Mai Văn Phấn – Chủ nghĩa nhân văn cao cả gắn với đạo đức và trí tuệ (chuyên luận – Kỳ I) – Nguyễn Thanh Tâm
Mai Văn
Phấn – Chủ nghĩa nhân văn cao cả gắn với đạo đức và trí tuệ
(Kỳ I)

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Tâm
Nguyễn Thanh Tâm
Maivanphan.com:
Năm 2024, Nhà xuất bản Văn học đã ấn hành chuyên luận “Thơ Việt Nam sau 1975 –
Diện mạo & Bản sắc” của Tiến sĩ, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Nguyễn
Thanh Tâm. Theo tác giả, cuốn sách không chỉ cung cấp những tri thức mang tính
văn học sử hay dừng lại ở việc mô tả diện mạo chủ đạo, khắc họa các bản sắc nổi
bật, mà còn góp phần định hình một hệ thống phương pháp và kỹ năng tiếp cận tác
giả, tác phẩm thơ, nhất là khi phải đối diện với những văn bản mới, khó, cùng
các hiện tượng phức tạp, đặt ra nhiều thách thức đối với việc đọc, học, giảng
dạy và nghiên cứu thơ ca đương đại. Cuốn sách được tổ chức theo một cấu trúc
học thuật mạch lạc, đi từ khái quát đến phân tích chuyên sâu. Phần mở đầu xác
lập bối cảnh lịch sử – xã hội và đời sống văn học sau năm 1975, đồng thời nêu
rõ mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Trên nền tảng đó, các chương
tiếp theo lần lượt phác họa diện mạo thơ Việt Nam qua các chặng vận động chính
từ hậu chiến đến thời kỳ Đổi mới và hội nhập, qua đó nhận diện những khuynh
hướng lớn về đề tài, cảm hứng, giọng điệu và thi pháp. Từ bình diện mô tả, công
trình tiếp tục đào sâu vấn đề bản sắc của thơ ca Việt Nam sau 1975. Trọng tâm
của chuyên luận là Phần Hai, “Thi sĩ đương đại – Những bản sắc chuyển động”,
dành để phân tích cụ thể các dòng thơ và các tác giả tiêu biểu như Trương Đăng
Dung, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Thị Thúy Hạnh và Mai Văn Phấn. Riêng với Mai Văn
Phấn, Nguyễn Thanh Tâm đã dành khoảng 80 trang khảo sát và phân tích, với nhan
đề “Mai Văn Phấn – Chủ nghĩa nhân văn cao cả gắn với đạo đức và trí tuệ”. Được
sự đồng ý của tác giả, chúng tôi trân trọng giới thiệu trọn vẹn bài viết này
tới Quý bạn đọc. Do dung lượng bài viết, Maivanphan.com sẽ đăng tải nội dung
thành hai kỳ.
Trân
trọng cảm ơn Tiến sĩ, nhà nghiên cứu và phê bình văn học Nguyễn Thanh Tâm!
☆
I. Vài
nét về tác giả và tác phẩm
1. Mai Văn Phấn – trong tiếng vọng thời gian
Mai Văn Phấn sinh năm 1955, tại Kim Sơn, Ninh Bình, hiện sống và sáng
tác ở Hải Phòng.
So với việc
Mai Văn Phấn bước chân vào làng thơ từ đầu những năm 1990, sau đó đoạt giải thưởng
của Báo Người Hà Nội (1994), Văn nghệ (1995), tôi chắc hẳn là người đến
muộn – Đến muộn và lại đúng vào thời điểm thơ Mai Văn Phấn có nhiều hoang mang,
hoài nghi nhất (với những tập như Hôm sau,
và đột nhiên gió thổi, Bầu trời không mái che). Những khác lạ
mà tôi bắt gặp ở thời điểm ấy khiến hành trình đọc của tôi buộc phải chia về
hai hướng. Một quay về để gặp lại quá khứ, một dấn bước, đuổi theo Mai Văn Phấn
trên con đường trước mặt. Ngả nào cũng nhiều âu lo xen lẫn háo hức.
Sự háo hức có
đôi nét như đứa trẻ tìm được trò chơi mới. Tuy nhiên, ở sâu hơn, khi quan sát
chính mình, tôi nhận ra nguồn thơ ca đánh thức những giác quan con người gắn với
cuộc đời trên miền mĩ cảm vừa thực, vừa siêu thực. Niềm hân hoan sáng lên như một
nỗi đợi chờ, nhưng cũng soi tỏ âu lo. Tôi nghĩ, cuộc đời này, có gì đó cho ta
chờ đợi, chẳng phải là may mắn hay sao? Đợi chờ không hẳn là hạnh phúc, nhưng đợi
chờ là sống.
Những âu lo đã
ở đó, khi tôi thấy mình có lúc hụt hơi trên hành trình ngược xuôi theo Mai Văn
Phấn. Đó là giới hạn mà tôi nhận ra trên đường biên của những màu mây khác, ở
những nhịp chuyển động hay chập nổ làm lộ ra không gian khác, gây bất ngờ cho
thói quen. Mai Văn Phấn sẽ viết gì nữa? Đợi chờ tôi phía trước, biết đâu lại là
một niềm tuyệt vọng.
Trong công việc
phê bình, tôi không cho rằng gặp gỡ hay quen biết với tác giả là điều quan trọng,
cần thiết. Thậm chí, tôi nghĩ đó còn là điểm bất lợi. Có thể là một sai lầm,
nhưng với tôi, như thế an lòng hơn. Tôi không muốn nói về con người tác giả,
cũng không muốn bất cứ sự chi phối nào của mối quan hệ cá nhân tiểu sử làm ảnh
hưởng đến cảm xúc riêng tư khi đọc tác phẩm của họ. Thế mà rồi tôi vẫn gặp Mai
Văn Phấn. Thì gặp, chẳng sao cả. Năm 2011, tôi về Hải Phòng tham dự hội thảo Mai Văn Phấn – Đồng Đức Bốn: khác biệt và
thành công. Tháng Năm, phượng cháy rực trên Thành phố Cảng. Cái màu hoa như
giục giã, hẳn vì những nhiệt huyết của tuổi trẻ. Mai Văn Phấn bảo với tôi rằng,
anh ngỡ ngàng vì tôi trẻ quá, lại có nét trong trẻo thơ ngây trong mắt. Ở quãng ấy, chưa đầy 30 tuổi, lòng người ta như
những con tàu bồn chồn bên bờ sóng. Tôi chẳng xem nhận định đó là điều gì trọng
đại, đến nỗi bây giờ nghĩ lại, tôi đinh ninh rằng, lời lẽ ấy cũng chỉ là cho đẹp
lòng nhau ở buổi đầu sơ ngộ. Còn tôi, tôi không nhớ mình có nói gì để đẹp lòng
nhà thơ Đất Cảng không? Nhưng, ấn tượng theo tôi, dài cả những năm tháng sau
này, Mai Văn Phấn là người dễ chịu và nền nã. Điểm đặc biệt nhất có lẽ là đôi mắt
và giọng nói. Đôi mắt ngước lên khi đọc thơ ẩn chứa một niềm tin, có gì như
thiêng liêng và khắc khoải. Giọng nói hơi ngập ngừng và thảng thốt, phảng phất
gió mang tiếng vọng sâu xa của biển.
Tôi không gặp
Mai Văn Phấn từ sau lần ấy, dù vẫn đọc và viết về anh khá nhiều, đến nỗi, có
người nói vui rằng, tôi là nhà Mai Văn Phấn học. Cuốn chuyên luận Mai Văn Phấn và hành trình thơ vào cõi khác
(viết cùng Nhà nghiên cứu Ngô Hương Giang – Viện Triết học, Nxb Hội Nhà văn, 2015),
có lẽ là nguyên ủy của sự bông đùa ấy. Cho đến khi hoàn thành cuốn sách, tôi
cũng không một lần gặp Mai Văn Phấn. Ngày ra mắt, Mai Văn Phấn không đến dự.
Tôi nghĩ, đó là sự vắng mặt cần thiết của một người biết tự trọng, nhất là khi
hình dung ra những lời chúc mừng nồng nhiệt mà phần lớn là xã giao làm hân hoan
tất cả.
Mai Văn Phấn là người tự trọng trong việc làm nghệ thuật. Có lần, Ngày
thơ Việt Nam tổ chức tại Văn Miếu, khi tôi đến thì gặp anh đang vội vã rời khỏi
sân thơ, nơi người ta bắt đầu đọc thơ. Gặp tôi, vẫn giọng nói thảng thốt ấy, bắt
anh đọc thơ chắc chết mất. Không phải Mai Văn Phấn không đọc được thơ hoặc thơ
anh không đáng để đọc, mà sự ồn ào của không gian hội thơ thực sự không dành
cho thơ. Thế mà, người ta vẫn tổ chức ngày thơ linh đình khắp cả nước. Lạ thật!
Thơ cần được đọc trong sự tĩnh lặng, cô đơn và không nên quá nhiều ánh sáng.
Tôi ít khi dừng lại để nghe thơ phóng ra từ những dàn loa công suất lớn, chỉ
nhang nhác một thi sĩ nào đó đang vung tay hay ngước mắt diễn tả đường bay của
ý tưởng. Tôi thấy tội nghiệp cho thơ và cho thi sĩ.
Mai Văn Phấn
là một nhà thơ có chiến lược cho hành trình sáng tạo của mình. Nếu phải nói rằng,
ở Việt Nam, ai là thi sĩ đi qua nhiều chặng đường mĩ học nhất, tôi nghĩ rằng,
đó là Mai Văn Phấn. Từ truyền thống cổ điển, lãng mạn đến tượng trưng, siêu thực
rồi trở về tân cổ điển; từ hiện đại đầy vỡ vào hậu hiện đại; từ thơ ca xây cất
trên niềm tin đến những vùng trời chới với bất an, Mai Văn Phấn thực sự là kẻ
“vong thân” đầy xác tín trên hành trình thi sĩ của mình.
Tác phẩm
Mai Văn Phấn
đã xuất bản 19 cuốn sách tại Việt Nam
và 34 cuốn ở nước ngoài, gồm các tập thơ, phê bình và tiểu luận,
sách dịch. Thơ của ông được dịch sang hơn 40 ngôn ngữ.
Sách xuất bản trong nước
- Giọt nắng (Thơ, Hội Văn nghệ Hải Phòng, 1992).
- Gọi xanh (Thơ, Nxb Hội Nhà văn, 1995).
- Cầu nguyện ban mai (Thơ, Nxb Hải Phòng, 1997).
- Nghi lễ nhận tên (Thơ, Nxb Hải Phòng, 1999).
- Người cùng thời (Trường ca, Nxb Hải Phòng, 1999).
- Vách nước (Thơ, Nxb Hải Phòng, 2003).
- Hôm sau (Thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2009).
- và đột nhiên gió thổi (Thơ, Nxb Văn học, 2009).
- Bầu trời không mái che (Thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2010).
- Thơ tuyển Mai Văn Phấn cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn, Nxb Hội Nhà văn, 2011).
- hoa giấu mặt (Thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2012).
- Bầu trời không mái che / “Firmament Without Roof Cover” (Thơ song ngữ Việt – Anh. Nxb Hội Nhà văn tái bản lần hai bổ sung bản Anh ngữ, 2012). Dịch giả: Nhà thơ Trần Nghi Hoàng. Biên tập: Nhà thơ – Giáo sư Frederick Turner (Hoa Kỳ).
- Vừa sinh ra ở đó (Thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2013).
- Bầu trời không mái che (Thơ song ngữ Việt – Pháp. Tái bản lần thứ 4, bổ sung bản Pháp ngữ, có tên “A Ciel Ouvert”. Dịch giả: TS. Bùi Thị Hoàng Anh và Giáo sư – Nhà thơ Jean-Michel Maulpoix (Pháp). Nxb Hội Nhà văn, 2013).
- Zanore në vesë / Những nguyên âm trong sương sớm (Thơ song ngữ Việt – An-ba-ni. Nxb Hội Nhà văn tái bản lần hai bổ sung bản Việt ngữ, 2014).
- The Selected Poems of Mai Văn Phấn (Tuyển thơ tiếng Anh, Nxb Hội Nhà văn, 2015).
- thả (Thơ, Nxb Hội Nhà văn, 2015).
- Không gian khác (Phê bình – tiểu luận, Nxb Hội Nhà văn, 2016).
- Lặng yên cho nước chảy (Thơ, Nxb Hội Nhà văn và Công ty CP VH & TT Nhã Nam, 2018).
- Thời tái chế (Trường ca, Nxb Hội Nhà văn, 2018).
- Thời tái chế / Era of Junk (Trường ca song ngữ Việt – Anh. Nxb Hội Nhà văn & Công ty CP Sách Tao Đàn tái bản lần hai bổ sung bản Anh ngữ, 2019).
- Nhịp điệu vẽ lối đi (phê bình, tiểu luận. NXB Hội Nhà văn, 2024).
Lưu ý: Tác giả
không viết hoa tiêu đề ba tập thơ: và đột
nhiên gió thổi, hoa giấu mặt, thả.
Giải thưởng :
Mai Văn Phấn
đã đoạt một số giải thưởng Văn học Việt Nam và quốc tế, trong đó:
• Giải thưởng
Hội Nhà văn Việt Nam, 2010 (cho tập thơ Bầu
trời không mái che).
• Giải Văn học
Cikada của Vương quốc Thụy Điển, 2017.
• Giải thưởng
của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Hoàng gia Cộng hòa Serbia, 2019.
• Giải thưởng
của Hiệp hội Dịch giả văn học Cộng hòa Montenegro, 2020.
• Giải thưởng
Aco Karamanov của Cộng hòa Bắc Macedonia, 2020.
• Giải
nhất Lễ hội Sáng tạo quốc tế “Đồng hành vào thế kỷ 21” của Cộng hòa Bulgaria, 2020.
• Huy chương
Ali-Shir Navai’I của Hội Liên hiệp các Nhà văn & Sử gia năm nước cộng hòa
Trung Á, 2021.
• Giải
thưởng Văn học Quốc tế Sahitto (Cộng hòa Nhân dân Bangladesh),
2021.
• Giải
thưởng báo Kitob Dunyosi của Cộng hòa
Uzbekistan, 2021.
• Danh hiệu
“Hiệp sĩ vàng” của Diễn đàn Văn học quốc tế Slavơ, 2022.
• Giải thưởng
quốc tế “Tập thơ của năm” tại Bác Ngao (Trung Quốc), 2022 (cho tập thơ “Улетел
на рассвете” – Bay đi lúc bình minh).
• Giải thưởng
cuộc thi thơ quốc tế “Trái tim tôi ở trên núi” mang tên nhà văn William
Saroyan, Cộng hòa Armenia, 2022.
• Giải thưởng
mang tên nhà thơ Frederick Turner của Nxb Mundus Artium Press (Hoa Kỳ), 2023.
• Giải thưởng
cuộc thi trực tuyến văn học quốc tế “Nesvizh, tôi dâng tặng Người...” của
Belarus, 2023.
• Năm lần Giải thưởng văn học “Cây bút vàng Liên
bang Nga”, 2019, 2020, 2021, 2022 và 2023.
II. Thi giới Mai Văn Phấn – diện mạo và bản sắc
trên hành trình “vong thân”
1. Hình tượng cái tôi trữ tình
1.1. Một cái tôi hồn nhiên lãng mạn
Đọc thơ Mai
Văn Phấn ta sẽ bắt gặp một cái tôi hồn nhiên, mơ mộng đầy lãng mạn. Xuất hiện
nhiều ở giai đoạn đầu trên hành trình thơ rồi thấp thoáng ở các chặng tiếp
theo, cái tôi này là một mảnh của con người toàn nguyên, làm nên bản thể trữ
tình của Mai Văn Phấn.
Gió vẫn ru xanh mướt ở trên đầu
Trời rót xuống từng cơn mưa đằm thắm.
Cái ác đã ngủ yên trong nhuỵ đắng
Cho đất lành thơm mát đến rưng rưng
Hồn tôi lung linh hạt nắng
Rơi xuống đồng xanh không cùng.
(Hồn nhiên)
Đêm đầu mùa
Anh cuống quýt hôn em qua kẽ lá
Khi sương tan cành biêng biếc xanh.
Cô đơn tràn bãi trưa hanh
Mùa đi rung cây lá đổ
Phải dằn dữ và cũng mềm như gió
Gió từ biển xanh mang sắc của trời.
Bình minh lên chiếu sáng nửa đời
Còn nửa kia chìm vào bóng tối
Bao lối cỏ cứ xanh vội vội
Thấm lên bàn chân ai qua.
(Màu xanh)
Anh nghiêng vào chiếc lá
Lá bỗng đôm đốm vàng
Có giọt sương lạnh giá
Rơi xuống hồn anh đang
Lẫm chẫm vào xốn xang
Cho lòng mềm tơ lụa
Xin em hong lên gió
Xem sợi nào ngân nga.
Gieo mình xuống phù sa
Bàng hoàng nghe tách vỏ
Ủ chân thật vào giữa
Chờ mùa xuân nảy mầm.
(Chân thật)
Cây lá ở Nghi Tàm
Thon những bàn tay Phật
Ta nhìn vào sương tan
Thấy lòng mình trong vắt.
Tiếng thời gian khoan nhặt
Bên thềm rêu gọi hè
Không gian như phủ chúa
Hoa cười vang cung mê.
Ai đang dẫn ta về
Thành Thăng Long mây khói
Nền xưa và dấu xe...
Phải tiếng em vừa gọi?
Màu hoa chừng rất vội
Hồn ta cứ la đà
Chắp tay làm chiếc lá
Ngỡ mặt mình đơm hoa.
(Nghi Tàm)
Lãng mạn là một
phẩm tính của con người, nó tồn tại cùng con người trên hành trình sống (dù Chủ
nghĩa lãng mạn trong văn chương nghệ thuật chỉ có tính thời đoạn, và đã đi qua
từ lâu). Nếu Chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện như là sự phản ứng lại với Chủ nghĩa
cổ điển (ra đời và có ảnh hưởng lớn ở châu Âu, nửa đầu thế kỷ XIX) thì tinh thần
lãng mạn lại là một phẩm tính vĩnh hằng của con người, trong thế tương sánh với
thực tại. Lãng mạn, mơ mộng rất tương hợp với tuổi trẻ, với những tâm hồn dạt
dào cảm xúc hướng đến thế giới ở bên trên hiện thực (phản ứng lại hiện thực). Để
có thể mơ mộng, người ta phải hồn nhiên cùng đức tin mãnh liệt và niềm hứng khởi
trước cuộc đời. Vẻ đẹp của thiên nhiên, đời sống, con người, tình yêu, cùng những
mơ mộng cao đẹp đã nâng cánh cho Mai Văn Phấn trong trường mĩ cảm lãng mạn. Điều
đó lý giải một cách thuyết phục hơn cho chất thơ lãng mạn và bản dạng cái tôi này
trong thơ Mai Văn Phấn. Ở đây, cũng không thể không nói đến sức hấp dẫn của mĩ
học thi ca truyền thống, sẽ lôi cuốn, hấp dẫn một thi sĩ trẻ khi bắt đầu bước
chân vào đường thơ. Được cảm xúc dẫn dắt, tinh thần hồn nhiên của tuổi trẻ, những
mộng mơ của thiên thần (bên trong thi sĩ ẩn chứa một đứa trẻ và một thiên thần)
đã thức giấc, cất lên nhịp điệu du dương, bay bổng và say mê.
Tuy nhiên, như
đã nói, lãng mạn là một phẩm tính vĩnh hằng của con người trong thế tương sánh
với thực tại. Đó là “… một tâm trạng huyền nhiệm, một ý hướng vĩnh cửu của tâm
hồn nhân loại”.
Vì lẽ đó, cảm hứng lãng mạn có khi lại xuất hiện như là một trạng thái đào
thoát khỏi thực tại. Khi ấy, thực tại có lẽ là một cảnh ngộ chứa đầy nguy cơ đối
với con người. Tình thế này sẽ càng ngày càng ám ảnh hơn, làm nảy sinh chất thơ
khác, bản dạng cái tôi khác mà chúng ta sẽ nói tới ở phần sau.
Như một hệ quả
tất yếu, ở cấp độ mãnh liệt hơn của tinh thần lãng mạn, gắn với tuổi trẻ, đức
tin và những niềm say mê mơ mộng, thơ Mai Văn Phấn hiện diện một bản dạng cái
tôi nồng ấm yêu thương, tha thiết với cuộc sống, tự nhiên và con người.
Chiều nay em cho con bú. Ngoài kia từng chân
kiến đang đi, từng cánh ong vẫn còn đang vỗ. Nơi anh về trú ngụ là ô trời xanh
trong mắt em cười. Hạnh phúc nào bằng ta bên nhau thảnh thơi, như được xoải
mình nơi chân đê cát mịn. Anh hôn lên ngực em căng đầy thơm mát, chiều ngọt
ngào cánh cò cánh vạc, qua môi anh khẽ đậu xuống hồn. Căn phòng mình chẳng còn
những bức tường bao quanh và không gian thành thời gian thánh thiện, khi anh mải
mê nhìn vầng ngực em dâng đầy như biển, cứ thu mình tìm vào miệng con be bé
xinh xinh...
Nghe đâu đây có tiếng thạch sùng điểm nhịp,
hay những giọt nước xa xưa đang rơi vào vại nước nhà mình.
(Em cho con bú)
Anh mơ được em gieo trồng trên ngực
Bàn tay dịu dàng vun vào da thịt
Hôn lên tai anh lời chăm bón thì thào
Anh cựa mình nồng nàn tơi xốp.
Gió sẽ đến vỗ về từng chiếc lá
Lật phía bên kia che cơn bão đang về
Mùa đông em phủ lá vàng lên mặt
Nỗi ưu phiền mục ra trong lấm chấm mưa xuân.
Từng giọt mát lành thấm nhuần trong đất
Tươi từ môi anh đến gót chân em
Anh ngỡ mình được phép lành thánh thể
Đêm vừa qua hay đã mấy nghìn năm.
(Bài ca buổi sớm)
Lan nhanh, choáng ngợp đất hoang vừa mở
Em đổ từng trận lũ dại cuồng
Cuốn xiết anh khỏi ngôi nhà có khu vườn bé nhỏ
Con chim cắt không gian rộng để lại đường bay
bất tận
Cội rễ anh vươn mắt em nhìn tươi tốt
Từng đọt mầm phun hơi ấm lòng đất ướt
từ hơi thở làm bầu trời đổi khác
từ khoảng không được quyền kiến tạo đám mây
Mắt rạ rơm đốt thiêu mùa cũ
Đổi thay cách nhìn và khoảng trống chân trời
đất nhận cả những gì còn cháy dở
mùa mới về tự tin, nghiền nát và xoá hết
Nụ hôn nín thinh, toả nhiệt, khoan vào lòng đất
chạm những mạch ngầm ứ căng huyền bí thuở xưa
Đất mỡ màu quyện rạng đông dâng lên khuôn mặt
dâng lên cỏ cây phồn thực bời bời
Những mùa tái sinh trổ đòng chín rục
Sấm nổ vang trong lòng tay mầm hạt
Vòng phù sa tươi ròng ấp ôm thớ đất
Em cúi xuống và dòng sông ùa đến bất ngờ.
(Bài hát mùa màng)
Thu về e ấp
Cốm non lãng đãng sương giăng
Khăn áo ấy mịn màng da thịt
Dâng heo may lên trời
Nhịp cốm giã rộn mùa thóc nếp
Thúng mủng dần sàng vỏ trấu hây hây
Trái bưởi thơm dịu nắng hanh
Thanh khiết chùm hoa mộc
Giữa đất trời ngó sen sau mưa
Da diết nhớ từng vòng cuộn xiết
Lá sen xanh ủ cốm em anh
Chín nẫu chân mây mùa hạ
Đêm ái ân lặng phắc ngọn đèn
Trái hồng đượm trong hương cốm nõn.
(Cốm hương)
Nếu cái tôi
lãng mạn hiện ra với vẻ hồn nhiên, mộng mơ của tuổi trẻ (thực ra, tuổi nào cũng
mang tinh thần lãng mạn, nhưng cách thức, mức độ, nhu cầu biểu đạt ở tuổi trẻ
mãnh liệt hơn, trực tiếp hơn), thì cái tôi nồng ấm yêu thương là trái quả đã
chín vào đời sống. Tình yêu thương làm trái tim ngân lên những nhịp đập hân
hoan, cuồng nhiệt; đưa con người đến bên nhau trong niềm thiết tha giao cảm, hướng
đến sự sống, làm nên sự sống kì diệu. Không phải là thứ tình yêu mang tinh thần
Platonic, yêu thương – luyến ái trong thơ Mai Văn Phấn không tách rời những đam
mê nhục cảm. Sự sống ở đó, trong những điều thường nhật, trong hương thơm trái
chín, trong ngực em dâng đầy nguồn sống, trong đất đai nồng nàn dâng hiến,
trong vòng tay cuộn xiết, trong những mùa màng sinh sôi… Tình yêu cưu mang tất
cả làm nên sự sống vĩnh hằng. Có thể nói, cảm thức luyến ái sinh sôi, nguồn thi
hứng cuồng nhiệt và bản dạng cái tôi nồng ấm yêu thương đã tạo nên trường thẩm
mĩ nổi bật (không chỉ nổi bật mà còn mang tính chất cốt lõi, duy trì tư tưởng
nhân văn cao cả trong thơ Mai Văn Phấn) có sức lan tỏa và chi phối đến những
vùng thẩm mĩ khác, trên hành trình vong thân và sáng tạo của thi sĩ.
Sống là đẹp. Cái sống là cái đẹp. Trong bất kỳ
tình huống nào, khát vọng sống, hướng về sự sống luôn là hoạt lực cao cả, đáng
trân trọng bậc nhất của con người. Với nghệ sĩ, những người khao khát sống nhiều
hơn một cuộc đời, thì sống như thế nào còn là mỗi bận tâm thường trực. Thậm
chí, chính trong hành trình đi tìm cái đẹp, họ mới thực sự sống, như F.
Dostoievsky đã mượn lời nhân vật, quả quyết trong tiểu thuyết Chàng Ngốc (1868): “Cái đẹp cứu rỗi sự sống”
(Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế gian).
Mai Văn Phấn có ý thức rất cao về sáng tạo nghệ
thuật, xem sáng tạo như là điều kiện của hiện hữu nghệ thuật và hiện sinh thi
sĩ. Không hài lòng, không thỏa mãn với những không gian sống, vùng mĩ cảm cũ,
dù có thể, ở đó đã có được những thành tựu đáng ghi nhận, thi sĩ quyết định rời
bỏ, lên đường để kiếm tìm nguồn sống, nguồn thơ mới. Cái mới rồi sẽ thành cái
cũ, nếu vậy, không tiến về phía trước, không kiếm tìm những chân trời khác, đồng
nghĩa với việc thi sĩ đã tự mình khép lại cánh cửa mở vào thế giới sáng tạo. Với
Mai Văn Phấn, liên tục vong thân, liên tục phủ định chính mình là cơ chế của sống
đời, cơ chế của nghệ thuật và cũng là hành trạng của thi sĩ: Anh là con cá miệng giàn giụa trăng/ Rời bỏ
bầy đàn quẫy vào biển động (Ngậm em
trong miệng).
Với những nhà thơ có ý thức sáng tạo mãnh liệt,
sự ổn định, đông cứng của một hệ giá trị, hệ mĩ học là một sự đe dọa, một mối
nguy cho nghệ thuật. Họ không thể sống, không thể cứ quen tay tạo nên những sản
phẩm ngôn từ như vậy. Thế nên, hệ quả tất yếu là cách tân, vượt thoát diễn ra.
Mai Văn Phấn là một trong số những nhân vật như thế. Tận dụng cơ chế tự nới lỏng
trong bản thân các hệ giá trị có tính chuẩn định, Mai Văn Phấn đã đẩy cỗ xe thơ
của mình vượt qua các giới hạn. Cơ chế tự nới lỏng thực ra chỉ là điều kiện cần,
hoặc chỉ là một cơ hội (do sự sơ suất của các chuẩn định), phần căn bản, yếu tố
đủ, chính là nội lực của thi sĩ. Mai Văn Phấn đã thể hiện điều đó bằng nỗ lực
“vong thân”, phủ định liên tục chính mình.
Đó là con đường sáng mà một thi sĩ có tư chất, có ý thức trách nhiệm như Mai
Văn Phấn đã nhận ra. Tuy nhiên, khi chấp nhận vong thân, đồng nghĩa với việc
Mai Văn Phấn phải trình hiện được hình hài, dung mạo mới, như là kết quả của sự
ra đi và kiếm tìm. Câu chuyện xảy ra là khi những thể nghiệm mới này trở thành
những hiện tượng cần diễn giải, xác lập tư cách hiện diện và nghĩa lý của nó
trong đời sống thơ ca đương đại.
Có thể nói Mai Văn Phấn là một trong số ít có
hành trình thơ liên tục cách tân, vượt thoát và thể nghiệm trong đời sống thơ
Việt Nam đương đại. Liên tục “vong thân”, phủ định chính mình để kiến tạo những
hình thái khác, Mai Văn Phấn đã hiện diện ở hầu hết địa hạt của các phương pháp
sáng tác, với các tác phẩm mang dấu ấn của nhiều thi pháp là hình dung căn bản,
bao quát nhất về thi sĩ này trong tiến trình thơ Việt Nam sau 1975. Về thể loại,
Mai Văn Phấn có thơ Lục bát, Bốn chữ, Năm chữ, Bảy chữ, Tám chữ, Thơ tự do, Thơ
văn xuôi,… Thậm chí, anh còn có một vài lần thể nghiệm biến tấu lục bát thành
6/6/8/8 (Em lần theo bóng mây trôi/ Thấm
qua sóng lá vô hồi/ Đẫm vào anh tiếng chim đôi bất ngờ/ Làm vang lên những dây
tơ vừa chùng// Nhòa tan anh với mông lung/ Em là giếng gió trong lòng/ Nhấn
chìm anh thoắt đã không còn gì/ Hư vô thành thật cũng vì yêu em – Em xa). Về chủ đề – cảm hứng, Mai Văn Phấn
gom tụ trong mình những xúc cảm phong phú của đời sống con người đương đại: mộng
mơ, lãng mạn, âu lo, hoài nghi, bi quan, khổ đau, hạnh phúc, tin tưởng, khát vọng,
với các vấn đề tâm linh, tôn giáo, tình yêu, sự tha hóa, môi trường, nông thôn,
đô thị, hậu chiến, tha hương, trở về,… Về hệ hình mĩ học, Mai Văn Phấn trải
nghiệm nhiều trạng thái, nhiều hệ giá trị, phạm trù: cái đẹp, cái cao cả, cái
bi, cái khác biệt, dị đồng, nghịch luận,… ứng với những bước vận động từ tiền
hiện đại đến hiện đại – hậu hiện đại và tân cổ điển. Về tư duy, những
bước đi của Mai Văn Phấn cho thấy sự dịch chuyển mạnh mẽ, mau lẹ về thế giới
quan, nhân sinh quan và quan niệm thơ gắn với chất sống ở mỗi chặng đường dấn
bước và trải nghiệm. Phải nói rằng, đó là cảm niệm về cuộc sống, trong sứ mệnh
làm người, làm thi sĩ mà Mai Văn Phấn đã chọn lựa. Nguồn sống mới, điệu sống mới,
góc nhìn mới khai sinh chất thơ mới, thi ảnh mới. Và, không thể khác được, một
công cụ mới, phương tiện kiến tạo thi giới cũng phải tương thích với những vận
động nội tại. Thơ sinh ra từ trong những đau đáu vượt lên, thực hiện phác đồ
người và sứ mệnh thi sĩ. Mai Văn Phấn từng chia sẻ anh không chú ý đến sứ mệnh
khi sáng tạo. Vậy đó, bản thân sự sáng tạo là sứ mệnh. Phải sống nhiều, sâu sắc
và toàn diện hơn để thấy được thể tính của sự hiện hữu, đó là chân lý mà Mai
Văn Phấn luôn tâm niệm trên những chặng vong thân. Nhạy cảm với những bất ổn
ngay từ vẻ ổn định bề ngoài, nỗ lực dịch chuyển của Mai Văn Phấn bày tỏ thái độ
kháng cự các chuẩn định có nguy cơ rơi vào khủng hoảng. Nói như Chu Văn Sơn, đó
là một thi sĩ “tự tri”. Sự thực thì, đó là thái độ của kẻ biết tự trách mình
trước khi trách người, tự thay đổi chính mình trước khi nói về một sự thay đổi
nào đó từ tha nhân, cộng đồng. Cách tân thơ ở Mai Văn Phấn trong sâu thẳm là
thái độ đối với sự sống, nghệ thuật. Rõ ràng, sống đời và sống thơ ở Mai Văn Phấn
là một phản nghiệm cho nỗi khổ đau đã từng làm Chế Lan Viên day dứt: Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp/ Giấc
mơ con đè nát cuộc đời con/ Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp/ Một mái nhà yên
rủ bóng xuống tâm hồn. Những yên ổn tù đọng, những cái đẹp chật chội, những
giấc mơ quẩn quanh,… đã làm con người đương đại – Mai Văn Phấn, không thể dung
hòa nổi. Đánh tan cái lặng phắc ngột ngạt và tù đọng trở thành nỗi thôi thúc
thường nhật với thi sĩ. Bởi thế, ra đi, chối bỏ như là hệ quả tất yếu, cũng là
động thái cần phải có của kẻ ý thức được thế nào là sống, thế nào là thơ (trước
hết là với tự ngã): Vẫn thói quen hào hứng
và lạc quan xưa cũ, ta ngẫu hứng một giai điệu gì quen lắm, sao thấy không hào
sảng và lôi cuốn như xưa// Vội ve vuốt một mầm cây vừa mọc dưới chân và tưởng
tượng ra mùi hoa trái dâng lên trong một khung cảnh mới. Đứng lên, ta hiểu mình
vừa xua đi một nỗi kinh hoàng (Giải
pháp). Kinh hoàng là trạng thái của con người khi nhận ra mình đang chìm
vào im lặng như cái chết. Sự quen thuộc và nhàm chán, nhạt nhẽo đang làm chết
những linh hồn hay chính những linh hồn chấp nhận sự im lặng hậu thuẫn cùng cái
chết. Mầm cây mới mọc là ẩn dụ về sự sống mới vừa hé mở cứu rỗi một nỗi kinh
hoàng đang xâm chiếm.
Cái đẹp mang tính điển phạm của dòng thơ truyền
thống đã không còn cuốn hút Mai Văn Phấn nữa. Ngay từ những bài thơ ở giai đoạn
đầu, đã có thể nhận ra những chất chứa bên trong dành cho phút giây vượt thoát:
Và rạng đông!
Từng giọt rạng đông!
Tôi lại nhập hồn về
với xác
Chẳng phải tôi, cũng
không là người khác
Để hồn nhiên cất tiếng
khóc lọt lòng.
(Hồn nhiên – 1992)
Chẳng phải tôi, không phải người khác, mà là một
sinh thể mới lọt lòng. Đó là cách diễn đạt về sự vong thân, phủ định để tái
sinh. Một trong những vấn đề cốt lõi của sáng tạo (sáng tạo thơ) là tinh thần độc
sáng. Độc sáng có giá trị hiển nhiên không đồng hành với sự lặp lại hay “đụng
hàng” (cách nói của Inrasara). Không “đụng hàng” với kẻ khác nhưng quan trọng
hơn, trong tâm thức của một thi sĩ, cách tân trước hết là để không đụng hàng với
chính mình. Muốn như vậy, theo Inrasara, phải
đọc nhiều. Dĩ nhiên, đọc nhiều để biết, để tránh. Nhưng, tôi nghĩ, Mai Văn Phấn
đã chọn con đường khác, không chỉ đọc nhiều mà quan trọng là phải biết “vong
thân”. Khái niệm vong thân đã hàm chứa trong đó sự phủ định, ruồng bỏ chính tri
thức, kinh nghiệm của mình (có một kênh thông qua con đường đọc). Quan niệm của
Mai Văn Phấn cho thấy chiều sâu của sự hình dung về con đường thi ca và sứ mệnh
nghệ thuật mà anh theo đuổi. Các địa hạt khác nhau, những bóng mây và vùng trời
khác nhau nói lên tính đa ngã của con người bản thể. Có thể, trong cùng một tập
thơ, người ta đã thấy nhiều nhân vị khác nhau, những trải nghiệm xa lạ của nó với
chính nó trong từng khoảnh khắc.
Ngẫm nghĩ khi đọc thơ Mai Văn Phấn thấy hiện lên
rất rõ một nhu cầu, có tính thường trực, đó là phải sáng tạo liên tục như là con
đường duy nhất để sống, để chứng minh nghĩa lý hiện diện của mình trong cuộc đời
và trong nghệ thuật. Như thế, không phải con người tạo ra nghệ thuật nữa, mà
nghệ thuật đang tạo ra con người, làm hiện hữu con người. Từ tập thơ đầu tiên (Giọt nắng) mà lời giới thiệu của Hội văn
nghệ Hải Phòng vẫn còn tỏ rõ những nét rụt rè, Mai Văn Phấn dường như đã dự báo
hành trình đầy biến động của mình. Ở thời điểm 1992, tập Giọt nắng của Mai Văn Phấn ra đời khá đằm thắm, nhuần nhị nhưng
cũng mang những dự cảm xa lạ. Có thể, cái đằm thắm đã sớm tự thú nó thuộc về hệ
hình cũ với những cảm thức đã quen thân, đã gắn bó với nhiều thế hệ thơ ca Việt
Nam, nhưng, ẩn sau vẻ đằm thắm ấy, con sóng ở lòng sâu đã quẫy lên, phá tan
không khí phẳng lặng dễ khiến người ta yên ổn và chấp nhận:
Chúa Jê-su và Phật
Thích-ca
Trên cỗ xe năm 2000
Cả Người tôi yêu mến
nữa
Họ cùng bên nhau lặng
yên.
Thế rồi xe tới Hoàn
nguyên
Họ vụt òa lên nức nở
Nước mắt thành đầu
còn cỗ xe thành chân trẻ nhỏ
Khi gửi xiêm y vào gió
Họ ôm chầm lấy nhau.
(Hoang tưởng năm 2000)
Tứ thơ cất giấu ý niệm rất sâu về sự vượt thoát đến
chân lý cũng là sự trở về với bản nguyên sơ khởi. Đạo là những con đường, có
nhiều, và đích chỉ có một. Đó là sự sống nhân văn tận cùng – tình yêu thương và
sự thấu suốt về lẽ sống tối thượng của loài người. Giọt nước mắt là biểu tượng
của trái tim – xúc cảm đã thay cho lý trí (cái đầu), cỗ xe (có phải là một biểu
tượng của văn minh) và đôi chân trẻ nhỏ là biểu tượng của sự sống ban sơ. Khi
giải trừ tất cả, mọi áo xiêm (cái hình thức che đậy bản chất của sự sống, cũng
là giới hạn, hữu hạn) đã tan đi, con người trở lại với hình hài và tâm tính
nguyên sơ của mình. Điểm đến cuối cùng của mọi con đường (Đạo), có lẽ, trong
quan niệm của Mai Văn Phấn là một thế giới đại đồng, không còn chia cách bởi
các quyền lực, giới hạn nhân tạo. Họ ôm
chầm lấy nhau là chân lý cho hành trình đi đến chất người của nhân loại. Ở
những chặng thơ sau, Mai Văn Phấn đôi lần nói đến nền văn minh tâm học, và, Hoang tưởng năm 2000 là một dự cảm không
hề hoang tưởng.
Như là một đối cực của con người lãng mạn, nồng ấm
yêu thương và khao khát sáng tạo, trên hành trình thơ Mai Văn Phấn có lúc định
hình một bản dạng cái tôi mang vẻ bất an, hoài nghi. Xem ra, càng yêu thương,
càng khát sống, người ta lại càng âu lo, nhất là khi phải đối diện với nhiều bất
ổn, bất an từ cuộc đời và nghệ thuật.
Đã âm thầm len chảy từ những tập thơ đầu, nhưng cảm
thức bất an, hoài nghi phải đến tập Hôm
sau mới thực sự trở thành ngọn sóng trào trong thơ Mai Văn Phấn. Ở đây, ta
bắt gặp một cái nhìn mới về hiện thực, con người và nghệ thuật. Có lẽ đó là điều
làm nên nguồn động năng đầy ám ảnh trong thơ anh. Nguồn động năng ấy chi phối,
quán xuyến tư duy nghệ thuật và mĩ cảm tạo nên khí hậu riêng của tập thơ – chặng
đường thơ mới.
Cuộc sống hiện lên phong phú, sinh động như vốn có
trong thơ Mai Văn Phấn. Như một nhà quay phim kĩ tính nhưng tham lam, Mai Văn
Phấn thu vào ống kính của mình những sắp đặt ngẫu nhiên của tạo hoá, để nó tự
nói lên thông điệp về tính thậm phồn, bất định, bất toàn của vũ trụ. Dụng công
của tác giả nhiều nhất có lẽ là những bận lòng đầy tỉ mỉ, những chăm chú khổ
tâm để tri nhận thể tính của hiện thực như nó đang là. Một hiện thực không thể
tin nhưng có thẩm quyền tồn tại, nó cất lời chối từ những giới hạn của khả
năng, để biểu đạt tính đa khả thể của cuộc sống: Nhưng hình như/ Mọi con vật trong nhà/ Vẫn được chế tác từ đồ phế thải:
Con mèo tam thể được sinh ra từ mớ giẻ rách?/ Cá bơi trong bể được gò hàn từ vỏ
lon beer?/ Chim hoạ mi hót trong lồng là chiếc ấm vỡ? (Không thể tin). Như một lời phản biện với quan niệm thông thường,
những hình dung mới làm thay đổi ý niệm về những cái mặc định. Sự thống ngự của
chủ thể quan sát hiện lên ở đây để thách thức và đòi thay đổi. Tại sao lại gọi
đấy là chim hoạ mi mà không phải là chiếc ấm vỡ? Ngôn ngữ mang tính võ đoán,
nên cách gọi tên chỉ thuần tuý là ý niệm tương đối do con người áp đặt. Đọc hết
bài thơ này của Mai Văn Phấn, con người hoàn toàn có thể tự đặt cho mình câu hỏi
để tiếp nối bài thơ!
Xuyên suốt tập thơ Hôm sau của Mai Văn Phấn là chuỗi những mảnh ghép phi logic của hiện
thực. Nói phi logic nghĩa là chúng ta đang bị chi phối bởi logic của quan niệm,
của sự áp đặt. Chính xác hơn đó là một logic mới, nó không đáng bị khinh khi, bị
chối bỏ. Sự quan liêu của những trật tự đã tồn tại làm con người mất đi khả
năng kiến tạo những “cú mới” (JF. Lyotard). Đồng nghĩa với điều đó là con người
cũ kĩ, tha hoá dần đi trong thể tính đã khuôn rỗng: Đêm tỉnh dậy. Đồ gỗ trong phòng mọc tua tủa nấm nhĩ. Bức tượng chảy xệ xuống thành nắm đất
nhão. Chiếc quạt mở ra lần cuối rồi khép lại làm ống tre (Quay theo mái nhà). Con người không thể
lại nằm xuống và tiếp tục cơn ngủ của mình. Nấm nhĩ mọc trong đầu, tâm hồn chảy
xệ, biến chất và lại giống trong guồng quay hỗn độn của đồ vật. Huyễn tưởng này
nói lên thân phận của con người trong môi trường sống ngày càng khắc nghiệt,
quay cuồng bất trắc.
Trong thơ Mai Văn Phấn, niềm bi quan về thân phận của
cái tôi hiện lên khá rõ. Cái tôi hoàn toàn mất đi bản lĩnh tự tôn đã tốn nhiều
tâm sức mới giành được sau hàng chục thế kỉ núp mình trong phận vị. Nó ngạo nghễ,
trịnh trọng tôn xưng suốt một thời Thơ mới, để giờ đây hoang mang hoài nghi
chính bản thân mình. Vẫn còn day dứt trong thơ Mai Văn Phấn cuộc giao tranh giữa
con người cá nhân cá thể với con người phận vị. Sự xung đột của “cái tôi”, “cái
siêu tôi” và “cái ấy” (lý luận nhân cách của S. Freud) làm con người mệt mỏi,
rũ rượi, muốn chết, muốn bóp cổ mình để hoá giải, chấm dứt sự giao tranh. Trong
cuộc đối đầu ấy, “cái tôi” khát khao hướng tới một sự sống toàn nguyên, trọn vẹn
nhưng không nắm chắc rằng mình sẽ sống sót. Dù sao, còn giao tranh nghĩa là còn
có cảm giác mình đang sống: Tôi đi hết ga
hết số. Răng nghiến chặt. Tay bóp cổ hắn. Kéo hắn lướt trên mặt đất... Đích đến
cuối cùng là buổi lấy phiếu tín nhiệm đề bạt, trả lời phỏng vấn, chuẩn bị phong
bao một đám hiếu, cuộc gặp gỡ một nhân vật quan trọng... (Đến trong ý nghĩ). Tự ngã và tha nhân đều
bị soi xét bằng cái nhìn hoài nghi của chủ thể. “Cái tôi” uất ức vì bị cưỡng chế,
“cái siêu tôi” bị giễu nhại bởi sự ngấm ngầm cựa quậy của “cái ấy” làm nên bi kịch
hiện tồn của con người: Đạo mạo nghe trộm
điện thoại/ Đạo mạo nhìn ngực chị em trong đám tang/ Đạo mạo ký tên vào công
trình khoa học/ Đạo mạo làm thơ tình khi đã liệt dương (Bài học).
Sự biểu đạt những tha hoá không phải là xa lạ trong
văn học thế giới và Việt Nam. Đó là sản phẩm của tình trạng con người bất lực,
buông xuôi trước cám dỗ và sức mạnh cưỡng chế của điều kiện sinh tồn (Chỉ là giấc mơ, Biết thì sống, Chuyện còn
dài, Nếu,...). Con người biết rõ mình đang từng ngày bị cuộc sống nuốt chửng
mà không sao cưỡng lại được. Trong vùng mĩ cảm bất an, ám ảnh về cái chết hiện
lên khá rõ. Bầu tử khí vẩn theo bóng quạ, xuyên qua màn đêm, gieo rắc niềm kinh
hãi lên sự yếu đuối đã kiệt quệ đức tin của con người: Đừng đến gần bóng râm/ Chúng là con quạ/ Xoã cánh lúc hoàng hôn, rạng
đông ...Cả chúng ta nữa, đang cồn cào cùng dòng sông đói khát. Những giọt nước
đục tìm cách lọt qua khe vải. Mặt nước khổng lồ ghìm nén xao động, mong giữ lại
bóng người. Bật que diêm rồi, vẫn nhớ ngọn bấc còn rất xa. Vung tay lên, nói một
mình trong bóng tối (Biến tấu con quạ).
Có chút gì chơi vơi trong tâm thức con người. Sự níu kéo, nỗ lực, buông
xuôi,... rồi tất cả bị nuốt vào cái bụng tối đen của con quạ. Mĩ cảm của tác giả
làm người đọc thực sự âu lo. Cái chết ẩn náu đâu đó trong những bóng râm, những
khoảng tối rồi bất thần ập đến. Lễ thiên táng cho thân phận được chính thức bắt
đầu.
Với những dự cảm bất an về thân phận, thơ Mai Văn
Phấn không ru ngủ người ta, mà đánh thức linh thị con người trong niềm khắc khoải
hiện sinh. Tư duy và mĩ cảm của anh khởi sự từ niềm bất an ấy. Sự hoài nghi và
chối từ trật tự, mĩ cảm cũ hướng tới một thế giới mà ở đó mọi khả năng đều có
thể xảy ra. Sự trực nhận của cảm giác xui khiến tư duy phủ nhận những khuôn thước
cũ đã chật hẹp, lỗi thời, những chuẩn mực đã méo mó, không còn khả năng định vị.
Tâm thế của con người trong bối cảnh sống chất ngất rủi ro đã hướng tư duy và
mĩ cảm của tác giả vào từ trường hậu hiện đại.
Mai Văn Phấn đã đi một chặng thật xa ngược chiều của
văn minh kỹ trị, để khảo tìm ký ức bị lãng quên của con người. Ký ức tinh thần
làm nên bản thể đã bị đánh mất, bị vương vãi/ cướp đoạt/ trao đổi/ mua chuộc/
thỏa hiệp dọc hành trình số kiếp đi tìm sự an trú. Nhìn về hành trình thơ Mai
Văn Phấn, nhất là ở các tập cuối (Hôm
sau, và đột nhiên gió thổi, Bầu trời không mái che, hoa giấu mặt, thả) ta
nhận ra điều này. “Dây neo trần gian”
giữ nguồn thi cảm của Mai Văn Phấn khỏi trượt vào vũng sâu của sự chán chường
và hủy diệt chính là niềm tin, gợi lên từ những giá trị nhân văn cao cả thiêng
liêng nuôi dưỡng nhân tính con người. Hãy đọc Hôm sau để thể nghiệm niềm bi quan; đọc và đột nhiên gió thổi, Bầu trời không mái che để thấy thi nhân còn
tha thiết tin tưởng vào cuộc đời và tình yêu thương. Đến hoa giấu mặt, thả đã thấy hiện hữu một cái tôi trở về, an nhiên, tự
tại và minh triết.
Vũng nước nhỏ dưới chân
núi
Soi
Tận đỉnh
(Nhìn)
Tôi rất tán thành với quan điểm của TS. Chu Văn Sơn
khi ông cho rằng thơ ca đương đại đang thực hiện một hành trình trở về với cái
tôi bản thể. Ông đặt ra một hệ suy luận: nếu cái tôi thời Thơ mới là cái tôi cá
thể, cái tôi trong Thơ ca cách mạng là cái tôi tập thể/ đoàn thể thì cái tôi của
Thơ đương đại là cái tôi bản thể. Cái tôi cá thể soi mình vào mọi người – cái
ngoài ta (ngoại vật và tha nhân) để nhận ra mình còn cái tôi bản thể soi mình
vào các giá trị phổ quát để tri nhận bản lai mục diện của mình. Soi mình là một
thể nghiệm, là một thao tác thuộc về “ý hướng tính” của chủ thể. Richter đã nói
một ý rất hay nhưng cũng thật đáng sợ rằng: “Đứng trước gương, tôi sợ hãi tự nhủ:
Ta muốn nhìn trong gương xem ta giống cái gì với đôi mắt nhắm nghiền”. Gương đại diện cho những giá trị
phổ quát, nó bình đẳng khi mọi người đến và soi mình vào. Ai có thể nhắm mắt để
thấy mình trong gương? Chỉ là khi ta có đầy đủ dũng cảm để đối mặt với giá trị
phổ quát của con người, ứng chiếu đời mình vào đấy, nhận ra ta có khi chẳng giống
mình chút nào.
Bản dạng của cái tôi ngày trở về là sự an nhiên giữa
lòng đời hôm nay. Mai Văn Phấn đã đi tìm những mảnh vỡ của ký ức tinh thần, những
di sản của giá trị nhân văn, nhân bản trong cuộc mua bán, đổi chác với văn minh
kỹ trị của con người. Thi nhân năn nỉ muôn loài đừng rời bỏ con người. Đám lá run rẩy ngoài song cửa, con nhện ngủ
mơ trên sợi tơ, đàn chim đập cánh lúc hoàng hôn, đàn cò đậu trên bình minh nham
nhở của vụ gặt, con trâu say ngủ, mạ chưa cấy, hương trăng trong đêm, ban mai
hoa nở, miệng chim non, lửa trong trái chín, tôi đứng giữa hai mùa, vầng mặt trời
nhấp nhô theo chân thiếu nữ lội qua suối (những ý thơ của Mai Văn Phấn),…
là chất sống mới tỏa ra trên bước chân trở về của Mai Văn Phấn. Ý tình dịu nhẹ
và kín đáo, lắng sâu nhưng có khả năng lay thức mạnh mẽ. Cảm thức về sự vô thường
hiện lên khi ta đứng giữa những khoảnh khắc của thời gian, gió cứ thổi qua cạm
bẫy và con thú, làn hương len qua những mũi gai, bước chân sột soạt trên lá –
dường như ai mách lẻo cho quỷ dữ về sự phòng bị của con người hay quỷ dữ đã rón
rén ra đi ?… Thi nhân cố gắng hàn gắn,
phục dựng sự sống hòa đồng giữa con người và muông vật như là chứng quả cho niềm
hoài vọng được trở về – một sự sám hối. Ta có thể tìm đâu trong nền văn minh cứng
lạnh sắt thép – bê tông, nóng rẫy những con đường ngày hạ, những đêm lịm im tiếng
gió, triền miên những tranh đoạt và lừa mị này bóng dáng lũ sẻ nâu trên mái,
con ong bên nhụy hoa, con chim sâu chuyền cành và cánh sen ngay ngắn rơi xuống
bùn,… Có thể, tất cả vẫn hiện hữu, nhưng con người đã khước từ/ đánh mất hoặc
không có cơ hội để chiêm ngưỡng những khoảnh khắc sống ấy. Con người tự biến
mình thành kẻ cô độc trong chiếc hộp sống nhân tạo. Con người đã rời bỏ sự sống
ấy để lao vào cuộc truy tìm chính điều mình đã rời bỏ: Hừng đông/ Miệng chim non/ Hớp những đám mây (Ngày mới); Chén trà/ Nhấp một
nửa/ Nắng trên tán lá còn ướt (Ban
mai thanh sạch); Mùa đông/ Dính chân
con chim/ Cất cánh lúc rạng sáng (Con mắt nghiêng – 45); Trong rừng sâu/ Con ếch lơ láo/ Nhìn tôi
(Con mắt nghiêng – 46),… Đóa vô thường
nở trong tĩnh lặng, niềm an nhiên của sự sống uyên nguyên, nhất thể, trở về
trong mĩ cảm của Mai Văn Phấn giúp ta có được trạng thái “thanh lọc”
(katharsis) cần thiết cho sự hiện hữu một cách hiền minh của mình.
2. Em – bến bờ của yêu thương và an trú
Nếu chủ thể trữ tình trong thơ Mai Văn Phấn mang
nhiều bản dạng khi thiên di qua các miền mĩ cảm khác nhau, thì “em” – đối ảnh của
cái tôi đa diện – đa ngã ấy vẫn luôn giữ vẻ đẹp bình yên, êm ấm, là nơi nương
náu cho cõi lòng phiêu lãng của thi nhân. Có điều gì mâu thuẫn ở đây? Một kẻ
vong thân, luôn khao khát những điều mới lạ, đi theo tiếng gọi của chân trời,
sao có thể yên lòng, an trú nơi một bến bờ nào cố định? Cách nghĩ ấy dường như
không thỏa đáng trong trường hợp của Mai Văn Phấn. Em ở đây, vừa là một hình tượng
cụ thể (vợ hay tình nhân), nhưng cũng có thể là một giá trị tượng trưng vĩnh hằng,
vừa dịu dàng trong trẻo, vừa nồng nhiệt phồn sinh, là khởi nguồn của yêu
thương, cũng là miền đất đai của mùa màng sinh sôi. Như thế, em là nơi ra đi,
cũng là nơi trở về, là ngôi đền thiêng của tình yêu thương và nhân tính cao cả.
Trong mắt có dây tơ hồng
Rủ bóng hình em ngơ ngẩn
Rừng cây cây mọc muôn trùng.
Lá cuốn mùa thu trải thảm
Anh về ngủ dưới chân em
Cơn mơ mơ lạc giữa đền.
(Em)
Anh về không xao động gió
Trời trong như nước đánh phèn
Vườn em, chờ không trút lá
Chuồn chuồn ngóng đậu ngoài hiên.
Nhìn nhau tựa hai giọt nước
Tan vào những khoảng vu vơ
Cùng góp với ai ngọn lửa
Dẫu là mình thành lá khô.
Theo em lạc vào vườn xưa
Nơi các thiên thần đã ngự
Nhớ thương cả lúc anh về
Lòng em cũng thành xứ sở.
(Anh về)
Anh mơ được em gieo trồng trên ngực
Bàn tay dịu dàng vun vào da thịt
Hôn lên tai anh lời chăm bón thì thào
Anh cựa mình nồng nàn tơi xốp.
Gió sẽ đến vỗ về từng chiếc lá
Lật phía bên kia che cơn bão đang về
Mùa đông em phủ lá vàng lên mặt
Nỗi ưu phiền mục ra trong lấm chấm mưa xuân.
Từng giọt mát lành thấm nhuần trong đất
Tươi từ môi anh đến gót chân em
Anh ngỡ mình được phép lành thánh thể
Đêm vừa qua hay đã mấy nghìn năm.
(Bài ca buổi sớm)
Hai thương nhớ
Một mùa thu ở giữa
Gió qua tay
Thanh thoát hao gày
Mùa màng nặng trĩu đôi vai.
Em chợt hiện
Từ hương thơm trái chín
Trong dập dờn bãi ngô mùa thụ phấn
Lá giật mình
Cá lặn xuống chân.
Hút mãi về em
Từng hơi thở đất
Anh hạn hán
Cơn mưa chiều tất bật.
Heo may thoảng hơi người phảng phất
Mặt nước trong veo một nỗi ngóng em về.
(Nỗi nhớ mùa
thu)
Ánh sáng đã ngủ yên
Ta đang hồi sinh
Trong vòng tay của đêm.
Như có lá mầm
Nở trong nụ hôn
Tiếng em gọi vang
Nơi bến xưa
Miệng chum
Bờ vực...
Anh chạy về
Rì rầm sóng tóc
Xuyên qua màn âm dương...
Nhựa trong lá mầm bắt đầu chảy
Máu trong huyết quản bắt đầu chảy
Những lạch nguồn bắt đầu chảy...
Chạm bờ ánh sáng
Anh quỳ xuống
Em hiện thân trong chiếc áo thiên thần
Lấy một ít nước gọi lên máu và sữa cỏ
Em dịu dàng rửa tội cho anh.
(Nghi lễ cuối
cùng)
Đọc những bài
thơ của Mai Văn Phấn, nơi hình tượng “em” hiện diện, thấy cuộc đời thật đẹp, thật
kỳ diệu, đáng yêu, đáng sống và đáng trân trọng. Không chỉ thi sĩ mà loài người
cần phải mang ơn “em” bởi những gì được gìn giữ, sinh hạ, nuôi dưỡng trong tình
yêu thương và dâng hiến của em. Không thể khác, đây chính là một hình tượng lớn
(bên cạnh cái tôi trữ tình), nguồn cảm hứng lớn, duy trì tinh thần nhân văn cao
cả trên những bước vong thân của thi sĩ.
3. Những tạo dựng thời gian trong thơ
3.1.Thời gian vật lý – những khoảnh khắc lóe sáng của thi cảm
Thời gian vật
lý là cách gọi những khoảnh khắc cụ thể, được xác định, gắn với kinh nghiệm của
con người. Trong thế giới nghệ thuật của Mai Văn Phấn, kiểu thời gian này có thể
được xem là một quy chiếu, làm bối cảnh cho
tâm trạng, cảm xúc, suy tư của nhân vật trữ tình. Dĩ nhiên, xét chi li, mọi yếu
tố trong thế giới ấy đều là sản phẩm của sự sáng tạo, mang quan niệm của chủ thể.
Thao tác có
tính cơ học khi khám phá chiều không gian này chính là việc tìm kiếm, thống kê
những biểu đạt thời gian cụ thể trong thi giới của Mai Văn Phấn. Chẳng hạn như:
mùa thu, mùa xuân, mùa hạ, ban mai, rạng đông, hoàng hôn, chiều (Khúc cảm mùa thu, mưa cuối hạ, qua hoàng
hôn, kinh cầu ban mai, chiều Trà Cổ, thoáng thu, gió xuân, thu về, nỗi nhớ mùa
thu, dấu hiệu mùa xuân, hát giữa hai mùa, lúc mặt trời mọc, ký sự mùa thu, sáng
mùa hè, đầu thu, dấu vết bình minh, mùa hạ rất gần, quyền lực mùa thu, tắm đầu
năm, mùa xuân, mùa thu đến, ngày biển lặng, mùa trăng, mùa gặt, ngày đốt đồng,
đêm dần sáng, rạng đông, tháng giêng, ngày giỗ Tổ, sáng sớm ở quê ngoại, giấc
mơ ban mai…). Chưa cần xem xét đến những cấu trúc bổ trợ, định tính cho thời
gian, chỉ riêng việc gọi tên thời điểm cụ thể đã nói lên sự nhạy cảm đặc biệt của
thi sĩ đối với thời gian. Đó là những khoảnh khắc kích hoạt nguồn thi hứng và tứ
thơ – bài thơ ra đời.
Thời gian
trong tư cách này là một cái khung (bên ngoài), nhưng có ý nghĩa gợi dẫn để
thâm nhập vào cấu trúc trữ tình của thi phẩm. Mai Văn Phấn không miêu tả thời
gian, hoặc nếu có nhắc lại khoảnh khắc ấy trong bài thơ, cũng chỉ như một sự
xác lập thời điểm của tâm trạng, cảm xúc, nhân vật, câu chuyện… (mỗi bài thơ đều
là một câu chuyện của tâm trạng và cảm xúc).
Hoàng hôn như một cửa chùa
Hư không trên ngón tay vừa đi qua
Ta ngồi nhập định cùng hoa
Thành chuông ai thỉnh ngân nga cỏ mềm
Cầm tay gió dắt vào đêm
Mà hồn xanh lỡ để quên cuối trời
Dấu chân xin cát chớ vùi
Cho ta về lại luân hồi kiếp sau.
(Qua hoàng
hôn)
Lá sen và ngó sen
Tỉnh dậy trong vòng tay của nước
Bờ vai em trong mịn nhô lên
Lại tan theo sóng lăn tăn...
Anh trấn tĩnh níu vào chân cỏ
Gọi em trong bầu trời mở rộng
Và màn đêm vừa tan ra quá nhanh.
Không nghe được tiếng mình
Chỉ thấy tiếng hoa loa kèn vọng lại
Nhưng anh tin là em đã nghe.
Em đã nghe
Nên gốc cây vừa tưới mới ngấm nhanh đến thế
Vòm phượng vĩ đẫm sương sáng nay bốc cháy
Những quả ngô đồng khô nỏ khua vang.
Lao vào đất những ngón chân khát nước
Chiếc lá mới nhô lên đặt lại ca từ
Lửa đã bén trong không gian lặng lẽ
Từ nỗi niềm vừa rơi xuống vỡ tan.
(Sáng mùa hè)
Nước đọng dưới chân núi
Một viên cuội nằm trên phiến đá cao
Không chớp mắt trong tinh khôi, yên tĩnh
Đêm qua ở đây có mưa
Ai đã ngồi kia trước hay sau mưa nặng hạt
Tự nhiên nhớ em, rất nhớ
Anh không dám nhìn đi nơi khác
Để trời xanh ngấm xuống gót chân
Từng mưa to, mưa rất to
Tắm táp cho viên cuội nhỏ
Chỉ riêng hình ảnh này
Đã làm anh yêu đời mê dại
Hình như nắng sớm đang phủ lên đỉnh núi
Làm trong suốt lòng đất, lòng cây.
(Vô tình trong
nắng sớm)
Con người
không thể thoát khỏi thời gian, không gian (nhưng có thể dịch chuyển trong
không gian, còn dịch chuyển trong thời gian vẫn chỉ là câu chuyện viễn tưởng,
chỉ có trong nghệ thuật). Chính vì vậy, một trong những ám ảnh lớn của con người
là ám ảnh về thời gian. Thời gian gắn với hiện hữu, hay đúng hơn, thời gian là
hiện hữu. Mai Văn Phấn nhạy cảm với thời gian, trước hết ở những khoảnh khắc
đánh thức cảm giác sống, gọi dậy những nỗi niềm đã âm thầm kết đọng trong lòng
người giữa dòng thời gian.
3.2. Ký ức và những ân huệ từ quá khứ
Quá khứ là một
quan niệm về thời gian, được xác lập, nhằm gọi tên những khoảnh khắc đã ở lại
phía sau trên hành trình sống của con người. Thực tình, thời gian luôn là hiện
tại (ý M. Heidegger), cái đã qua chỉ là một phần, một điều gì đó của hiện tại –
hiện hữu, đã biến mất, đã quên lãng hoặc chỉ còn trong ký ức. Mà, bản thân ký ức
cũng chỉ là một phần của quá khứ. Bởi lẽ, chỉ những gì đáng nhớ, được nhớ,
không thể quên mới làm nên ký ức. Dẫu vậy, xét đến cùng, ký ức vẫn là một trạng
thái của hiện tại, nó luôn có khả năng chi phối đến hiện tại, thậm chí quyết định
hiện tại.
Thơ Mai Văn Phấn
có nhiều ý tình khởi sinh từ ký ức. Trong đó, đáng lưu ý nhất là ký ức tuổi
thơ, ký ức về những điều tốt đẹp, nguyên sơ, thánh thiện đã từng có, đã trôi
qua, chỉ còn trong nỗi nhớ của con người hiện tại.
Ký ức tuổi thơ hun hút xa như chiếc vòi rồng
Cuốn sạch cả bờ sông cát bụi
Tôi sợ hãi nép vào bóng tối
Thương dấu chân mình cùng đàn kiến lang
thang...
Giờ nỗi cô đơn lại sà xuống vần xoay
Chiếc vòi rồng muốn hoá thân tôi thành cát bụi
Mặt trời chiều hay trái cây chín vội
Rụng xuống lòng mình
Trĩu nặng
Trần gian.
(Cát bụi và
tôi)
Úp mặt vào bóng tối lùm cây
Gió đang chạy trên lưng mình những bước chân
đô thị
Bóng tối dẫn tôi về ngôi nhà của mẹ
Ngôi nhà như chiếc bánh không nhân.
Nhặt được đồng xu cùn gỉ cuối sân
Ngỡ chạm phải tay mình ngày thơ ấu
Những dấu chân ai lún sâu lỗ đáo
Từng kiếp người mở mắt...
thấy đôi chân cò lội nước trắng mênh mông.
Nơi chó đá đầu làng vẫn sủa những con trăng
Có tiếng gọi nghe buồn như củi ướt
Thương quê nghèo mẹ tôi ra bến sông
Vớt những câu ca chưa tan vào nước.
Mẹ ơi mẹ! Giờ con thấy bóng râm từ bùn đất
Đất ở dưới chân mà cao hơn những suy nghĩ của
mình
Đêm thai nghén những thị thành trứng nước
Ai ấy còn ngơ ngác trước văn minh.
Trong bóng tối lùm cây tôi chợt nhận ra mình
Với nỗi e dè từ cái thời Văn Lang lúa nước
Nỗi e dè tự thắp mình lên làm ngọn nến mùa
thu đi rước đuốc
Và ngôi nhà của mẹ là chiếc đèn lồng lặng lẽ
sáng dần lên.
(Nhật ký đô thị
hóa)
Ký ức cưu mang
hiện tại. Nhưng, ký ức cũng là nỗi đau đối với hiện tại. Con người có thêm hạnh
phúc vì những điều tốt đẹp chưa quên, nhưng đồng thời, cũng luôn bị giày vò bởi
ký ức đớn đau. Những thường tình nhợt nhạt rồi sẽ mau chóng phai đi, chỉ hạnh
phúc và khổ đau ở lại, dõi vào hiện tại như một chứng nhân, một đồng hành, một
sẻ chia, một tiếc nuối, một vẫy gọi…
Con chim bay vút lên không
Để lại gió với cánh đồng rộng thênh
...
Phù sa trôi lúc sóng
duềnh
Thương cây cuối bãi đầu
ghềnh cạn khô
...
Gọi tìm tôi thuở dại
khờ
Về thương tôi của bây
giờ tinh khôn
(Không đề I)
Đem thời gian bắc cầu vồng
Gieo cơn mưa xuống cánh đồng tuổi thơ.
(Mưa cuối hạ)
Từ cái nhìn mỏi
mòn và bất an của kiếp sống lưu đày trong hiện tại, tuổi thơ là một thiên đường
đã mất. Chính vì thế, mộng mơ về ký ức, sống lại những khoảnh khắc ấu thơ trong
hoài niệm là trạng thái tinh thần chung của nhân loại. Bao giờ cho đến ngày
xưa? Ký ức hiện về, vừa như cứu rỗi, vừa như sự chất vấn, cũng là sự tự thú trước
những tha hóa của hiện tại.
Em đi cùng đám mây bông
Mình anh gió hú dọc sông Ngân Hà
Tàn mùa chiếc lá lia
qua
Cho cô đơn ấy xẻ ra mấy
phần
Sáng thì làm trăng
thượng tuần
Lu thì ghép với mấy lần
cong vênh.
(Một mình)
Không nghi ngờ gì nữa, ký ức ấu thơ, quá khứ với
những điều tốt đẹp hơn đang ở cùng hiện tại trong nỗi nhớ của con người. Ở đó,
hiện tại vơi đi những nhọc nhằn và hoang mang. Cũng có thể, ở đó, tương lai đã
được định đoạt, nhờ khoảnh khắc kẻ vong thân ngoái nhìn và hàm ơn ký ức.
3.3. Những quãng thời gian tàn úa
Khi người ta nghĩ
nhiều về quá khứ, nương tựa vào ký ức, cũng có nghĩa là hiện tại đang có điều
gì bất ổn. Đúng vậy, trong thơ Mai Văn Phấn, có những quãng thời gian cái tôi
trữ tình lâm vào trạng thái hoài nghi, bất an. Trong tâm trạng ấy, thời gian hiện
ra là những khoảnh khắc mọi vật rơi vào tàn úa, men dần đến sự hủy diệt:
Ừ, thì ra cát bụi
Là một đời thân xác đớn đau
(Hồn nhiên)
Có đám tang hoa cúc
Đưa qua bên kia sắc vàng
(Cuối xuân đầu
hè)
Em nói bâng quơ: Mùa xuân rồi cũng tàn
Anh ghì lấy bao nỗi lo toan vai em gày nhỏ
(Thương em)
Tàn mùa chiếc lá lia qua
Cho cô đơn ấy xẻ ra mấy phần
(Một mình)
Một thời phờ phạc thiên di
Tìm trong bóng nước thấy gì nữa đâu
(Thay lời chim
làm tổ)
Có hai dạng
thái của thời tàn trong thơ Mai Văn Phấn. Dạng
thứ nhất, được gọi tên: tàn mùa, thời phờ phạc thiên di,… Dạng thứ hai : không được gọi tên,
nhưng lại ẩn chứa phần lớn cảm nhận về thời gian – tàn úa, hủy diệt. Ở đây, thời
gian là cái khung của hiện hữu, khi cái tôi trữ tình hoang mang, bất an đang từng
ngày nếm trải.
Khai sinh
Sau tiếng quạ kêu
Ra đi không cưỡng lại
Gói bọc được mở ra
Sự băng hoại không thể cất giấu
Thày lang đốt sách cuối vườn
Tân dược trong kho đều quá hạn sử dụng
Những phù thuỷ chịu hình phạt
Miệng bị đóng bởi những móc sắt
Khai sinh
Khi quả chuông rơi xuống bất ngờ
Chụp lên đầu người bõ già
Con cá nhảy vào đám mây tự vẫn
Buông ngang trời ngàn vạn lưỡi câu.
…
Những đau khổ tột cùng ngoái nhìn đời sống tưởng
chừng đã chết. Áo khoác kêu thất thanh khi đi qua bàn tủ. Máy điện thoại im lìm
ngủ. Chiếc kẹp ghim mở miệng cố giấu đi móng vuốt. Cán chổi móc vào tay người
lao công, kéo chị ta về bên hố rác. Vành mũ trên đầu kêu thảng thốt, rồi cúi xuống
rỉa hết mặt nhân viên bảo vệ. Không ai mở cổng. Nhiều người vẫn tìm được lối đi
vào.
...
Bóng đêm chui dần vào bụng quạ.
Cả chúng ta nữa, đang cồn cào cùng dòng sông
đói khát. Những giọt nước đục tìm cách lọt qua khe vải. Mặt nước khổng lồ ghìm
nén xao động, mong giữ lại bóng cây. Bật que diêm rồi, vẫn nhớ ngọn bấc còn rất
xa. Vung tay lên, nói to một mình trong bóng tối.
Con quạ khật khừ xuyên đêm
Thảng thốt kêu
Lần đầu tiên tiếng động ra đi không vọng lại.
(Biến tấu con
quạ)
Không gọi tên
thời gian, định tính thời gian, nhưng thời gian vẫn hiện diện trong sự bí bách,
chật vật, đầy hăm dọa đối với sự sống. Đó có thể là đêm của ác mộng, ngày của
tha hóa, những rạng đông hay hoàng hôn ẩn chứa cái chết. Bầu khí quyển câm đặc
hay rỗng rượi, bao phủ lên dáng hình con người đang vật vã trong hiện tại.
Tuổi hão huyền trong nắng sớm
Bóng mình che vạt cỏ
non
Ban trưa ngốt trong hư thực
Bóng về dưới chân vo tròn.
Trăng rằm chẳng sáng được hơn
Thân xác vẫn dừng bên cửa
Bóng cứ muốn hoà với gió
Mặc ảnh trên tường mốc meo.
(Bóng mình)
Tay ta những ngón sum suê
Gọi nhau mười nẻo đi về lặng câm.
Trong sương khói có sóng gầm
Một mai vọng xuống cát lầm tạnh khô.
Mặt người viên cuội chơ vơ
Bông lau sóng tóc bơ phờ bạc mau.
Hoa tàn cây vẫn còn đau
Hương thơm quyến luyến trên đầu cỏ xanh.
Hồn mình dựa chốn mong manh
Rồi hư danh ấy cũng thành hư không.
(Kinh cầu ban
mai)
Nỗi khắc khoải buông vào hừng đông nhện sa
Bàn tay chai sần mong se thành tơ sợi
Giăng mắc đó đây bao giọng nói không đầu
không cuối
Những cây rơm u mê, ngớ ngẩn dưới mưa dầm.
Ngỡ chiến tranh về theo sau lưng mình
Phòng lạnh cơ quan thoảng mùi thuốc súng
Nọc độc chạy trong công
văn, dây điện thoại, bò cả vào vi-tính...
Những dại khờ mắc bẫy dưới bình minh.
Lẽ phải vùi chôn trong đơn thư nặc danh
Đồng tiền lật ngược trang hồ sơ khởi tố
Có mặt quỷ sau mặt người lấp ló
Quỷ thì run mà người thì buồn.
...
Muôn ngàn nỗi đau giăng biển báo nơi nơi
Chưa ngăn nổi những giao tranh tàn khốc
Dầu lửa và thức ăn, tôn giáo và sắc tộc
Ta ngỡ mình đã gặp tên sát nhân bị giải đến
LA HAYE.
Trên mạng lưới thông tin đại chúng hàng ngày
Chuyện giải thoát con tin, chuyện đặt bom khủng
bố
Những chiêu bài tự do, nhân quyền, dân chủ...
Thiện–Ác bây giờ cùng lôi kéo văn minh!
(Nỗi đau phát
sáng – Người cùng thời)
Thời gian tàn
úa, hủy diệt trong thơ Mai Văn Phấn tập trung đậm đặc ở quãng thơ mang tinh thần
hậu hiện đại (với những dấu hiệu từ Vách
nước, Nghi lễ nhận tên, Người cùng thời, đặc biệt với tập Hôm sau). Sống trong thời gian ấy, cái
tôi trữ tình (như đã trình bày ở trên) là một hình tượng đại diện cho thân phận,
tình thế của tồn tại người. Hoài nghi và bất an, con người ấy cảm nhận rất rõ sự
bủa vây của những điều phi lý, đe dọa sự sống, kéo trượt tất cả vào vực thẳm của
sự tha hóa, băng hoại. Có thể xem, đây là quãng thời gian bi kịch đối với chủ
thể trữ tình.
3.4. Thời gian chuyển động về phía sinh sôi
Thi pháp học
nhấn mạnh thời gian nghệ thuật là thời gian mang tính quan niệm. Nghĩa là, thời
gian được tạo dựng, mang cảm quan, ý hướng của chủ thể sáng tạo. Đơn giản hơn,
có thể hiểu, thời gian nghệ thuật cũng như mọi yếu tố khác nằm trong thế giới
nghệ thuật, đều là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ. Nó không đòi hỏi đối chiếu với
thực tại.
Thế giới nghệ
thuật thơ Mai Văn Phấn hiện diện một cái tôi đa diện, với nhiều bản dạng nhân
cách khác nhau. Tương ứng với mỗi bản dạng, là những quãng thời gian khác nhau.
Có lúc, quá khứ sống dậy trong hoài niệm và cưu mang hiện tại; có lúc con người
lâm vào những thời khắc bi kịch, úa tàn; nhưng, thời gian chứng kiến những mộng
mơ lãng mạn, nồng ấm yêu thương và khao khát hiện sinh vẫn chiếm phần rất lớn,
có thể xem là chủ đạo trong thơ Mai Văn Phấn.
Và rạng đông!
Từng giọt rạng đông!
Tôi lại nhập hồn về với xác
Chẳng phải tôi, cũng không là người khác
Để hồn nhiên cất tiếng khóc lọt lòng.
(Hồn nhiên)
Trái đất – Căn nhà hộ sinh
Tiếng trẻ con chào đời truyền trong không
gian xanh những dòng
mật mã...
Đêm đầu mùa
Anh cuống quýt hôn em qua kẽ lá
Khi sương tan cành biêng biếc xanh.
Cô đơn tràn bãi trưa hanh
Mùa đi rung cây lá đổ
Phải dằn dữ và cũng mềm như gió
Gió từ biển xanh mang sắc của trời.
Bình minh lên chiếu sáng nửa đời
Còn nửa kia chìm vào bóng tối
Bao lối cỏ cứ xanh vội vội
Thấm lên bàn chân ai qua.
Sóng trên cây thầm thĩ mỗi hiên nhà
Con đò thời gian hối hả
Khi mỗi chúng ta là
chiếc lá
Thì rừng hoang bỗng
hoá nhà mình.
Trái đất – Căn nhà hộ sinh
Tiếng trẻ con chào đời
truyền trong không gian xanh những dòng
mật mã...
(Màu xanh)
Hương hoa vừa đến
cùng ta
Mắt chờ ấm cả sương
sa cuối chiều
Xuân về trong gió
liêu xiêu
Nỗi buồn đã hé ít nhiều
lá non
Đài hoa hay bóng
trăng tròn
Lung linh buông xuống
lối mòn bàn tay
Mùa hoa gom cả ánh
ngày
Cho xanh hồn lá nhẹ
bay về trời
Thấy mình là gió thoảng
thôi
Còn trăm năm giấu nụ
cười trong hoa.
(Hoa ngọc trâm)
Mắt rạ rơm đốt thiêu
mùa cũ
Đổi thay cách nhìn và
khoảng trống chân trời
đất nhận cả những gì
còn cháy dở
mùa mới về tự tin,
nghiền nát và xoá hết
Nụ hôn nín thinh, toả
nhiệt, khoan vào lòng đất
chạm những mạch ngầm ứ
căng huyền bí thuở xưa
Đất mỡ màu quyện rạng
đông dâng lên khuôn mặt
dâng lên cỏ cây phồn
thực bời bời
Những mùa tái sinh trổ
đòng chín rục
Sấm nổ vang trong lòng tay mầm hạt
Vòng phù sa tươi ròng ấp ôm thớ đất
Em cúi xuống và dòng sông ùa đến bất ngờ.
(Bài hát mùa
màng)
Ngày chói gắt và rạng rỡ
Rũ trên đoá hoa trinh nữ
Dịu dàng khép lại
Đây là thời khắc ái ân
Thắp sáng lãnh địa bóng tối
Mùa phồn sinh thụ phấn, kết hạt
Mặn nồng thiêm thiếp trăng khuya
Bó gối những gốc cây
Nhắm mắt ngọn đồi gió
Hạt giống rơi trong bùn ngấu thảnh thơi
Ngày mai mặt đất này
Và thế giới sẽ đổi khác.
(Mùa trăng – Bầu
trời không mái che)
Nhạy cảm với
thời gian, ý thức một cách rốt ráo về những thay đổi của vạn vật trong dòng thời
gian, nhất là những gì sẽ mất đi, sẽ tàn úa, hủy diệt, Mai Văn Phấn luôn tha
thiết hướng đến những khoảnh khắc sự sống được cứu rỗi, được tái sinh, để từ đó
tôn vinh sự sống. Có lẽ, đây là nguồn mĩ cảm lớn nhất, bền bỉ nhất, nhiệm màu
nhất trong thơ Mai Văn Phấn. Thời gian ở đó, chứng kiến sự sinh sôi, dù lặng lẽ
âm thầm hay cuồng nhiệt khát khao. Trên hành trình vong thân, kiếm tìm những
khoảnh khắc sống đời và sống thơ, kiểu thời gian này chứng thực nguồn năng lượng
nhân văn cao cả, vĩnh hằng trong thi giới của Mai Văn Phấn. Đó cũng là một đối
trọng để kháng cự và nâng đỡ con người trong cơn lâm lụy. Mới hay, người nghệ
sĩ, dù có đi xa đến đâu, dù có bất an đến đâu, vẫn luôn giữ trong lòng mình một
tình yêu thương đối với sự sống, hướng về sự sống. Chân lý của sáng tạo nghệ
thuật, xét cho cùng, nằm ở đức tin, tình yêu thương vĩnh hằng ấy mà thôi.
3.5. Thời gian thiêng – đức tin về những nhiệm màu của sự sống
Con người chuẩn
bị cho hiện hữu của mình không chỉ trong hiện tại, trong nhân giới, vật giới,
mà còn cho cả tương lai và cõi giới bên kia. Không phải ngẫu nhiên, cả ở phương
Đông và phương Tây, thần học – huyền học (cũng cần kể thêm về sự hiện diện của
tâm học) luôn phát triển song hành cùng các thành tựu của trí tuệ khai sáng. Thế
giới của sự sáng rõ càng mở rộng thì sự mơ hồ huyền bí cũng đồng thời được giãn
nở. Ý thức biết rằng, mình chỉ là một phần của thức (ý thức, vô thức, tiềm thức,
thần thức...). Sự không biết – không thể kiến – giải trở thành nhận thức ngày
càng phổ biến của nhân loại.
Kinh nghiệm và
ý niệm về cái thiêng, định hình kiểu thời gian tâm linh trong hành trình sống của
con người. Thơ Mai Văn Phấn, ở khía cạnh này, nổi bật lên những khoảnh khắc sống
của một con người giàu đức tin: tin vào những điều bí ẩn huyền diệu, tin vào sự
linh thiêng, tin vào tự nhiên, tin vào cuộc sống và các giá trị nhân văn cao cả.
Đức tin là nguồn gốc của cái thiêng. Có thể, trong tư cách một tín đồ Thiên
Chúa giáo, một cư dân làng xã – lúa nước phương Đông gần gũi với Đạo Phật, Đạo
Mẫu, Tín ngưỡng phồn thực, quan niệm vạn vật hữu linh và tư duy tổng hợp duy
linh, Mai Văn Phấn đã hợp nhất những ý niệm thời gian riêng rẽ ấy vào trong một
hình thức: thời gian thiêng. Ở đó, sự bí ẩn, siêu hình, huyền diệu của sự sống
được hiển lộ.
Cây lá ở Nghi Tàm
Thon những bàn tay Phật
Ta nhìn vào sương tan
Thấy lòng mình trong vắt.
Tiếng thời gian khoan nhặt
Bên thềm rêu gọi hè
Không gian như phủ chúa
Hoa cười vang cung mê.
Ai đang dẫn ta về
Thành Thăng Long mây khói
Nền xưa và dấu xe...
Phải tiếng em vừa gọi?
Màu hoa chừng rất vội
Hồn ta cứ la đà
Chắp tay làm chiếc lá
Ngỡ mặt mình đơm hoa.
(Nghi Tàm)
Hoàng hôn như một cửa chùa
Hư không trên ngón tay vừa đi qua
Ta ngồi nhập định cùng hoa
Thành chuông ai thỉnh ngân nga cỏ mềm
Cầm tay gió dắt vào đêm
Mà hồn xanh lỡ để quên cuối trời
Dấu chân xin cát chớ vùi
Cho ta về lại luân hồi kiếp sau.
(Qua hoàng
hôn)
Từng giọt mát lành thấm nhuần trong đất
Tươi từ môi anh đến gót chân em
Anh ngỡ mình được phép lành thánh thể
Đêm vừa qua hay đã mấy nghìn năm.
(Bài ca buổi sớm)
Có một Tháp Chàm khác nữa
Là em nghiêng búp tay thon
Dắt anh từ hoa văn rêu phủ
Qua nghìn năm vang bóng những linh hồn.
(Ảo ảnh Tháp
Chàm)
Xin hân hoan với Người cùng thời
Dưới Thánh đường Ban-Mai-Cao-Cả
Cùng vang ngân trong giờ phút lên đường
Lời cầu nguyện cho những gì đã âm thầm nằm lại.
Một Người cùng thời xướng rằng:
Rạng đông hình lưỡi hái
Phát quang rừng cỏ đêm
Những đám mây hoang dại
Rủ chúng ta đi tìm.
Và thấy trong tiếng chim
Một ban mai vừa nở
Một bọc trứng vừa nở
Trong chiếc nôi sương mờ.
(Người cùng thời)
Vỡ từng huyệt mộ
nghiêm
cẩn nhặt lên từng tiếng tổ tiên
Làng ơi!
run
tay sắp đặt lại xương cốt
trước
khi trời rạng.
(Làng)
Đọc các ví dụ ở
trên, người đọc cảm nhận được những khoảnh khắc vạn vật và con người được bao bọc
trong bầu khí quyển của sự lành thánh, hứa hẹn sinh sôi, tái sinh hoặc thay đổi.
Đêm, rạng đông, ban mai, hoàng hôn hoặc nghìn năm, vạn kiếp luân hồi… trong cảm
quan của cái tôi trữ tình giàu đức tin, luôn hướng về sự sống, đã trở thành những
thời khắc linh diệu. Kiểu thời gian này, vừa như một sự cứu rỗi đối với thời
gian tàn úa hủy diệt, vừa như sự tiếp sức – đồng hành, làm gia tăng tính màu
nhiệm cho thời gian chuyển động sinh sôi. Hiện lên trong khung thời gian ấy là
con người, đang đối diện hoặc được chiếu rọi, dẫn dắt bởi nguồn năng lượng siêu
nhiên đến từ cõi thiêng.
(Còn tiếp Kỳ II)
Hà Nội 8/2024
N.T.T
Nguồn: http://maivanphan.vn.