image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement





























Radio số 01: Sắc chữ hương văn – Dành cho học sinh trung học phổ thông

Radio số 01: Sắc chữ hương văn

 

 

Đề 09:

Bàn về thơ, tác giả Mai Văn Phấn cho rằng:

“Thơ hay trong khoảng im lặng giữa các chữ, là mang đến cho ta niềm ngạc nhiên về thế giới, sự run rẩy trong tâm thức”

(Trích “Thơ tuyển Mai Văn Phấn cùng tiểu luận và trả lời phỏng vấn”, NXB Hội Nhà văn, tr. 388)

Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về ý kiến trên qua việc phân tích bài thơ “Giấc mơ đi qua” của tác giả Mai Văn Phấn

 

Giấc mơ đi qua

 

Giấc mơ đêm qua cuốn ào ra ngõ

Sóng tung bờm trên ngọn cây

Những dòng chảy cuộn sôi lối phố

Gót đêm còn vương lưới ban ngày.

 

Tấm lưới nghìn năm dằng dặc miệt mài

Ai đã kéo sau mỗi cơn binh lửa

Suốt đời mẹ đan những sợi ban mai âm thầm bên khung cửa

Khi đón cha đêm đã nhạt cuối vườn.

 

Ta kéo lưới lên từ cánh cửa vẹt mòn

Từ tiếng chân người quờ tìm giày dép

Những ngái ngủ, mơ hồ, ngơ ngác

Đang lặng chìm xuống đáy bình minh.

 

Dưới những mái nhà còn ôm nửa bóng đêm

Ta hay đám rêu phong ẩm mốc

Rùng mình... Héo khô... Xanh thêm... Hoảng hốt...

Trái chín thay áo hồng trút lại nửa vành trăng.

 

 

 

BÀI LÀM

 

Bàn về vẻ đẹp của thơ ca, tác giả Mai-a-cốp- xki từng viết:

“... Phải phí tổn ngàn cân quặng chữ

Mới thu về một chữ mà thôi

Những chữ ấy làm cho rung động

Triệu trái tim trong triệu năm dài...”

Đó là quy luật của sự tinh chọn, là sự nâng niu, chắt chiu cái đẹp của cuộc sống. Khi tâm ý của người nghệ sĩ đặt vào việc lựa chọn ngôn từ, để diễn giải cho sâu sắc mà nồng đượm cái tình thắm trong lòng, thì đáp lại họ cũng là chân tâm của người thưởng thức. Một người sẵn sàng dành trọn sự chân thành, tỉ mỉ cho từng con chữ, nhiều người sẽ yêu, sẽ đồng cảm và biết ơn con chữ ấy. Đó mới chính là vẻ đẹp thực sự của ngôn từ thơ ca. Hay nói như Mai Văn Phấn rằng: “Thơ hay trong khoảng im lặng giữa các chữ, là mang đến cho ta niềm ngạc nhiên về thế giới, sự run rẩy trong tâm thức”. Đó cũng là sức mạnh, là vẻ đẹp của thơ ca được tác giả bộc lộ qua tác phẩm “Giấc mơ đi qua”.

Nhà thơ Xuân Diệu từng khẳng định: “Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài”. Nếu Xuân Diệu đề cao sự hài hòa giữa nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật thì Mai Văn Phấn lại đi sâu khám phá sức hấp dẫn của ngôn từ thơ ca qua nhận định: “Thơ hay trong khoảng im lặng giữa các chữ, là mang đến cho ta niềm ngạc nhiên về thế giới, sự run rẩy trong tâm thức”. Đây không chỉ là một quan niệm độc đáo về thơ mà còn là sự phát hiện tinh tế về giá trị của “khoảng trắng nghệ thuật” trong thi ca. “Khoảng im lặng giữa các chữ” là một hình ảnh ẩn dụ giàu sức gợi, chỉ phần ý nghĩa không được diễn đạt trực tiếp bằng ngôn từ mà lắng sâu trong dư âm, khoảng trống và sức liên tưởng của câu thơ. Thơ ca chân chính không dừng lại ở việc truyền tải thông tin hay cảm xúc bề mặt, mà còn khơi mở những tầng sâu suy tưởng trong tâm hồn người đọc. Chính sự hàm súc, cô đọng của ngôn ngữ thơ đã tạo nên những “khoảng lặng” để người đọc tự mình chiêm nghiệm, đồng sáng tạo cùng nhà thơ. Bởi vậy, thơ hay luôn có khả năng đánh thức ở con người “niềm ngạc nhiên về thế giới” và “sự run rẩy trong tâm thức” – những rung động thẩm mỹ tinh vi, sâu sắc trước cuộc đời và con người. Nhận định của Mai Văn Phấn không chỉ làm nổi bật đặc trưng của thơ ca mà còn đặt ra yêu cầu đối với người nghệ sĩ: thơ phải đạt đến độ tinh luyện của ngôn từ, chiều sâu của cảm xúc và sức ám gợi của tư tưởng. Một bài thơ thực sự có giá trị là bài thơ vẫn còn dư ba sau khi câu chữ đã khép lại, khiến người đọc không chỉ hiểu mà còn day dứt, suy ngẫm và tự đối thoại với chính mình. Quan niệm ấy được thể hiện rõ nét qua bài thơ “Giấc mơ đi qua” – tác phẩm giàu chất triết lý và sức gợi cảm trong hành trình thơ của ông.

Khi khẳng định: “Thơ hay trong khoảng im lặng giữa các chữ”, nhà thơ Mai Văn Phấn đã chạm tới đặc trưng thẩm mĩ cốt lõi của thi ca: sức gợi vô hạn của ngôn ngữ nghệ thuật. Giá trị của thơ ca không chỉ nằm trên trang giấy, mà nằm ở cái xúc cảm tinh vi được khơi dậy sau con chữ, ở những khoảng lặng chiêm nghiệm khiến con người ta phải lắng chìm, để thấu hiểu, để cảm thông và ngộ ra một chân lý nào đó trong cuộc sống. Chính “khoảng im lặng” ấy tạo nên độ ngân vang cho thi phẩm, khơi dậy ở người đọc khả năng liên tưởng, suy tư và đồng cảm sâu sắc. Qua đó, ý kiến đã đề cao vai trò đặc biệt của ngôn ngữ thơ – sự thể hiện cao nhất cho tài năng và tâm hồn người nghệ sĩ. Ngôn ngữ thơ là yếu tố cốt lõi, đầu tiên và trước hết để nhận diện một tác phẩm thi ca. Đó là sự kết hợp giữa tinh hoa của đời sống chung và cái tôi cá nhân của người nghệ sĩ, là sự “phối âm” hài hòa giữa rung động của trái tim và nhịp đập cuộc sống, là sự nghệ thuật hóa ngôn ngữ đời thường. Để rồi từ đó, những con chữ được nhà thơ chọn lọc sẽ thay nhà thơ bộc lộ những rung động nội tâm, thái độ trước cuộc đời và con người, sẽ trở thành sợi dây kết nối tâm hồn người đọc với thế giới nghệ thuật của tác giả. Trong từng con chữ, người đọc không chỉ cảm nhận được cái tài hoa của bút lực mà còn nhận ra chiều sâu nhân cách, tầm tư tưởng và độ nhạy cảm của một tâm hồn nghệ sĩ chân chính.

Hơn nữa, thơ vốn là thể loại có dung lượng ngắn gọn nhưng sức chứa tư tưởng và cảm xúc lại vô cùng lớn lao. Chính đặc trưng hàm súc ấy đòi hỏi nhà thơ phải dồn nén cảm xúc và tư tưởng trong từng hình ảnh, nhịp điệu, thanh âm và đặc biệt là trong hệ thống ngôn từ nghệ thuật. Nhiều khi, cảm xúc thi ca vượt khỏi giới hạn hữu hạn của câu chữ, khiến lời thơ không khép lại ở nghĩa trực tiếp mà mở ra những tầng ý nghĩa sâu xa, đúng như quan niệm “ý tại ngôn ngoại”. Bởi vậy, thơ ca chân chính không bao giờ nói hết; nó luôn để lại những khoảng trắng nghệ thuật để người đọc tự mình lấp đầy bằng trải nghiệm, vốn sống và chiều sâu cảm xúc cá nhân. Chính những “khoảng im lặng giữa các chữ” đã làm nên chiều sâu và sức ám ảnh bền lâu của thơ ca.

