image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement





























Yêu để hóa thiên nhiên (phê bình) - Mai Văn Phấn

Yêu để hóa thiên nhiên

 

Nhà thơ Như Bình

 

 

Mai Văn Phấn

 

Từ cuộc đổi mới văn chương cuối thế kỷ XX, nhiều cây bút nữ Việt Nam có cơ hội bước ra khỏi những định kiến và cấm kỵ, để nói bằng tiếng nói riêng của mình, tự do hơn trong cách cảm và cách viết về tình yêu. Trong dòng chảy ấy, Như Bình là một gương mặt đáng chú ý. Khởi đi từ văn xuôi giàu cảm xúc và hình ảnh, với những trang viết lắng sâu vào đời sống nội tâm con người giữa những biến động của thời cuộc, chị đến với thơ như cuộc đổi mới chính mình, một tái sinh trong nghệ thuật. Tập thơ “Sự im lặng biếc xanh” (NXB Hội Nhà văn, 2024) cho thấy bước chuyển rõ rệt trong tư duy và ngôn ngữ sáng tác, đồng thời mở ra một không gian thẩm mỹ lắng sâu, nơi tình yêu được cảm nhận trong sự hòa điệu giữa con người và thiên nhiên.

Trong tập thơ này, tình yêu hiện lên qua nhiều cung bậc khác nhau, đan xen và tiếp nối, làm thành dòng chảy cảm xúc mạnh mẽ. Có lúc, cái đẹp bừng sáng, mãnh liệt như những con sóng cuốn người đọc vào đam mê và khát vọng sống. Và cái đẹp lại lặng lẽ nảy sinh từ chia xa, từ nỗi đau âm thầm, từ những điều chưa trọn vẹn. Thơ Như Bình hấp dẫn chính ở sự song hành giữa hạnh phúc và mất mát, giữa thăng hoa và day dứt. Những đối lập ấy không khép lại, mà khơi mở, tạo dư vang nhẹ nhàng và bền lâu trong lòng người đọc

“hoàng n th mặt trời xuống vớt em lên

em đ i qu cầu cháy khát

nhưng đáy sóng nh em san hô nh em

rong biển đã ru em nghìn m em chết

i ngược dòng những mù khơi

n o v ngang hỏi em nh không

n dông bận đi xa không kịp tr li

em bơ vơ trên sóng

đùa vui mặn đng...”

(Sự im lặng biếc xanh 2)

Thiên nhiên, một nội hàm quan trọng trong thơ chị, không chỉ là bối cảnh hay hình ảnh ẩn dụ, mà là thực thể sống động, mang đậm triết lý và hòa quyện với con người. Tình yêu trong thơ Như Bình trở thành phương thức giúp con người tìm lại bản thể đích thực, hòa nhập vào vũ trụ rộng lớn, vượt qua ràng buộc hữu hình. Bài thơ “Rỗng không” tiêu biểu cho phong cách sáng tác của tác giả, nó biểu đạt trạng thái cân bằng độc đáo giữa hư vô và tồn tại – một khởi đầu của chuyển hóa thông qua buông bỏ và giải phóng khỏi những gánh nặng của đời sống.

“rỗng không, em bay như những vệt mây

em đổ vàng như những triền nắng óng

em lạnh tăm như nước đáy hồ

ngàn năm im lặng”

(Rỗng không)

Như Bình không tách con người khỏi thiên nhiên, mà nhìn cả hai như một chỉnh thể gắn bó. Trong sự hòa quyện ấy, con người đi tìm lại chính mình. Thơ chị là hành trình vận động nhẹ nhàng: từ những rung động bản năng ban đầu, dần đi tới sự lắng lại, tỉnh táo và an nhiên. Ở điểm gặp gỡ ấy, bản năng và lý trí không đối lập mà hòa quyện, mở ra khát vọng sống yên bình.

“em không thể chạy đến tìm anh để nói với anh

thật ra em rất cô đơn

con thú hoang trong em rũ lông cụp đuôi lùi về phía bìa rừng

gục đầu thú tội

em không thể chạy đến tìm anh để ngã

vào cô đơn

thêm một lần nữa”

(Con thú)

“Con thú hoang trong em” là hình ảnh khiến tim ta nhức nhối, khắc họa sự đơn độc, bơ vơ và bế tắc. Ở đây ta thấy nỗi hoang hoải trong tình yêu nhập vào sự hoang dã của thiên nhiên. Từ “con thú” đến “bìa rừng” đánh dấu quá trình thu mình, đối diện bản thân, từ cảm giác hoang mang đến nhận thức rõ về nỗi cô đơn và chiều sâu nội tâm. Chuyển dịch từ “em” đến “anh” lại là hành trình tìm kiếm kết nối, nơi bản thể con người hóa thân vào tự nhiên để khám phá sự hòa hợp. Hai chuyển dịch này song hành: một biểu đạt sức mạnh và bản năng, một chìm lấp trong cảm giác trống rỗng. Chúng giống như hai phía của mặt trăng – phía này phản ánh hy vọng và trọn vẹn, phía kia là nỗi sợ hãi và mơ hồ. Tấm gương hai chiều này tạo nên chiều sâu, sự phong nhiêu trong hành trình khám phá tâm lý và nghệ thuật của Như Bình.

Đoạn thơ dưới đây hé mở tầng cảm xúc khác trong thơ Như Bình, bùng cháy như ngọn lửa rực rỡ, soi thấu không-thời-gian, khát khao vượt qua mọi giới hạn và nhấn mạnh tính phổ quát của tình yêu:

“em đã kịp yêu đâu

kẻ khát tình là em, yêu dại điên cũng là em,

yêu như tử vì đạo chỉ có thể là em

em nào đã kịp hôn và yêu như Eva thuở hồng hoang

ngọt ngào trái cấm

...

em muốn yêu và hôn

trăm năm

ngàn năm

mãi mãi.”

(Viết về một nỗi sợ hãi)

Những ngôn từ như “kẻ khát tình là em”, “yêu dại điên”, “yêu như tử vì đạo” cho thấy một tâm hồn cháy rực vì yêu, đồng thời nhấn mạnh sự hy sinh, dâng hiến và cả nỗi dằn vặt khi yêu. Nhân vật “em” đã đốt cháy mình trong ngọn lửa đam mê, sẵn sàng vượt qua định kiến và giới hạn để thăng hoa. Sự dữ dội ấy dâng trào khát vọng, rồi lắng xuống trong nhịp chậm dài tựa âm ba vọng mãi. Như Bình đã khéo léo dung hòa hai mặt đối lập, sự mãnh liệt của cảm xúc và tinh tế trong biểu đạt; tạo nên cõi thơ lắng sâu và cháy bỏng.

“em có thể gãy cánh như con chim mơ về bầu trời

sẽ vỡ móng như con ngựa hoang bay trên mờ mịt lối”

(Âm thanh cuối);

“đôi khi em thật điên rồ

ước muốn khỏa thân trong đất nâu yên lặng

ai sẽ mở tiệc trên cơ thể em

để chú dế con thôi gục đầu trên ngực em bật khóc”

(Viết về cái chết)

Tình yêu trong thơ Như Bình hòa nhập với thiên nhiên như con người hòa hợp với đất trời. Vẻ đẹp của sự hòa nhập ấy dịu dàng, mơ hồ như sương sớm giăng trên cánh đồng, mặt nước... khơi gợi nỗi buồn man mác và nỗi nhớ không tên. Những thi ảnh chập chờn giữa thực và mộng, vừa chân thật đến nao lòng, vừa huyễn hoặc đến hoang mang; ở đó, thiên nhiên là bối cảnh và cũng là nhân vật đồng hành, lặng lẽ đối thoại với nỗi lòng con người.

“ôi đất nâu cũng mịn màng như em

thảng thốt như em

đắm đuối như em

muốn hóa thành mầm hoa bật lên nơi vắng lặng

một bông hoa kiêu hãnh giữa nắng trời”

(Trầm cảm)

Đó là những chuyển động tinh tế và dịu dàng trong không gian suy tưởng. Sau hành trình hoán chuyển và hóa thân, đất đai bỗng sống dậy, đồng điệu với cảm xúc của nhân vật trữ tình; nó không còn vô tri mà biết “thảng thốt”, “đắm đuối”. Đất hòa vào “em”, khát khao hóa thành “mầm hoa bật lên nơi vắng lặng”, là sự tái sinh, là khát vọng vươn lên từ nỗi đau làm một vẻ đẹp kiêu hãnh.

Ở nơi thiên nhiên bị phụ bạc, nó không còn là chốn an lành mà lại chứa đựng sự đau đớn, mất liên kết, làm tăng thêm chiều kích của bi kịch.

“trong giấc mơ đêm qua tôi gặp lại cô bò

đôi mắt nàng nhìn tôi

ôi đôi mắt bò cái

nàng khóc hay tôi?

nước mắt sắc như thủy tinh lăn trên thảm nhung xanh

bạt ngàn cỏ ngọt

lưỡi của nàng không thể chạm vào những lá cỏ mềm

trên mặt đất

chân nàng không thể chạm cánh đồng.”

(Nàng bò cái)

“Nàng bò cái” là biểu trưng của tình yêu thiện lành và gắn kết với thiên nhiên – nay bị đứt lìa khỏi thế giới của mình; nó là hình ảnh ẩn dụ cho nỗi cô đơn, lạc lõng của con người trong cuộc sống hiện đại.  

Trong tình huống khác, sự xung đột giữa khát khao và thực tế được đẩy lên cao trào:

“chúng mình như những ngôi sao xa

hun hút sáng không thể nào tới được

...

muốn an táng vầng trăng trong bầu ngực

cho tình yêu”

(Viết cho anh)

Hình ảnh táo bạo và siêu thực này biểu đạt khát vọng giữ trọn vẻ đẹp dịu dàng của tình yêu trong chính bản thể nhân vật, dù phải đánh đổi bằng nỗi đau sâu kín. Như Bình khéo léo chuyển dịch giữa các trạng thái cảm xúc, từ hiện thực đến huyền ảo, từ khát khao đến vời vợi nỗi buồn.

Trong cõi thơ Như Bình, mỗi câu thơ như nhịp thở của thiên nhiên, vừa êm dịu vừa cuồng nhiệt, đưa tình yêu trở về với vẻ đẹp nguyên sơ và bản chất thuần khiết của nó.

“nỗi buồn trang điểm phấn son

ngơ ngác mỗi ngày một màu môi lạ

em cười như nắng tỏa

như sương thu rụng kín khu vườn

...

rơi xuống cánh rừng già

trên cơ thể em nỗi buồn dậy hương

nỗi buồn khỏa thân gọi tên những run rẩy ái tình

thoát kiếp.”

(Trầm cảm 3);

“em đứng yên tan chảy

khóc mà không hiểu vì sao

vì sao chúng ta bặt xa nhau

vì sao chúng ta vắng xa nhau lâu đến thế.”

(Sự lãng quên trùng kiếp)

Hình ảnh trong thơ không dừng lại ở những biểu hiện hữu hình, mà còn mang chiều sâu triết lý và rung động tự nhiên.

“biển của em chiều nay/ chạm đáy sóng

những hạt muối dưới bể sâu gọi em

nghe kí ức rã mặn đắng”

(Biển của em);

“là hòn sỏi em lặn vùi trong cát

tạ muôn ơn trong vô cực đời này

rồi một ngày hòn sỏi em bật khóc

khi bình minh nhảy múa gọi tên mình.”

(Hòn sỏi im lìm nơi đáy suối)

Thi ảnh cuối ở khổ thơ trên bỗng bừng sáng, tràn đầy hy vọng. Sự tương phản giữa trạng thái tĩnh lặng ban đầu và niềm vui bừng nở sau cùng đã khơi mở chiều sâu nội tâm. Đây là vẻ đẹp của sự sống, nơi những gì nhỏ bé và lặng lẽ nhất cũng chứa đựng ý nghĩa lớn lao và giàu cảm xúc.

