Chữ
“Hưng”

Hưng
– thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
Khánh
Ly
“Lửa theo hưng thịnh bao đời
Tro than gieo vãi về nơi cấy cày.”
(Mai
Văn Phấn)
Hưng,
chữ Hán viết 興. Đây là một chữ rất quen thuộc trong tư
duy Á Đông, dùng để chỉ sự dấy lên, khởi phát và thịnh vượng của con người, sự
việc và thời thế. Theo sách Thuyết Văn Giải Tự, Hưng có nghĩa là bắt đầu, đứng
dậy. Chữ này được cấu tạo từ bộ Dư 舁 (khiêng, mang) và
chữ Đồng 同 (cùng, chung). Đây là một chữ hội ý,
trỏ việc nhiều người cùng dồn sức nâng một vật lên. Ngay từ hình thể ban đầu,
chữ Hưng đã ẩn chứa ý niệm về sự khởi lên nhờ đồng lực.
Từ
nghĩa gốc “cùng nâng lên”, chữ Hưng trong cổ văn dần mở rộng nghĩa thành hưng
khởi, hưng thịnh. Trong kinh điển, Hưng thường đi đôi với Vong 亡
để nói về vận mệnh của quốc gia và thời cuộc. Kinh Thư có câu: “Dữ trị đồng đạo
võng bất hưng, dữ loạn đồng sự võng bất vong 與治同道罔不興,與亂同事罔不亡”,
tạm dịch là: Theo đạo trị nước thì ắt hưng, theo lối gây loạn thì ắt vong.
Chữ
Hưng cũng cho thấy nét đặc trưng về sự bắt đầu mang theo khí thế trong tư duy
người xưa. So với chữ Khởi 起 chỉ hành động đứng
dậy đơn thuần, Hưng mang sắc thái lan tỏa và cộng hưởng hơn, giống như một vật
được nâng đỡ từ nhiều bàn tay. Đó là lý do mà trong cổ văn, ta thường gặp những
từ như hưng thịnh, hưng vong, hưng vượng, chấn hưng,... đều ngầm chỉ sự gây
dựng dựa trên thế chung, lực chung, chứ không phải sức riêng của một cá nhân.
Ngoài ra chữ này còn mang nghĩa nhìn cảnh vật mà gợi lên cảm xúc, gắn với âm
đọc "Hứng" quen thuộc như trong các từ cảm hứng, hứng thú, hứng khởi,
thi hứng,...
Trong
văn hóa đặt tên của người Việt, Hưng là một chữ mang nhiều kỳ vọng. Đặt tên con
là Hưng, cha mẹ thường mong con biết vươn lên, gây dựng cuộc sống và làm rạng
điều mình theo đuổi. Song xét theo nghĩa gốc của chữ, Hưng còn là hy vọng con
trở thành người vững chãi, dù đứng ở nơi nào thì việc nơi đó đều có đà khởi
sắc. Đồng thời, đó cũng là lời nhắc vững tâm rằng con không đi một mình, vì
chung quanh luôn có sự nâng đỡ và sẻ chia từ gia đình, người thân, bạn bè và
những người yêu thương con. Sự hưng thịnh ấy xét cho cùng, đều hình thành từ
việc con biết đứng cùng những người bên cạnh, cùng con tạo thế đi lên.
“Văn minh đèn điện sáng loè,
Thông thương kỹ nghệ mọi bề chấn hưng.”
(Ca
dao)
“Để cha mẹ chồng con được cậy.
Cuộc vinh hoa chen với người đời.
Cửa nhà hưng thịnh thêm vui,
Lắm người nhiều của rạng đời tiếng
khen.”
(Thơ
khuyết danh)
蕭蕭旅鬢傷春暮,
耿耿孤懷怯瘴氛。
俗累不關清興足,
看山看水又看雲。
Tiêu tiêu lữ mấn thương xuân mộ,
Cảnh cảnh cô hoài khiếp chướng phân.
Tục lụy bất quan thanh hứng túc,
Khan sơn khan thuỷ hựu khan vân.
Xuân tàn đất khách tóc tung bay,
Đơn chiếc lòng lo chướng khí đầy.
Tục luỵ xa rồi thanh hứng đủ,
Xem non, xem nước, lại xem mây.
(Nguyễn
Phi Khanh, bản dịch thơ Đào Phương Bình)
“Thời hưng vong bĩ thái là thường
So mới biết chữ “đại” với chữ “cường”
không hạn lệ
Việc trước mắt năm châu là thế
Cuộc trần hoàn dâu bể, bể dâu
Đường văn minh nào có hạn ai đâu
Muốn hạnh phúc, chữ tự cầu ta phải biết”
(Tản
Đà)
“Đời hỏi gì ta? Hồn ta đây!
Nhìn đêm mắt rụng hay sao bay ?
Ta đến đây đất trời hưng thịnh
Đời hỏi gì ta trong ánh ngày ?”
(Huy
Cận)
K.L

(Nguồn:
Fanpage “Tri thư đạt lễ” – 知書達禮)