Đề thi cảm thụ và trải nghiệm: đâu là điểm khác biệt? – Cô giáo Nguyễn Hương Giang
Đề thi cảm thụ và trải nghiệm: đâu là điểm khác biệt?
(Dành
cho học sinh trung học phổ thông)
Cô
giáo Nguyễn Hương Giang
Những năm gần đây, chương
trình Ngữ văn phổ thông 2018 có sự đổi mới, chuyển hướng sang phát triển năng
lực và phẩm chất người học. Kéo theo đó, các đề thi HSG và đề thi Chuyên Văn
cũng có những cải tiến đáng kể. Một trong những thay đổi rõ rệt nhất là sự xuất
hiện ở câu NLVH khi đề thi có xu hướng chia thành hai dạng rõ rệt: đề yêu cầu
vận dụng trải nghiệm văn học (gọi tắt là đề trải nghiệm) và đề yêu cầu cảm thụ
trực tiếp một tác phẩm cho sẵn (gọi tắt là đề cảm thụ). Mỗi dạng đề khác nhau
yêu cầu cách tiếp cận khác nhau. Nếu không nắm vững, học sinh dễ cảm thấy khó
khăn và mơ hồ trong việc xác định hướng giải quyết.
1.
Đề thi hướng “Trải nghiệm văn học”: Vốn đọc trở thành hành trang vững chắc
Dạng đề này thường đưa ra
một nhận định, một ý kiến về văn học, và yêu cầu thí sinh dùng “trải nghiệm văn
học” (tức kiến thức, vốn đọc, vốn sống) để chứng minh hoặc bàn luận. Điểm cốt
lõi là đề không cung cấp sẵn tác phẩm cụ thể. Mục đích của nó là kiểm tra chiều
rộng và chiều sâu của vốn văn học, khả năng hệ thống hóa và tư duy độc lập của
thí sinh. Vì thế, để làm tốt, học sinh cần có một “kho dẫn chứng” phong phú,
trải đều từ văn học trung đại đến hiện đại, Việt Nam đến nước ngoài, đa dạng
thể loại (thơ, truyện, ký…). Quan trọng không kém là khả năng tổ chức lập luận,
thay vì liệt kê dàn trải, học sinh cần xây dựng hệ thống luận điểm rõ ràng, và
mỗi luận điểm cần được soi chiếu từ nhiều góc nhìn khác nhau. Vậy nên muốn làm
tốt dạng đề trải nghiệm, ở khâu ôn tập và chuẩn bị dẫn chứng, cần dành thời
gian để sưu tầm và trau dồi dẫn chứng một cách đa dạng và sáng suốt. Bởi nếu
chỉ “biết” một cách dàn trải, thiếu hệ thống, thiếu dẫn chứng sâu, khi viết,
bài viết rất dễ rơi vào trường hợp thừa “độ rộng” mà thiếu “độ sâu” khi học
sinh chỉ liệt kê chứ không cho thấy những trải nghiệm sâu sắc với văn học.
2.
Đề thi hướng “Cảm thụ văn học”: Cuộc gặp gỡ trực tiếp với tác phẩm
Ngược lại, đề cảm thụ
cung cấp một ngữ hoặc nhiều liệu cụ thể, tạo phạm vi dẫn chứng cho người viết.
Đó có thể là một đoạn thơ, một tác phẩm truyện ngắn, hoặc nhiều tác phẩm có mối
quan hệ với nhau yêu cầu so sánh. Tất cả là các tác phẩm mới, chưa được giới
thiệu trong sách giáo khoa, nhằm đảm bảo tính công bằng và hạn chế học tủ. Yêu
cầu của dạng đề này là cảm thụ, phân tích chính tác phẩm đó. Mục đích là kiểm
tra kỹ năng đọc hiểu, cảm thụ trực tiếp và khả năng vận dụng các công cụ để
phân tích văn học. Điều này đòi hỏi thí sinh phải bám chặt vào văn bản. Mọi
luận điểm, luận cứ đều phải xuất phát và bám rễ vào từng câu chữ, từng chi tiết
có trong ngữ liệu. Không được phép bàn luận lan man sang tác phẩm khác (trừ
trường hợp liên hệ so sánh, nhưng cũng cần đặt trọng tâm là tác phẩm cho sẵn),
cũng không được suy diễn cảm tính thiếu căn cứ. Bên cạnh đó, cần vận dụng kiến
thức thể loại và các công cụ thi pháp để đọc hiểu và cảm thụ: nếu là thơ, cần
chú ý vần, nhịp, hình ảnh, biện pháp tu từ; nếu là truyện, cần chú ý điểm nhìn,
nghệ thuật xây dựng nhân vật, những chi tiết đặc sắc. Nếu đề yêu cầu chứng minh
kèm nhận định lí luận văn học, khi đã hiểu tác phẩm từ việc vận dụng kĩ năng
phù hợp, học sinh cần dùng những ý tưởng mình vừa khám phá để móc nối, chứng
minh tính đúng đắn của nhận định lí luận cho kèm.
3.
Ví dụ minh họa: Đề thi vào 10 Chuyên Văn Đại học Vinh 2026 - 2027
Để dễ hình dung sự khác
biệt giữa hai dạng đề, hãy lấy một ngữ liệu cụ thể từ đề thi vào 10 Chuyên Văn
của Đại học Vinh 2026 - 2027. Đề bài cho bài thơ “Đá trong lòng suối” của Mai
Văn Phấn và trích dẫn ý kiến của nhà triết học Denis Diderot: “Nghệ thuật của nhà thơ lớn là phô bày cho
các bạn thấy một hoàn cảnh thoáng qua mà các bạn không thể để ý.” Yêu cầu: “Từ bài thơ ‘Đá trong lòng suối’ của Mai Văn
Phấn và bằng những trải nghiệm văn học của mình, em hãy bàn luận ý kiến trên”.
Đây là một dạng đề kết hợp, nếu đề bài được tách ra làm hai hướng khác nhau, ta
có thể thấy rõ bản chất của từng loại.
Nếu đề thiên hoàn toàn về
“trải nghiệm”, sẽ có dạng: “Bằng những
trải nghiệm văn học của mình, em hãy bàn luận về ý kiến của Diderot.” Khi
đó, người viết phải tự huy động toàn bộ vốn văn học của mình để chứng minh. Có
thể lấy dẫn chứng từ thơ Nguyễn Du với những “thoáng qua” là một đóa sen, một
giấc mộng, một cánh bèo mà phô bày cả một kiếp người lưu lạc; hoặc từ thơ Hàn
Mặc Tử với những tà áo trắng, những vầng trăng máu để phô bày một tâm hồn điên
loạn nhưng khát sống. Dẫn chứng cần trải dài, đa dạng, lập luận phải đi từ cái
chung đến cái riêng, từ lí luận văn học về đặc trưng văn học, về quá trình sáng
tác đến những minh chứng cụ thể trong nền văn học Việt Nam và thế giới.
Ngược lại, nếu đề thiên
về “cảm thụ” bài thơ “Đá trong lòng suối”, mọi luận điểm, luận cứ đều phải bám
chặt vào văn bản của Mai Văn Phấn. Câu hỏi đặt ra là chi tiết “thoáng qua” nào
trong bài thơ đã giúp nhà thơ “phô bày” điều gì mà người đọc bình thường khó
nhận ra? Có thể kể đến hình ảnh “đá trong lòng suối” – thứ tưởng chừng vô tri,
nhưng qua con mắt Mai Văn Phấn, nó “lặng
yên cho nước chảy”, “nhắm mắt an nhiên nước cuốn”. Đó là một triết lý về sự
an nhiên, bất động giữa dòng đời xô bồ. Hay hình ảnh “một con nhím xù lông bất động”, tưởng chừng chỉ là chi tiết hoang
dã, “thoáng qua”, dễ lu mờ, nhà thơ phô bày sự cảnh giác, sự co mình trước
những biến động của ngoại cảnh. Mọi phân tích đều phải xuất phát từ chi tiết
của bài thơ, không được phép lạc sang tác phẩm khác. Đề cảm thụ đòi hỏi thí
sinh phải “cắm rễ” vào trang giấy cho sẵn, khai thác triệt để những tín hiệu
thẩm mỹ trong chính văn bản ấy.
(Nguồn: Fanpage GAC VAN)