Trong Sự im lặng biếc xanh”, thiên nhiên không tĩnh tại mà luôn biến động, đồng cảm và tương hợp với nội tâm con người. Không chỉ dừng lại ở vai trò làm phông nền cho cảm xúc, thiên nhiên còn là không gian để con người tìm về, kết nối và hòa hợp, mở đường tới tinh thần thiền định. Thiên nhiên của Như Bình là dòng chảy bất tận, làm điểm tựa tâm hồn, là nơi để buông bỏ và lắng dịu, thể hiện bản chất thuần khiết của vạn vật.

“em về ngủ giữa sen trắng

mộng bình yên một đóa thôi

ru em miền hương thơm nắng

ngắm em sáng mảnh gương trời

...

hồn em về trên sen trắng

đậu vào một đóa tường vân

thở vào thở ra tan biến

hóa em một thanh âm lành.”

(Thiền 3)

Thơ Như Bình hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại, giữa chiều sâu triết lý và cảm xúc trữ tình. Chị khai thác những vỉa tầng cảm xúc phong phú, kết hợp nhịp điệu uyển chuyển với những hình ảnh giản dị. Thơ chị giàu nhạc tính, mềm mại và sâu lắng, mở rộng biên giới suy tưởng nơi người đọc. Như Bình chủ yếu viết thơ tự do với nhịp điệu phóng khoáng, tự nhiên. Trong tập thơ chỉ có hai bài lục bát, nhưng cũng đủ để thấy sự điêu luyện trong nghệ thuật tu từ. Bài lục bát dưới đây duy trì chuyển động nhẹ nhàng của nhịp điệu, xen lẫn những chấn động tình cảm; nó mở ra những suy tư về sự mong manh của tình yêu, về nỗi cô đơn trong kiếp người, về vẻ đẹp thâm trầm của đời sống nội tâm.

“một mình chỉ với mình thôi

chanh chao nắng nỏ ngày côi cút gầy

mở bàn tay ngắm kẻ tay

bơ vơ năm ngón đắng cay phận buồn

 

một mình

chơi với hoàng hôn

phù du khép nụ vô thường tàn đau

líu lo sao tiếng sáo nâu

thả trong thăm thẳm cái câu ái tình”

(Một mình)

Như Bình tạo nên một thế giới thơ giàu hình ảnh, nơi thiên nhiên và tình yêu hòa làm một. Những nhịp sóng, ánh trăng, cánh đồng trong thơ chị không chỉ là cảnh vật, mà còn gợi lên những rung động sâu kín của tâm hồn, giúp con người cảm nhận rõ hơn sự gắn bó và cộng hưởng với thế giới quanh mình.

Tập thơ “Sự im lặng biếc xanh” minh chứng cho quá trình đổi mới tư tưởng của một cây bút nữ hiện đại. Tình yêu trong thi tập dâng trào, say đắm và vô hạn, giải phóng con người khỏi cái tôi vị kỷ để hòa vào thiên nhiên vô tận. Không chỉ cảm xúc cá nhân, tình yêu ấy vươn tới trạng thái hòa nhập, nơi riêng tư và cộng đồng cùng tồn tại, hòa quyện và phản chiếu những rung động nội tâm ra thế giới. Tình yêu ấy vừa mãnh liệt, vừa dịu dàng, như hành trình khám phá bản thân, một trải nghiệm vượt qua mọi giới hạn. Những xúc cảm ấy mang tính phổ quát, đa dạng, trải rộng từ dữ dội đến tĩnh lặng, từ hữu hình đến siêu hình. Cõi thơ của Như Bình gây ấn tượng mạnh bởi sự hòa hợp giữa con người và thế giới. Tình yêu trong thơ chị là quá trình tự nhiên hóa bản thể, giúp con người trở về với chính mình, trở nên khiêm nhường, giản dị hơn, và hòa mình vào nhịp sống vũ trụ.

 

Hải Phòng, 9/12/2024

M.V.P

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 3 4 5 
Xem thêm

image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement




























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị