image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement





























Kim Sơn, địa chỉ trong tâm thức – Mai Văn Phấn

Kim Sơn, địa chỉ trong tâm thức

 

 

Mai Văn Phấn

 

Vùng đất Kim Sơn đã nuôi dưỡng ký ức tuổi thơ tôi, với sắc phù sa vàng mật, những cánh đồng lúa và cói ngút ngàn, cùng tiếng sóng biển ngày đêm vọng vào triền đê bãi bồi. Trong tâm thức tôi, Kim Sơn liên tục vận động và bồi tụ, có lần tôi đã viết “Chờ nảy lá mầm/ Gió mang mặt đất đi”. Cái mặt đất mang tính triển sinh ấy, xét về địa mạo lẫn lịch sử cư trú, chính là dải đất sinh thái ven biển thuộc hạ lưu sông Đáy.

Sông Đáy là con sông lớn ở phía tây nam châu thổ sông Hồng, chảy qua Hà Nội và Ninh Bình trước khi đổ ra Biển Đông tại cửa Đáy. Dòng sông, cùng hệ thống sông ngòi và thủy triều ven biển, góp phần đưa phù sa bồi đắp vùng cửa sông qua nhiều thế kỷ. Chính sự tương tác giữa dòng chảy với sóng biển và dòng hải lưu ven bờ đã bền bỉ kiến tạo nên những dải bồi mới, nơi ranh giới giữa nước mặn, bùn lầy và đất liền không ngừng dịch chuyển. Sự thành hình vùng đất Kim Sơn là kết quả của quá trình khai hoang, trị thủy và tổ chức cư dân có hệ thống. Kim Sơn tích tụ và phát triển trong tâm thức cộng đồng như một vùng đất được bồi đắp qua nhiều thế hệ, khởi đầu từ những gian lao của công cuộc khẩn hoang, dần hình thành các lớp trầm tích văn hóa qua ngôn ngữ, tập tục và cách ứng xử với thiên nhiên. Địa chỉ hành chính có thể điều chỉnh theo yêu cầu quản lý của từng thời kỳ, nhưng Kim Sơn, với tư cách một địa chỉ trong tâm thức, mới là nơi lưu giữ những gì bền vững nhất của một vùng đất.

Quá trình kiến tạo nên không gian tâm thức ấy gắn liền với tư duy quản trị và phương thức khai khẩn do Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ (1778–1858) thực thi từ năm 1829. Nguyễn Công Trứ là một nhân vật lịch sử đặc biệt, một vị quan văn võ song toàn của triều Nguyễn. Ông là nhà thơ lớn, đồng thời là một nhà quản trị có tầm nhìn về khai hoang, lập ấp và tổ chức đời sống dân cư. Tên tuổi của ông gắn liền với công cuộc mở cõi, lấn biển, trực tiếp lập nên hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn, thay đổi cuộc đời cho nhiều lớp lưu dân phiêu tán. Nhìn từ góc độ lịch sử xã hội thời Nguyễn, chính sách doanh điền mà ông chủ trì thực hiện không thuần túy là việc mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp, mà còn là một chủ trương an dân, góp phần giải quyết tình trạng nghèo khổ và những xung đột xã hội thời bấy giờ.

Công cuộc khai hoang một vùng bùn lầy nước mặn đòi hỏi những giải pháp thủy lợi mang tính nền tảng. Việc đào sông Ân làm trục thủy đạo xương sống, kết hợp với hệ thống kênh mương và đê điều, đã tạo ra một mạng lưới tiêu thoát, dẫn nước và ngăn mặn, từng bước biến vùng sình lầy, lau sậy hoang sơ thành những cánh đồng canh tác. Lịch sử còn ghi nhận hình ảnh những người dân nghèo cắm từng chiếc cọc, quai từng đoạn đê, vật lộn với sóng bão để giành lấy từng tấc đất từ biển cả. Ký ức dân gian vẫn còn lưu truyền câu chuyện về những hàng đèn chai được thắp sáng trong đêm để xác định hướng tuyến cho các công trình thủy lợi. Phương pháp định hướng tuyến giản dị ấy đã cô đọng thành tri thức thực tiễn của cộng đồng cư dân mở đất.

Không dừng lại ở kỹ thuật thủy lợi hay việc phân chia địa giới, Nguyễn Công Trứ đã góp phần đặt nền móng cho một cộng đồng cư dân mới. Tên gọi Kim Sơn, theo cách lý giải quen thuộc, gợi nghĩa “núi vàng”, được đặt trong thế đối xứng với Tiền Hải, với nghĩa “trước biển” hay “biển bạc”, thể hiện khát vọng về sự giàu có, no ấm trên vùng đất mới. Việc đặt tên cho các tổng, làng, trại, giáp thời ấy đã để lại một lớp địa danh giàu ý nghĩa văn hóa. Những tên gọi như Chất Thành, Hồi Thuần, Quy Hậu, Hướng Đạo, Tự Tân, Tuy Lộc, Lai Thành... hay Kim Định, Tuân Hóa, Đồng Nhân... không chỉ xác định một địa điểm cư trú mà còn gợi những phẩm chất, ước vọng mà cộng đồng hướng tới. Mỗi tên đất, tên làng vì thế đều mang theo một mạch ký ức về con người mở đất. Ngay cả địa danh xuất hiện sau này ở vùng đất bồi như Cồn Thoi, mang hình dáng con thoi, cũng cho thấy mối liên hệ giữa đất đai, nghề nghiệp và đời sống của cư dân vùng biển, trong đó có nghề dệt chiếu cói truyền thống.

Bên cạnh cấu trúc địa lý và hệ giá trị nhân văn hình thành trong quá trình mở đất, bản sắc của mảnh đất này còn được định hình qua mô hình cộng cư đặc thù giữa người Công giáo và người theo Phật giáo, cùng nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian. Sự giao thoa văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng nơi đây tạo nên một đời sống cộng đồng đa dạng, trong đó các tín ngưỡng cùng hiện diện và có sự tương tác. Biểu hiện vật thể rõ nét nhất là quần thể Nhà thờ đá Phát Diệm, một công trình Công giáo nhưng mang nhiều yếu tố kiến trúc truyền thống, từ hệ khung gỗ, mái cong đến những hình thức trang trí gợi dáng dấp đình, chùa Việt Nam. Sự dung hòa ấy thấm sâu vào đời sống thường nhật. Các ngày lễ Công giáo như lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh, lễ Thăng thiên, lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, cùng với việc tưởng nhớ tổ tiên và các sinh hoạt tín ngưỡng dân gian, tồn tại bên cạnh những thực hành Phật giáo và Đạo Mẫu. Trong nhiều gia đình và cộng đồng, những khác biệt về tín ngưỡng không nhất thiết trở thành ranh giới ngăn cách, các thực hành tín ngưỡng vẫn cùng tồn tại trong một đời sống văn hóa chung. Chính sự đan xen tự nhiên ấy đã trở thành đặc điểm đáng chú ý trong đời sống tinh thần của người Kim Sơn.

Nếp sống cộng cư hài hòa ấy cũng in dấu trong cách người Kim Sơn mưu sinh trên chính mảnh đất mà cha ông đã đổ mồ hôi khai khẩn. Cây cói, loài thực vật thích hợp với vùng đất ven biển, đã trở thành một phần quan trọng của đời sống kinh tế và văn hóa địa phương. Từ việc trồng cói, gặt cói, chẻ cói cho đến kỹ thuật dệt chiếu, làm hàng mỹ nghệ, nghề cói không chỉ tạo sinh kế mà còn truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác một nếp lao động cần cù, khéo léo và bền bỉ. Cùng với nghề cói, nghề nấu rượu nếp Kim Sơn cũng trở thành một sản phẩm quen thuộc của địa phương, phản ánh tri thức dân gian trong việc lựa chọn nguyên liệu và tạo dựng hương vị riêng của vùng đất.

Từ tháng 7 năm 2025, quê tôi bước vào cuộc chuyển mình với địa giới hành chính mới. Huyện Kim Sơn, một địa danh đã tồn tại gần hai trăm năm, được điều chỉnh trong một đơn vị hành chính mới sau sắp xếp. Tên gọi ấy không còn hiện diện như tên một đơn vị hành chính cấp huyện trên bản đồ quản lý nhà nước. Nhưng sự thay đổi ấy không thể xóa đi một địa chỉ đã được ghi sâu trong ký ức con người. Dòng phù sa bồi đắp, công cuộc khai khẩn của Nguyễn Công Trứ, hệ thống địa danh lưu giữ những ước vọng của người mở đất, sự cộng cư giữa các tín ngưỡng và nếp nghề truyền thống đã hòa quyện thành một thực thể văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, vượt ra ngoài những thay đổi của ranh giới hành chính. Khi tên gọi hành chính thay đổi, ký ức, văn hóa và văn chương vẫn có thể lưu giữ tên đất như một phần căn cước tinh thần của con người. Nơi ấy, Kim Sơn luôn là địa chỉ bền vững trong tâm thức, một bệ đỡ tinh thần nối những ký ức của mỗi người với lịch sử quê hương.

 

Phát Diệm, 12/8/2026

M.V.P

 

 

 

Sông Ân ở Kim Sơn. Ảnh: T.L

 

 

 

 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 3 4 5 
Xem thêm

image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement




























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị