Viết để thức tỉnh những điều tốt đẹp nhất – Bài văn học sinh giỏi
Viết để thức tỉnh những điều tốt đẹp nhất
(Bài văn học sinh giỏi)

Đề bài:
Nhà thơ Mai Văn Phấn chia sẻ:
“Viết để thức tỉnh những điều tốt đẹp nhất trong mỗi con
người, làm cho họ được sống người hơn trong một thế giới ngày càng ảo”.
(Nhà thơ nói về thơ hay, tạp chí Văn nghệ Quân đội 4/6/2019)
Bằng
việc phân tích đoạn trích trong truyện ngắn “Lụm còi” của Nguyễn Ngọc Tư, em
hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Bài làm:
Giữa
những biến động của đời sống hiện đại, khi nhiều giá trị chân thật dần bị che
khuất bởi những lớp vỏ hào nhoáng, câu nói của nhà thơ Mai Văn Phấn trở nên sâu
sắc hơn bao giờ hết: “Viết để thức tỉnh những điều tốt đẹp nhất trong mỗi con
người, làm cho họ được sống người hơn trong một thế giới ngày càng ảo”. Đó
không chỉ là một quan niệm về sáng tạo nghệ thuật mà còn là một niềm tin đầy
nhân văn vào sức mạnh cảm hóa của văn chương. Đọc đoạn trích trong truyện ngắn
Lụm còi của Nguyễn Ngọc Tư, ta càng thấm thía hơn vẻ đẹp của thứ sức mạnh ấy.
Viết, suy
cho cùng, là cách con người đối thoại với cuộc đời bằng ngôn từ. Người nghệ sĩ
không chỉ kể lại những gì mình thấy mà còn gửi gắm vào đó những rung động sâu
kín, những trăn trở không nguôi về con người. Khi Mai Văn Phấn nói đến việc
“thức tỉnh những điều tốt đẹp nhất”, ông đã chạm đến cốt lõi của văn chương.
Con người vốn mang trong mình nhiều mầm thiện, nhưng đôi khi vì vội vã, vì vô
tâm, những mầm thiện ấy ngủ quên. Văn chương xuất hiện như một làn gió nhẹ,
đánh thức những cảm xúc tưởng như đã lắng xuống, khiến con người biết rung
động, biết yêu thương, biết nhìn lại chính mình. Khi ấy, con người không chỉ
tồn tại mà thực sự sống, sống đúng nghĩa với những giá trị nhân bản. Càng đáng
quý hơn khi điều đó diễn ra giữa một “thế giới ngày càng ảo”, nơi người ta dễ
bị cuốn vào những điều phù phiếm mà quên đi điều giản dị nhưng thiết yếu nhất
là tình người.
Văn học
có thể làm được điều ấy bởi nó luôn bắt nguồn từ đời sống và quay trở lại với
đời sống. Mỗi trang văn là một lát cắt của hiện thực, nhưng không phải là hiện
thực khô cứng mà là hiện thực đã được thấm đẫm cảm xúc. Khi người viết đặt trái
tim mình vào câu chữ, người đọc cũng mang trái tim mình đến để lắng nghe. Sự
gặp gỡ ấy không ồn ào nhưng đủ sức làm lay động những góc sâu nhất của tâm hồn.
Và khi đã rung động, con người sẽ không còn thờ ơ trước nỗi đau của người khác,
không còn dửng dưng với những giá trị tốt đẹp.
Đoạn
trích Lụm còi mở ra bằng một tình huống tưởng như rất quen thuộc. Một cậu bé bỏ
nhà đi vì giận cha mẹ. Cái giận dỗi trẻ con khiến em tin rằng mình bị đối xử
bất công, rằng ra đi sẽ khiến cha mẹ hối hận. Suy nghĩ ấy vừa bồng bột vừa đáng
thương. Thế nhưng, cuộc gặp gỡ bất ngờ với Lụm đã khiến mọi thứ đổi khác.
Lụm
xuất hiện không hề ấn tượng theo cách thông thường. Cậu bé gầy gò, quần áo rộng
thùng thình, dáng vẻ lam lũ đến mức khiến người ta phải chạnh lòng. Nhưng chỉ
cần lắng nghe câu chuyện của Lụm, ta nhận ra đằng sau dáng hình bé nhỏ ấy là cả
một số phận. Một đứa trẻ bị bỏ rơi từ khi còn đỏ hỏn, lớn lên nhờ những mẩu
bánh mì, sống bằng nghề bán dạo, đêm đêm vẫn quay về ngã tư cũ để chờ một người
mẹ không biết có còn tồn tại hay không. Câu chuyện ấy không được kể bằng giọng
bi lụy mà bằng sự hồn nhiên đến xót xa. Chính sự hồn nhiên ấy khiến nỗi đau trở
nên thấm thía hơn.
Cuộc
trò chuyện giữa hai đứa trẻ dần dần mở ra hai thế giới đối lập. Một bên là cậu
bé đang giận dỗi vì bị đánh đòn, một bên là đứa trẻ khao khát được một lần bị
cha mẹ mắng. Khi Lụm hỏi với vẻ háo hức rằng bị đánh có “đã lắm” không, câu hỏi
ấy khiến người đọc khựng lại. Hóa ra có những điều mà ta từng xem là khó chịu,
lại là điều mà người khác ao ước. Sự đối lập ấy như một tấm gương soi chiếu,
khiến nhân vật “tôi” nhận ra sự nông nổi của mình. Và cũng chính lúc ấy, người
đọc cũng chợt giật mình nhìn lại những điều mình từng vô tâm.
Cảm xúc
thương cảm dành cho Lụm không chỉ đến từ hoàn cảnh mà còn đến từ tâm hồn của
cậu bé. Dù bị bỏ rơi, Lụm không hề oán trách. Ngược lại, em vẫn tin rằng cha mẹ
mình hiền lành, vẫn chờ đợi trong một niềm tin gần như không có điểm tựa. Niềm
tin ấy mong manh nhưng lại bền bỉ đến lạ. Nó khiến ta vừa xót xa vừa cảm phục.
Một đứa trẻ thiếu thốn mọi thứ vẫn có thể giữ được trong lòng một ánh sáng ấm
áp như thế, thì cớ gì những người đủ đầy lại dễ dàng đánh mất niềm tin và tình
yêu thương?
Chính từ
câu chuyện của Lụm, nhân vật “tôi” bắt đầu nhìn lại mình. Những kí ức về gia
đình hiện lên rõ ràng hơn bao giờ hết. Một ly sữa trước giờ ngủ, một cái hôn
vụng về của mẹ, một lời nhắc nhở nghiêm khắc của cha, tất cả bỗng trở nên
thiêng liêng. Những điều từng bị xem nhẹ nay lại trở thành điểm tựa ấm áp. Nỗi
giận dỗi tan đi, nhường chỗ cho sự hối hận và nhớ thương. Khi cha mẹ xuất hiện,
cậu bé không còn giữ vẻ bướng bỉnh mà bật khóc vì sợ bị bỏ rơi. Giọt nước mắt
ấy là dấu hiệu rõ ràng nhất của sự trưởng thành.
Khoảnh
khắc “tôi” gọi Lụm là “anh” mang một ý nghĩa thật đặc biệt. Đó không chỉ là
cách xưng hô mà còn là sự thừa nhận, là lòng trân trọng đối với một con người
tuy nghèo khó nhưng giàu nghị lực. Lụm không còn là một đứa trẻ xa lạ mà trở
thành một người anh, một người đã giúp “tôi” hiểu ra nhiều điều. Sự thay đổi ấy
diễn ra nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, đủ để khiến người đọc cảm nhận được sức mạnh
của sự thức tỉnh.
Không
cần đến những tình tiết kịch tính, không cần những lời lẽ cầu kì, Nguyễn Ngọc
Tư vẫn khiến câu chuyện chạm đến trái tim người đọc bằng sự chân thành. Ngôi kể
thứ nhất giúp cảm xúc trở nên gần gũi, chân thực. Ngôn ngữ mang đậm hơi thở đời
sống, giản dị mà giàu sức gợi. Những chi tiết nhỏ như chiếc ghế đá, ngã tư, ổ
bánh mì… đều góp phần tạo nên một không gian quen thuộc, nơi những câu chuyện
lớn lao về tình người được kể bằng giọng điệu nhẹ nhàng.
Đọc Lụm
còi, ta nhận ra văn chương không cần phải nói những điều quá lớn lao mới có thể
làm lay động lòng người. Chỉ cần một câu chuyện giản dị, một cuộc gặp gỡ tình
cờ, cũng đủ để đánh thức những điều tốt đẹp trong mỗi chúng ta. Và khi những
điều tốt đẹp ấy được đánh thức, con người sẽ biết sống chậm lại, biết yêu
thương nhiều hơn, biết trân trọng những gì mình đang có.
Quan
niệm của Mai Văn Phấn vì thế không chỉ đúng mà còn gợi mở nhiều suy ngẫm. Văn
chương chân chính luôn hướng con người đến cái đẹp, cái thiện. Tuy nhiên, không
phải bất cứ tác phẩm nào cũng làm được điều đó. Chỉ khi người viết thực sự đặt
tâm hồn mình vào trang viết, khi tác phẩm mang trong nó chiều sâu tư tưởng và
sự chân thành, nó mới có thể chạm đến người đọc. Và cũng không thể quên rằng
văn chương còn có một sứ mệnh khác, đó là chỉ ra cái xấu, cái ác, để con người
biết tránh xa và đấu tranh chống lại những điều làm tổn thương nhân tính.
Đối với
người cầm bút, lời nhắn gửi ấy là một lời nhắc nhở về trách nhiệm. Viết không
chỉ để thể hiện tài năng mà còn để góp phần làm cho cuộc đời trở nên tốt đẹp
hơn. Đối với người đọc, đó là lời mời gọi hãy đến với văn chương bằng sự chân
thành, để lắng nghe và cảm nhận.
Khép
lại trang văn, hình ảnh cậu bé Lụm đứng dưới ánh đèn, lặng lẽ nhìn theo chiếc
xe khuất dần, vẫn còn đọng lại như một nốt trầm. Ánh mắt ấy chứa đựng nỗi buồn
nhưng cũng le lói niềm tin. Và chính hình ảnh ấy khiến ta hiểu rằng văn chương
không chỉ kể chuyện, mà còn thắp lên những ngọn lửa nhỏ trong tâm hồn con
người. Những ngọn lửa ấy, dù mong manh, vẫn đủ để sưởi ấm một thế giới đang có
nguy cơ trở nên lạnh lẽo bởi sự vô cảm.
LỤM CÒI
Nguyễn Ngọc Tư
Tôi
quyết định rồi, tôi sẽ bỏ nhà đi bụi đời. Tôi đang giận ba tôi ghê lắm. Tôi
không suy nghĩ nhiều lắm về chuyện này. Cứ tửơng vẻ mặt hốt hoảng của mẹ lúc mở
của ra thấy cái thư để lại (cái thư sai chính tả hãi hùng luôn), vẻ mặt hối hận
tràn đấy của ba là tôi thấy hả hê, sướng người. Người lớn không thể đối xử với
tôi như vậy được. Tôi mới mượn tạm tiền trong trúi mẹ để đi chơi điện tử thôi
mà bị đánh đòn tới hai roi. Đau thấu trời. Lỗi là mượn mà không hỏi mẹ, ba tôi
dằn dằn vậy. Nhưng mượn trước, nói sau cũng đâu có sao, ai thèm gian lận gì
đâu. Bị đòn là lần này đúng là ức quá, ức quá đi thôi.
Chạng
vạng, tôi xếp đồ bỏ vô túi quẩy di. Mới đầu tôi tính đi xa thiệt là xa kìa,
nhưng nghĩ lại tôi đi xa thì ba mẹ tôi làm sao kiếm gặp. Ba mẹ tôi dứt khoát
phải suy nghĩ về thái độ qúa khắt khe của mình khi thấy thằng con quý tử đang
lăn lóc vỉa hè. Tôi quyết địn đến ngã tư chỗ rẽ về nhà ngoại, thể nào lúc ba mẹ
cuống cuống chạy đi tìm cũng qua đây. Ngồi không ngó xe cộ chạy lại hỏng biết
làm gì, tôi moi ra từ mấy cái túi hai chục ngàn, tôi ngồi ăn hàng cho bằng hết.
Mới một chút mà trời đã tối mịt, tôi sốt ruột lết ra băng đá gần gốc me (chỗ
nầy trên đường rất dễ thấy), nằm ườn ra đó, rồi suy nghĩ, không biết ba mẹ làm
gì mà chừng nấy cũng chưa chạy qua đây nữa. Nằm hoài, chờ hoài, tôi trở bộ hết
nằm rồi ngồi, hết ngồi trở lại nằm chò co.
Ở đó,
tôi gặp thằng Lụm.
Đó là
lúc tôi mỏi mòn ngủ thiếp đi một giấc. Tôi nằm mơ thấy đang ngủ trên giường
nệm, mền dầy, gối êm ơi là êm. Đang chiêm bao ngon lành, tự nhiên nghe có ai đá
vào mông, tôi nhổm dậy, ngo ngác dụi con mắt. Một thằng con trai đứng trước mặt,
tay chống nạnh:
– Ê
nhỏ, ai biểu mấy dành chỗ của tao.
Tôi cự:
– Giành
hồi nào, ghế của nhà Nước.
– Hổng
dám đâu.– nó trề môi – tao nói chỗ của tao là của tao. Mầy cự một hồi tao quýnh
phù mỏ.
Tôi
khép lại một đầu ghế đá nhìn nó dò xét. Dung hết khả năng tả văn của mình ra
để... coi tướng. Thằng đó lùn tịt nhưng cái mặt già chác, hai con mắt thồ lộ
như hai con ốc bươu vàng, sóng mũi xẹp lép gãy từng khúc, cái trán thì vồ, gắn
trên bộ mình ốm tong ốm teo là cái đầu chờ vờ như cá lóc gặp nước mặn. Tự nhiên
tôi thấy sợ, giọng tôi xịu xuống.
–
Nhưng... tao... tao không ngồi đây thì không biết đi đâu
–
Vậy... – nó có vẻ suy nghĩ. – xích qua một bên cho anh Lụm mầy ngồi với.
Trời
đất, tôi đã de ra sát mép ghế rồi mà nó còn biểu xích vô nữa, thiệt là quá
đáng:
– Nhỏ
xíu bày đặt làm anh – tôi cố gỡ thể diện.
– Chừng
nào – nó sừng sộ – chừng nào mới nhỏ, mầy bao nhiêu tuổi?
– Mười
bốn – tối cố kê thêm một tuổi cho chắc ăn khỏi kêu nó bằng anh.
– Tao
mười lăm.
– Sạo!
Mười lăm tuổi gì mà có chút tẳn?
–
Thiệt. Tại tao nuôi hoài mà hỏng lớn. Bị cai. Ai cũng kêu tao là Lụm “Còi”
Và như
thể chứng minh, thằng Lụm còi đứng dậy, nó xoay một vòng, đôi chân nhỏ sĩu quay
quay trong cái quần bò rộng thùng thình, như thể chỉ cần nó buông tay ra là cái
quần tuột dốc xuống đầu gối. Thằng Lụm thấy tôi nhìn quá trời, nó đâm mắc cỡ.
– Tao
mua đồ sida đó. Quần áo ở đó cỡ lớn không hà!
Nói
rồi, nó xốc cái quàn bò lên, hai cái lai đằng gót dã bị nó đạp rách tưa tái như
cá chốt rỉa. Tôi bật cười. Hỏng hiểu sao cái cười đó làm tan biếtn đi sự lạ lẫm
giữa hai đứa tôi. Thằng Lụm rờ cái cặp đầy nhóc quần áo tôi:
– Mầy
đi đâu mà ngồi đây?
Tôi nói
dõng dạc để chứng tỏ con người mình đấy dũng cảm:
– Đi
bụi đời
Nó chê
liền:
– Tưóng
mầy mà đi bụi? Yếu như cọng bún mà nói đi bụi, mắc cười.
Tôi
giận lắn, tuy nhiên để chứng tỏ mình là người lớn, tôi nhún vai ra chiều không
chấp. Tôi hỏi lại nó ra đây làm cái gì. Nó nói, nó tìm má nó. Tôi hỏi má nó ở
đâu, nó lắc đầu hỏng biết. Tôi hỏi tới:
– Sao
kỳ vậy?
Thằng
Lụm “còi” nhún vai, co mình lại tuồng như ngọn gió vừa bay qua lạnh lắm vậy.
– Hồi
đó, hồi tao còn nhỏ ơi là nhỏ, má tao bỏ tao lại đây nè.
– Là
sao? – tôi chưng hửng.
– Tao
cũng đâu có biết. Chắc má tao gặp chuyện gì đó buồn lắm, nuôi không nổi tao nên
bỏ tao lại đấy. Bởi vậy tao têm Lụm đó.
– Sạo
hoài.
Thằng
Lụm lắc đầu ra chiều chán nản:
– Thệt
đó, biết sao tao đen thui vậy hôn? – Nó chìa ra cái mặt như chàm cháy – tao bị
bỏ ngoài nắng đó. Hồi đó ở ngã tư nầy vắn hoe hà, tao nằm khóc cả buổi mà đâu
có ai hay. Tới chừng đói qúa tao mới khóc, tao khóc rổn rổn luôn, tao mạnh
miệng từ hồi nhỏ mà. Rồi cái có bà dì bán bánh mì chạy lại, bồng lên, đâu có
sữa, bà dì mới móc ruột bán mì cho tao trấp trấp đỡ, dè đâu tao ăn hết ổ bánh
mì luôn. Bà dì thấy tao dễ nuôi, nuôi luôn, sau này, tao kêu bả bằng ngoại. Tao
lớn mà hổng tốn một miếng sữa nào hết, hay chưa?
Thằng
Lụm hỏi tôi bằng giọng tự hào. Tôi tròn con mắt nhìn nó. Tôi cứ tưởng nó nói
chơi. người ta có thể lớn lên nhờ bánh mì à? Còn tôi, mẹ tôi nói từ hai, một
tuổi cho tớ bốn tuổi, tôi uông hết ba trăm mười lăm hộp sữa bột, vậy mà còn
bệnh lên bệnh xuống èo ọt thảm thương. Ba tôi nói thêm, nuôi tôi cực ghê lắm.
Giờ này hai người ở đâu mà sao không lại rước tôi ta? Gió đang lạnh thấy mồ đi.
– sao
mày đi bụi? – thằng Lụm chợt hỏi
– Ba
tao – tôi chép miệng ra vẻ oan ức. Ba tao đánh tao.
– Ý, bị
đòn hả? – Tự nhiên nó hào hứng. Bị đánh bằng gì?
– Bằng
roi, cây roi dài thiệt dài (nhưng cây roi ba đánh tôi là cây thước thơj may của
mẹ, cụt ngủn hà). Bự tổ cha vậy nè .
Tôi đưa
bắp tay ốm ròm ra.
– Đánh
nghe đau mà chắc đã lắm hen?
Giọng
thằng Lụm vừa hò hởi vừa có vẻ ganh tị.
– Mày
sướng thiệt (trời, bị đánh mà sướng nỗi gì). Vậy mà còn bỏ nhà đi. Đồ ngu!
Tự
nhiên vậy rồi nó chửi tôi à. Tôi cãi:
– Mầy
đâu có má có ba đâu có biết. Người lớn khó dữ lắm.
– Chẳng
thà có má, có ba, bị rầy gì trao cũng chịu – thằng Lụm trở nên trầm ngâm, coi
nó già quá trời! – Nhưng mầy đừng có lo, tao ngồi đây thể nào cũng gặp má tao
thôi. Thế nào má đi qua má cũng nhìn ra tao. Mai mốt bị rầy, bị đòn cho đã.
Tự
nhiên tôi thấy thương thằng Lụm quá. Nó kể với tôi, nó đã chờ má nó từ hổi bảy
tuổi tới giờ. Ban ngày nó đi bán bánh mì, ban đêm nó mơi ra đây. Nó nói chừng
nào nó giàu nó thôi bán bánh mì vì biết đâu má nó vẫn thường qua đây ban ngày
mà không thấy nó. Nó chợt hỏi:
– Mầy
sướng thấy mồ mới bị đánh tí đã bỏ đi. Bây giờ mầy có dám đổi với tao không? Ở
một mình buồn lắm, mầy ngu thì thôi đi.
Thằng
Lụm nói với giọng kẻ cả. Tôi giật mình, bây giờ có ông tiên nào hiện ra để đổi
vị trí hai đứa, chắc tôi buồn lắm. Ừ, có lẽ, ở nhà, bị rầy bị đánh vẫn hơn đi
bán bánh mì, ngủ bờ ngủ bụi như vầy. Ở nhà, giờ này, mẹ khuấy cho tôi một ly
sữa uống trước khi đi ngủ (mèn ơi, cũng gần 14 tuoi rồi mà... như con nít...),
mẹ hỏi tôi đánh răng chưa, tôi nói rồi, mẹ không tin biểu tôi nhe răng ra, thừa
lúc hai má tôi phồng phông, mẹ sẽ hôn tôi. Giờ nầy, nếu tôi đang mải đọc truyện
tranh, ba sẽ biểu tôi cất sách, đi ngủ, ba sẽ ém mùng, tắt đèn giùm tôi khi
bước ra căn phòng dán đầy hình ảnh Đôremon và Siêu Nhân.
Thằng
Lụm “còi” làm tôi hối hận và nhớ ba mẹ quá chừng. Tôi muốn trở về. Tôi ngồi im
lằng suy nghĩ trong khi thằng Lụm đứng dậy để nhìn mỗi khi có một lượt xe dừng
lịa trước đèn đỏ. Tôi chợt sợ quá, có khi nào ba mẹ giận bỏ tôi luôn như thằng
Lụm không. Ba mẹ sẽ sanh nhiều thiệt nhiều em khác còn tôi thì biết kiếm đâu ra
ba mẹ khác bay giờ. Tôi ngồi lo lắng đến mức, khi ba mẹ tôi ghé xe lại dưới
đường tôi còn không hay. Thấy bóng mẹ dứng sịch trước mặt mình, tôi bật khóc:
– Con
tính dâu ba mẹ bỏ con luôn rồi.
Mẹ
không vồ vập ôm lấy tôi mà điềm đạm cầm bàn tay tôi bóp mạnh, còn ba thì vỗ vỗ
vào đầu tôi.
– Con
hư quá. Con đừng làm vậy ba mẹ buồn.
Thằng
Lụm đứng trân trân nhìn tôi vớ đôi mắt buồn tủi. Tôi quẹt nước mắt bươc lại gần
nó, bất giác tôi gọi thằng Lụm bằng anh:
– Em về
nghen, anh Lụm.
Thằng
Lụm gật đầu, nó ngẩng lên nhìn ba mẹ tôi rồi quay lại:
– Ba má
mầy hiền lằm phải không?
– Ừ,
sao anh biết?
Nó ra
vẻ ta đây:
– Nhìn
tướng là biết – rồi nó mơ màng – ba má tao cũng hiền, tao tin vậy.
Mẹ lại
gần nắm tay tôi, mẹ nói “Về đi con, khuya rồi, mai còn đi học”, quay qua thằng
Lụm, mẹ hỏi “còn cháu? Cháu không về nhà à?” Thằng Lụm cảm động, lắc đầu , nó
nói trổng không:
– Mai
mốt ra đây chơi, nghen mậy!
Tôi vừa
ngoái vừa gật đầu. Ba tôi hỏi ai, tôi trả lời “bạn con. Anh Lụm. Anh Lụm tội
nghiệp lắm ba à...” không biết thằng Lụm “còi “ có biết tôi đang kể về nó không
mà nó nhìn theo xe tôi đến khuất thì thôi. Khi tôi ngoái lại, dưới đèn sáng
rực, tôi thấy trong mắt nó lấp loáng những giọt nước. Tôi ngồi giữa ba và mẹ,
nghe ấm hẳn lên. Tôi lên tiếng:
– Bữa
nào ba mẹ cho con lại thăm anh “Lụm Còi” ba mẹ ha!
(Nguồn bài và tranh minh họa: HocVan.Edu.Vn)