Bàn về đặc trưng ấy, Nguyễn Đình Thi từng khẳng định: “Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, sự việc, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, tỏa ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy, sức mạnh lớn nhất của câu thơ là ở sức gợi ấy”. Ý kiến ấy đã nhấn mạnh bản chất hàm súc và giàu sức gợi của ngôn ngữ thơ. Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, nhà thơ không phơi bày trực tiếp toàn bộ tư tưởng, cảm xúc của mình mà thường gửi gắm chúng qua hình tượng, nhạc điệu và lớp nghĩa ẩn sâu sau câu chữ. Thơ ca vì thế không áp đặt cách hiểu nơi người đọc mà chỉ khơi mở những miền liên tưởng, đánh thức khả năng cảm thụ và suy tư cá nhân. Từ những tín hiệu nghệ thuật được gợi ra trong tác phẩm, trường liên tưởng của người đọc không ngừng được mở rộng, khiến mỗi lần đọc thơ là một lần khám phá thêm những tầng nghĩa mới mẻ và sâu xa.

Ngôn ngữ thơ không chỉ là phương tiện biểu đạt tư tưởng, cảm xúc mà còn là nơi kết tinh vẻ đẹp tâm hồn và chiều sâu tinh thần của con người. Bởi vậy, thơ ca chân chính luôn mang đến cho người đọc “niềm ngạc nhiên về thế giới, sự run rẩy trong tâm thức”. Điều này không chỉ là đặc trưng của thơ mà còn là yêu cầu sống còn đối với nhà thơ trong quá trình sáng tác. Thơ đòi hỏi ở người nghệ sĩ sự tinh luyện trong cảm xúc và tài năng chắt lọc ngôn từ. Tình cảm trong thơ phải chân thành mà sâu sắc, mãnh liệt mà trong sáng; hình ảnh thơ phải giàu tính biểu tượng và sức gợi để từ cái hữu hạn của câu chữ mở ra cái vô hạn của cảm xúc và tư tưởng. Hơn thế, thơ ca chân chính còn hướng con người đến những giá trị cao đẹp của Chân – Thiện – Mỹ, góp phần thanh lọc tâm hồn, nâng đỡ đời sống tinh thần và đánh thức trong con người khả năng rung động trước vẻ đẹp của cuộc sống và con người. Và cũng chính trong quá trình đi tìm cái đẹp và giải mã nó bằng ngôn từ nghệ thuật, người nghệ sĩ tìm thấy cái tôi phong cách của chính mình. Tức là nhà thơ dùng những cách diễn đạt độc đáo để tiếp cận những góc nhìn mới về cuộc sống, để mỗi con chữ của nhà thơ đều đem tới “niềm ngạc nhiên về thế giới, sự run rẩy trong tâm thức người đọc”. Đó là yêu cầu, và cũng là trách nhiệm của người nghệ sĩ, của một người tiên phong đi tìm để quan sát và ghi lại cái đẹp.

Như vậy, nhận định của tác giả Mai Văn Phấn đã khẳng định vẻ đẹp và giá trị của thơ ca không chỉ giới hạn trên bề mặt ngôn từ, mà còn được biểu hiện ở những chiều sâu tư tưởng, cảm xúc, ở hồn thơ chan chứa ý tình. Điều này cũng được ông một lần nữa khẳng định qua bài thơ “Giấc mơ đi qua”. Bài thơ được viết theo thể thơ tự do, bởi thế mà cảm xúc có thể chảy trôi tự nhiên như một miền mộng tưởng không giới hạn. Những câu thơ dài ngắn đan xen tạo nên nhịp điệu mềm mại, khi nhẹ nhàng lan tỏa, khi bất chợt ngưng lặng như một khoảng suy tư mơ hồ trong tâm tưởng. Cách ngắt nhịp của bài thơ cũng rất tinh tế: có lúc nhịp thơ xuôi chảy êm đềm theo dòng liên tưởng “Sóng tung bờm trên ngọn cây / Những dòng chảy cuộn sôi lối phố”, có lúc lại đứt nối bằng những dấu chấm lửng “Rùng mình... Héo khô... Xanh thêm... Hoảng hốt...”, khiến âm điệu thơ trở nên chênh chao, bảng lảng như tiếng vọng từ miền vô thức. Chính những khoảng ngắt ấy đã tạo nên dư ba cảm xúc, để lời thơ không chỉ hiện diện ở câu chữ mà còn ngân lên trong khoảng lặng phía sau ngôn từ. Ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn giàu chất tạo hình và đậm tính biểu tượng. Nhà thơ không diễn tả hiện thực bằng cái nhìn trực diện mà bằng những hình ảnh vừa gần gũi vừa huyền ảo: “gót đêm”, “tấm lưới nghìn năm”, “đáy bình minh”, “sợi ban mai”. Những hình ảnh ấy mở ra một không gian thơ mờ sương, nơi thực và mộng giao hòa, nơi thời gian như tan vào cảm giác.

Đặc biệt, ẩn sâu trong lớp ngôn từ giàu tính siêu thực ấy vẫn là vẻ đẹp của đời sống gia đình:

“Tấm lưới nghìn năm dằng dặc miệt mài

Ai đã kéo sau mỗi cơn binh lửa

Suốt đời mẹ đan những sợi ban mai âm thầm bên khung cửa

Khi đón cha đêm đã nhạt cuối vườn.”

Hình ảnh mẹ âm thầm “đan những sợi ban mai”, cha lặng lẽ trở về khi “đêm đã nhạt cuối vườn” gợi bao yêu thương, nhọc nhằn và sự nâng niu đối với những giá trị bình dị. Bao trùm toàn bài là giọng thơ trầm lắng, tha thiết mà suy tư; không ồn ào bộc lộ cảm xúc, bài thơ khẽ chạm vào lòng người bằng một nỗi buồn nhẹ, một sự hoang mang mong manh trước bước đi của thời gian và đời sống.

Ở giữa những câu thơ đan xen không đối xứng, những hình ảnh thơ phong phú và tinh tế ấy, người đọc bất ngờ nhận ra những “khoảng lặng của con chữ” - nơi nhà thơ không nói ra, nhưng đã khơi gợi cho người đọc tìm đến nó. Đó chính là câu chuyện về “giấc mơ”. Trước hết, giấc mơ hiện lên như biểu tượng của khát vọng và sức sống mãnh liệt luôn tồn tại trong mỗi con người. Từ “giấc mơ đêm qua cuốn ào ra ngõ”, giấc mơ không còn là miền vô thức khép kín mà đã hòa nhập vào nhịp chuyển động của đời sống, lan tỏa qua “sóng tung bờm trên ngọn cây”, qua “những dòng chảy cuộn sôi lối phố”. Những hình ảnh giàu tính liên tưởng ấy gợi cảm giác về một nguồn năng lượng trẻ trung, thôi thúc con người hướng tới những điều đẹp đẽ phía trước. Đồng thời, giấc mơ trong cảm nhận của nhân vật trữ tình còn kéo dài sang “ban mai”, gắn với chiều sâu của ký ứng gia đình và lịch sử dân tộc. Hình ảnh người mẹ “đan những sợi ban mai âm thầm bên khung cửa”, người cha trở về khi “đêm đã nhạt cuối vườn” không chỉ gợi sự hi sinh lặng lẽ của thế hệ trước mà còn cho thấy những ước mơ hôm nay được nuôi dưỡng từ bao nhọc nhằn, yêu thương của quá khứ. Từ đó, bài thơ mở ra nhận thức về chính con người trên hành trình thực hiện ước mơ: con người luôn tồn tại những ngơ ngác, mơ hồ, hoang mang khi đối diện với thực tại.

“Những ngái ngủ, mơ hồ, ngơ ngác

Đang lặng chìm xuống đáy bình minh.

 

Dưới những mái nhà còn ôm nửa bóng đêm

Ta hay đám rêu phong ẩm mốc

Rùng mình... Héo khô... Xanh thêm... Hoảng hốt...

Trái chín thay áo hồng trút lại nửa vành trăng.”

