khoai sắn. Tiếng muỗi vo ve hòa với tiếng ễnh
ương, đôi khi chen lẫn tiếng thở dài nhớ quê cũ. Thế nhưng, vừa tảng sáng,
người người lại gọi nhau ra bãi, kéo dây mực, cắm cọc, xắn đất đắp bờ.
Mỗi khi
cắm thêm cọc mốc trên vùng đất bồi, cụ Nguyễn đều đích thân đến tận nơi xem xét
địa thế, dò đất bãi cứng hay lún, rồi cẩn trọng liệu tính việc đắp đê, dẫn thủy
sao cho hợp lẽ. Hồi ấy cách đo đạc ruộng đất còn thô sơ, cụ Nguyễn đã nghĩ ra
cách dùng đèn chai xếp thành hàng làm mốc ban đêm. Người trong vùng vẫn truyền
nhau câu: “Đèn của cụ Nguyễn soi tới đâu,
đất hóa ruộng đến đó.”
☆
Cũng vào
mùa hạ năm ấy, thủy triều dâng cao khác thường. Mới đến hạ tuần tháng Tư, mà
ruộng đất còn đang bồi dang dở đã ngập nước. Nhiều đoạn đê sụt lở, tình thế mỗi
lúc thêm nguy kịch. Dân đinh lam lũ, thân thể rã rời, khí lực cạn dần. Có người
ngã gục trên bãi, người trốn về. Các vị kỳ lão kéo đến xin yết kiến cụ Nguyễn.
Nơi cụ
Nguyễn ở là ngôi nhà ba gian mái rạ, bên trong chỉ có bộ phản tre và chiếc án
thư gỗ mộc đơn sơ. Sau khi thi lễ, một người đại diện thưa rằng: “Bẩm cụ lớn, việc đắp đê dạo gần đây gặp
nhiều trở ngại. Dân đinh phần nhiều mỏi mệt, người ngã bệnh, kẻ bỏ về. Lượng
sức người có hạn, cúi xin cụ soi xét, cho được tạm nghỉ, đợi mưa thuận gió hòa
rồi tiếp tục.”
Cụ
Nguyễn đứng dậy, ôn tồn nói: “Ta biết các
người đã vất vả bấy lâu nay. Nhưng khai khẩn là việc ‘nhân định thắng thiên’,
phải bền gan vững chí. Nay đã đi được gần nửa đường, nếu chùn bước thì bao
nhiêu công sức sẽ trôi theo sông nước. Khó mấy cũng phải vượt qua. Nay chịu cực
nhọc một phen, mai thành làng xóm, thành điền thổ, ấy mới là chí trai, là nghĩa
lớn!”
Một vị
kỳ lão thưa: “Nhưng bẩm cụ, đất này sóng
dữ, nước mặn, nay đắp mai sạt. Công hao mà lòng người cũng nản.”
Cụ
Nguyễn đáp: “Điều đó ta đã rõ. Song xem thiên văn thì chỉ ít hôm nữa thủy
triều sẽ hạ. Người đau ốm ta lo thuốc thang, cho nghỉ ngơi; ai khỏe mạnh thì phải
gắng sức.”
Rồi cụ
bước đến gần vị kỳ lão vừa thưa, bảo: “Việc
lớn chưa thành, ta không thể lùi bước!”
Vị kỳ
lão chắp tay, dõng dạc: “Lời cụ lớn như
dao chém đá. Chúng tôi xin trở về khuyên răn dân đinh. Dẫu có nhọc nhằn cũng
không bỏ việc. Nguyện không thẹn với cháu con mai sau.”
☆
Mấy hôm
sau, gió gào rít dữ dội, cuốn theo cát bụi bay mù mịt, xoáy ngược thành từng
vòng lốc cuộn qua con đê. Cụ Nguyễn đứng ở đầu bãi, tay nắm chặt cán mai còn
ngập trong bùn. Cọc tre lún nghiêng, đoạn đê mới đắp còn chưa vững, nhưng mây
đen vần vũ, báo hiệu bão lớn sắp ập đến.
Một gã
lính lệ hớt hải chạy tới, mặt mũi thất thần, phục xuống bẩm gấp: “Bẩm quan lớn! Thế nước lên nhanh, sắp tràn
bãi. Chúng con đã sắp sẵn ngựa xe, xin đợi lệnh quan lớn!”
Nguyễn
Công Trứ ngước nhìn trời, mặt không đổi sắc, nghiêm giọng: “Các ngươi cùng ta xông pha trận mạc từ lâu, vốn dĩ phải can đảm hơn
đám dân đinh. Chúng ta vì nghĩa lớn, lúc nguy nan phải xả thân mà tranh đấu.
Thiên tai cũng chẳng khác gì địch họa, đều phải quyết liệt chống trả. Cổ nhân
có câu ‘nuôi binh ngàn ngày, dụng binh một giờ’, chính là lúc này. Các ngươi
hãy cùng dân đinh quyết phòng hộ đê điều!”
Tấm địa
đồ trải trên mặt phên bị gió hất tung, bay lật rồi co dúm lại dưới chân cụ
Nguyễn. Viên thư lại từ dưới bãi hối hả chạy lên, người khoác áo tơi, mặt mày
lấm lem bùn đất, cúi đầu thưa vội: “Bẩm
cụ! Dân làng Khởi đã rút lui gần hết. Giờ chỉ còn lại chừng mươi trai đinh.”
Ánh mắt cụ
Nguyễn rực lên: “Ngươi có sợ không? Có
muốn rút lui không?”
Thư lại
Khiêm cắn môi, do dự thoáng chốc, rồi đáp dứt khoát: “Bẩm cụ lớn, cụ còn đứng đây thì thuộc hạ nguyện ở lại cùng!”
Cụ
Nguyễn bèn quay sang mấy vị hương lý, nghiêm giọng: “Truyền gọi dân đinh đến ngay! Những ai còn sức, thời chia ra từng toán,
giữ những đoạn đê xung yếu.”
Rồi cụ
hướng mắt về nhóm binh lính, lớn tiếng: “Cọc
tre đóng chéo, phên nứa dằn ngay chỗ nước có thể phá! Chuyển nhanh bao đất và
đá lên mái đê!”
Tiếng
phụ nữ gọi chồng, tiếng trẻ khóc thất thanh từ dãy lán. Nguyễn Công Trứ chỉ tay
về phía chân bãi, hô lớn: “Chỗ ấy là họng
nước! Nếu vỡ ở đó, xoáy lũ sẽ cuốn cả đoạn đê. Mau dồn bao đất tiếp ứng!”
Nhóm thì
lột áo, nhảy xuống lội kéo bao đất đắp thêm vào mái đê, nhóm thì dầm ngang bụng
nước, dựng kè gỗ giữ chân đê. Gió gào thét, sấm chớp như muốn xé toạc đất trời.
Đến canh
ba, nước mới bắt đầu rút chậm. Khi hửng sáng, những đoạn đê xung yếu đã được
gia cố. Nhiều mái lều bị gió xé rách, nhưng người và của đều vô sự. Nguyễn Công
Trứ ngồi xuống vệ đê, rút khăn lau mặt. Phải đến khi ấy, cụ mới thấy cái lạnh
ngấm vào tận xương cốt.
☆
Khoa đặt
ba lô xuống chiếc bàn gỗ cũ trong căn nhà nhỏ của ông Bính, nằm ngay gần cổng
Truy Tư từ. Anh tìm đến đây sau khi được ông từ ở đền cho biết ông Bính là
người am hiểu nhiều chuyện xưa của vùng này. Trước kia, ông là giáo viên dạy
Lịch sử ở trường trung học phổ thông huyện, nhiều năm lặng lẽ sưu tầm tư liệu
và ghi chép những câu chuyện về cụ Nguyễn.
Hai
người ngồi uống nước vối dưới hiên nhà. Ông Bính kể, nhờ hệ thống thủy lợi và
con đê Hồng Ân do cụ Nguyễn cho đắp mà dân bớt điêu linh, xóm thôn dần trù mật.
Những đời sau tiếp tục đắp thêm nhiều tuyến đê mới, đất phù sa lại lấn dần ra
biển. Khoa chăm chú lắng nghe rồi hỏi: “Bây
giờ người dân mình còn giữ được tinh thần khai hoang mà cụ Nguyễn để lại không
hả chú?”
Ông Bính
mỉm cười: “Còn chứ. Người vùng này vẫn
nhớ ơn cụ, vẫn giữ nếp cần cù, bám ruộng, bám biển. Máy móc có hiện đại hơn,
cách làm có đổi khác, nhưng cái cốt cách ấy vẫn được lưu giữ.”
Khoa hỏi
tiếp: “Chú ấn tượng nhất với sự kiện hay
câu chuyện nào trong thời gian cụ Nguyễn khẩn hoang ạ?”
Giọng
ông Bính chậm rãi: “Chuyện thì nhiều lắm.
Nhưng cụ cố nhà tôi kể rằng, khi có gia đình đầu tiên sinh con trên vùng đất
mới Kim Sơn, cụ Nguyễn đã đến tận nơi, mang gạo, vải đến mừng và bảo: ‘Thêm
đất, thêm người, mừng thay!’”
Khoa khẽ
gật đầu rồi hỏi: “Giờ còn ai trong vùng
nhớ được những chuyện về cụ nữa không chú?”
Ông Bính
đáp: “Còn cụ Lữ, nhưng cụ già yếu lắm.
Hơn chục năm nay không nói năng được gì.”
Khoa
khẩn khoản: “Cháu rất muốn gặp cụ Lữ. Chú
đưa cháu đến nhà cụ được không ạ?”
Ông Bính
đưa Khoa men theo lối nhỏ vòng sau đền, qua bụi tre rậm và hàng giậu râm bụt
lấm tấm nụ đỏ. Trước ngôi nhà mái thấp, một phụ nữ trẻ đang quét sân. Thấy
khách, cô khẽ gật đầu chào rồi lặng lẽ vào trong nhà. Cụ Lữ ngồi tựa lưng vào
vách, đôi mắt đã mờ đục. Giữa căn phòng, ông cụ im lìm như một pho tượng đá. Sợ
cụ lãng tai, Khoa cất tiếng chào to rồi ngồi xuống bên cạnh. Cụ không đáp, chỉ
khẽ nghiêng đầu, hướng đôi mắt mờ đục về phía Khoa như biết có người lạ đến. Ít phút sau, người phụ nữ mang ấm trà
và khay nước ra đặt lên bàn, nhỏ giọng: “Ông
cháu lâu nay chẳng nói năng gì, cứ ngồi một chỗ như vậy, ai cũng tưởng ông đã
lẫn. Nhưng lạ lắm, hễ nghe ai nhắc đến cụ Nguyễn là ông lại chăm chú lắng nghe.”
Khoa từ
tốn hỏi: “Thưa cụ, cụ còn nhớ những
chuyện xưa các cụ kể lại về cụ Nguyễn Công Trứ không ạ?” Ngón tay trỏ của
cụ Lữ bỗng chấm nhẹ vào chén trà, rồi di lên mặt phản gỗ, bắt đầu vạch từng nét
chậm rãi. Khoa cúi xuống, chăm chú dõi theo. Dưới đầu ngón tay run rẩy ấy, dần
hiện ra những hình cọc gỗ cắm nghiêng, phía dưới là đường cong uốn lượn như
dáng con sông, và sau cùng là vòng tròn nhỏ, như mặt trời vừa nhô lên. Khoa
nhìn thật lâu những nét vẽ rồi hỏi: “Cụ
ơi, những hình vẽ này có phải là cách cụ Nguyễn ghi lại dấu hiệu của từng đoạn
đê đã đắp xong hay con kênh đã dẫn nước phải không cụ?” Cụ Lữ nở nụ cười
móm mém đầy trìu mến.
Khoa rời
khỏi nhà cụ Lữ, ra tới triền đê thì thủy triều đang lên, nước dâng theo những
con mương, luồn lách qua rặng cói, len vào những thửa ruộng ven đê.
Từ triền
đê, Khoa lặng người trước cánh đồng cói trải dài ngút mắt, những ngọn cói mảnh
mai óng ánh trong nắng xế. Ông Bính chỉ tay về phía một xóm nhỏ, kể rằng chỗ ấy
ngày xưa là nơi cụ Nguyễn cho người cắm cọc, quai đê. Khoa lặng nhìn đám trẻ
đang nô đùa, ríu rít như bầy chim sẻ.
Vừa giơ máy ảnh lên, anh chợt dừng lại. Trong khung
hình, lũ trẻ chạy thoăn thoắt trên bờ đồng cói, những gót chân như không chạm
đất. Dưới những bước chân ríu rít ấy thấp thoáng dấu chân thuở mở đất của
Nguyễn Công Trứ và bao bậc tiền nhân.
Kim
Sơn, 9/7/2025
M.V.P
(Báo
Hải Phòng, số 500 Bộ mới, 25/6/2026)




Sông Ân ở Kim Sơn. Ảnh: T.L