Câu thơ “Những ngái ngủ, mơ hồ, ngơ ngác/ Đang lặng chìm xuống đáy bình minh” như một khoảnh khắc thức tỉnh của ý thức, khi con người bước ra khỏi miền mộng tưởng để đối diện với đời sống nhiều biến động. Tuy nhiên, phía cuối bài thơ vẫn ánh lên một niềm tin dịu dàng mà bền bỉ qua hình ảnh “Trái chín thay áo hồng trút lại nửa vành trăng” - biểu tượng cho sự trưởng thành, kết tinh và niềm hy vọng vào những điều tốt đẹp sẽ đến sau hành trình nhiều thử thách. Từ “khoảng im lặng giữa các chữ”, bài thơ đã mang đến cho người đọc “niềm ngạc nhiên về thế giới, sự run rẩy trong tâm thức”, từ đó gửi gắm một thông điệp giàu giá trị nhân văn: con người hãy luôn biết nuôi dưỡng ước mơ và khát vọng sống; bởi dù hiện thực có nhiều cay đắng, con người vẫn không thể thôi hy vọng vào những điều tốt đẹp của cuộc đời, bởi chính niềm tin ấy làm nên ý nghĩa và vẻ đẹp của sự sống. Tác giả Mai Văn Phấn đã khéo léo để lại những khoảng lặng đầy dư ba như thế.

Như vậy, tác giả Mai Văn Phấn đã đóng góp một quan niệm về một bài thơ hay đúng đắn, sâu sắc, có giá trị. Ý kiến của tác giả đã khẳng định chính sức gợi sâu xa của ngôn ngữ thơ đem lại chiều sâu cảm xúc, tư tưởng, tình cảm, đó là thước đo giá trị của một bài thơ hay, đây là yếu tố quan trọng của thơ ca. Đồng thời bài thơ “Giấc mơ đi qua” cũng chính là minh chứng rõ nét cho quan điểm nghệ thuật của nhà thơ. Đó là một bài thơ tiêu biểu thể hiện rõ khoảng lặng im giữa các chữ mang đến niềm ngạc nhiên về thế giới, sự run rẩy trong tâm thức. Đó là những xúc cảm chân thực, xúc động, sâu sắc, những cảm nhận tinh tế của nhà thơ, những ước mơ, khát vọng đổi thay của con người, của đất nước dẫu còn nhiều gian khó. Từ đó thôi thúc mỗi người trẻ hôm nay biết vượt lên gian khó, vượt lên những trì trệ, mơ hồ để thực hiện ước mơ, dựng xây đất nước. Những cảm xúc này góp phần làm nên sự hấp dẫn của hình tượng nghệ thuật tác phẩm, đồng thời khẳng định phong cách nghệ thuật của tác giả.

Ý kiến của nhà thơ Mai Văn Phấn không đơn thuần dừng lại ở một định nghĩa, quan điểm về thơ mà trở thành yêu cầu đối với tác phẩm, tác giả và người thưởng thức. Nhà thơ cho rằng, để thơ ca có sức lay động, lan tỏa mạnh mẽ, gợi sự đồng cảm sâu xa, có thể neo đậu nơi trái tim của bạn đọc, người làm thơ cần phải sáng tạo cả về phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật. Mỗi bài thơ phải là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lời hay và ý đẹp, “là một khám phá về nội dung và một phát minh về hình thức”. Trong sáng tạo nghệ thuật, nhà thơ cần có thực tài, thực tâm mới làm nên sự sống cho tác phẩm. Bên cạnh đó, mỗi độc giả cũng phải mở lòng mình để cảm nhận sâu cái hay, cái đẹp của thi phẩm, là người đồng sáng tạo với tác giả.

Đồng tình với quan điểm của nhà thơ Mai Văn Phấn, tác giả Albert Camus chia sẻ: “Không có gì nâng đỡ tôi suốt cuộc đời, trong những hoàn cảnh trái ngược nhất ngoài tư tưởng nghệ thuật và bổn phận của nhà văn”. Một tác phẩm nghệ thuật chân chính chỉ đạt tới độ đỉnh cao và lan tỏa được trọn vẹn giá trị của nó khi mà con chữ của nhà thơ có sức gợi, có những khoảng lặng chiêm nghiệm để gợi mở, để thôi thúc và dẫn dắt cảm xúc người đọc, để mỗi dòng thơ đi qua đều mang âm vang của thời đại đang sống, của tư tưởng người cầm bút. Chỉ khi đó, tác phẩm mới gây được ấn tượng lâu bền trong lòng độc giả, giá trị của con chữ mới vượt ngoài “quy luật băng hoại của thời gian” và tài năng của nhà thơ mới được khẳng định.

 

 

 

(Nguồn: Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Văn)

 

 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 3 4 5 
Xem thêm

image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement




























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị