Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986 (Luận án tiến sĩ) - Phạm Thị Trịnh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

 

 

 

 

Phạm Thị Trịnh

 

 

 

ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÀ THƠ THẾ HỆ ĐỔI MỚI

TRONG THƠ VIỆT NAM SAU 1986

 

 

 

Mã số: 9220121

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

 

 

 

Luận án tiến sĩ Ngữ văn (trích)

 

 

 

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS. TS. Lưu Khánh Thơ

2. TS. Lê Thị Hồ Quang

 

 

 

Nghệ An - 2021

 

 

 

Maivanphan.com: Ngày 20/8/2021, NCS Phạm Thị Trịnh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài "Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986", dưới sự hướng dẫn của PGS. TS. Lưu Khánh Thơ và TS. Lê Thị Hồ Quang. Luận án đã nghiên cứu những đóng góp nghệ thuật của các nhà thơ thuộc thế hệ Đổi mới, đặc biệt tập trung khảo sát sáng tác của các tác giả Dư Thị Hoàn, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Bình Phương, Inrasara. Vì khuôn khổ của website, chúng tôi trích đăng phần Mở đầu, Chương 3 và Kết luận của luận án này!

 

 

 

TS. Phạm Thị Trịnh bảo vệ luận án

 

 

 

MỤC LỤC

 

MỞ ĐẦU      

 

1. Lý do chọn đề tài

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu      

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu     

4. Phương pháp nghiên cứu       

5. Đóng góp của luận án   

6. Cấu trúc của luận án     

 

Chương 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  

 

1.1. Cơ sở lý thuyết của đề tài    

1.1.1. Giới thuyết khái niệm         

1.1.2. Tiêu chí nhận diện nhà thơ thế hệ Đổi mới          

1.1.3. Một số lý thuyết hữu quan 

1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề   

1.2.1. Những nghiên cứu trong nước     

1.2.2. Những nghiên cứu ở nước ngoài 

Tiểu kết Chương

 

Chương 2. BỐI CẢNH XUẤT HIỆN CỦA CÁC NHÀ THƠ THẾ HỆ ĐỔI MỚI       

 

2.1. Bối cảnh lịch sử, văn học Việt Nam sau 1986          

2.1.1. Về bối cảnh lịch sử 

2.1.2. Về bối cảnh văn học

2.2. Sự tiếp nối và song hành của các thế hệ nhà thơ sau 1986

2.2.1. Thế hệ chống Pháp, chống Mỹ    

2.2.2. Thế hệ Đổi mới       

2.2.3. Thế hệ tiếp nối Đổi mới     

2.3. Một số nhà thơ tiêu biểu của thế hệ Đổi mới          

2.3.1. Dư Thị Hoàn 

2.3.2. Dương Kiều Minh    

2.3.3. Nguyễn Lương Ngọc         

2.3.4. Nguyễn Quang Thiều        

2.3.5. Mai Văn Phấn         

2.3.6. Nguyễn Bình Phương        

2.3.7. Inrasara        

Tiểu kết chương 2  

 

Chương 3. ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÀ THƠ THẾ HỆ ĐỔI MỚI TRONG QUAN NIỆM VỀ SÁNG TẠO VÀ BẢN CHẤT CÁI TÔI TRỮ TÌNH          

 

3.1. Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong quan niệm về sáng tạo       

3.1.1. Tầm quan trọng của việc xây dựng quan niệm mới về sáng tạo

3.1.2. Sự thay đổi trong quan niệm về thơ và nhà thơ của thế hệ Đổi mới     

3.1.3. Thơ của các tác giả thế hệ Đổi mới - từ quan niệm đến sáng tác   

3.2. Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong quan niệm về bản chất cái tôi trữ tình     

3.2.1. Tầm quan trọng của việc ý thức về bản chất cái tôi trữ tình 

3.2.2. Sự thay đổi trong quan niệm về cái tôi trữ tình của nhà thơ thế hệ Đổi mới  

3.2.3. Đặc điểm cái tôi trữ tình trong thơ thế hệ Đổi mới        

Tiểu kết Chương 3 

 

Chương 4. ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÀ THƠ THẾ HỆ ĐỔI MỚI TRÊN PHƯƠNG DIỆN THỂ LOẠI, KẾT CẤU, NGÔN NGỮ     

 

4.1. Những tìm tòi, đổi mới về mặt thể loại       

4.1.1. Những tìm tòi đa dạng trong hình thức thể loại    

4.1.2. Thơ tự do     

4.1.3. Thơ văn xuôi

4.2. Những tìm tòi, cách tân về mặt kết cấu     

4.2.1. Kết cấu mở - kiểu kết cấu phổ biến trong thơ hiện đại 

4.2.2. Đặc điểm của kết cấu mở trong thơ thế hệ Đổi mới        

4.3. Những tìm tòi, đổi mới trong ngôn ngữ      

4.3.1. Ngôn ngữ mang tính đời thường, suồng sã          

4.3.2. Ngôn ngữ mang tính tượng trưng, siêu thực   

Tiểu kết Chương 4 

 

KẾT LUẬN   

DANH  MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

 

 


MỞ ĐẦU

 

1. Lý do chọn đề tài          

 

1.1. Lịch sử văn học là một cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi của nhiều thế hệ tác giả. Đó cũng là quá trình vận động theo quy luật kế thừa, nối tiếp, cách tân hệ hình thẩm mĩ giữa các thế hệ. Mỗi thời kì lịch sử văn học thường có một thế hệ đóng vai trò chủ lực trong việc kiến tạo nên diện mạo và hệ giá trị riêng của thời kì văn học ấy, biểu hiện và thông qua nhiều mối quan hệ: giữa nhà văn và hiện thực đời sống được phản ánh; giữa tác giả và tác phẩm; giữa tác phẩm và độc giả… Đó là lớp người cầm bút được kết nối với nhau bởi hệ giá trị chung của thời đại mà họ vừa là kẻ sản sinh, kiến tạo, vừa là sản phẩm của hệ giá trị đó. Nghiên cứu lịch sử văn học từ góc độ thế hệ tác giả, do đó, là một hướng nghiên cứu triển vọng, giúp việc phân định, đánh giá các thời kì lịch sử văn học được chính xác, khách quan, khoa học.

 

1.2. Sau 1986, cùng với chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, những thay đổi to lớn trong bối cảnh văn hóa, chính trị của thế giới và đất nước đã tác động mạnh mẽ tới đời sống văn học, đòi hỏi và thúc đẩy văn nghệ sĩ phải đổi mới tư duy, quan niệm và lối viết. Đây là lí do tạo nên những thành tựu nổi bật trên nhiều phương diện của văn học Việt Nam từ sau 1986 đến nay. Văn học Việt Nam giai đoạn này có một lực lượng tác giả đông đảo, bao gồm nhiều thế hệ tiếp nối, song hành, trong đó, nổi bật là lớp tác giả thuộc thế hệ Đổi mới, với nhiều cá tính sáng tạo độc đáo. Trong sáng tác của họ, người ta nhận thấy nỗ lực mạnh mẽ nhằm vượt thoát tư tưởng, mô hình phản ánh giáo điều, cứng nhắc và ý thức khẳng định bản sắc sáng tạo cá nhân một cách quyết liệt. Đó là những giá trị thẩm mĩ - nhân sinh rất đáng chú ý. Cùng với các thế hệ trước và sau đó, các tác giả thế hệ Đổi mới đã có những đóng góp hết sức ý nghĩa trong tiến trình vận động của văn học Việt Nam hiện đại.

 

1.3. Trong giai đoạn Đổi mới, thơ Việt Nam đạt được những thành tựu rất đáng chú ý, xét về số lượng, chất lượng tác phẩm, chất lượng đội ngũ, sức ảnh hưởng, tác động tới đời sống văn học… Nhắc đến các tác giả thơ thế hệ Đổi mới là nhắc đến khá nhiều tên tuổi nổi bật và gây ấn tượng mạnh mẽ với độc giả. Tác phẩm của họ thể hiện một quan điểm mĩ học mới, rất khác so với quan điểm mĩ học truyền thống. Không chỉ dừng lại ở những tìm tòi kĩ thuật có tính manh mún, riêng lẻ, chủ đích của họ hướng tới việc hình thành một hệ hình tư duy thơ, một “loại hình” thơ hiện đại. Những thay đổi trong quan điểm mĩ học và thi pháp thể hiện của họ có ảnh hưởng, tác động không nhỏ tới lớp tác giả kế tiếp. Trên thực tế, sáng tác của các tác giả thế hệ Đổi mới cũng đã góp phần tác động, làm thay đổi, mở rộng cách tiếp nhận thơ của người đọc và từ đó, góp phần hình thành một lớp độc giả tương ứng với loại hình sáng tác hiện đại. Dĩ nhiên, với những cách tân, đổi mới ráo riết trong quan điểm và thi pháp, sáng tác của họ cũng đã gây ra những ý kiến tiếp nhận trái chiều gay gắt và không phải lúc nào thơ của các tác giả này cũng nhận được sự ủng hộ. Nhưng chính sự tiếp nhận đa chiều này cho thấy sáng tác của thế hệ Đổi mới đã và đang hiện diện như một hiện tượng cần được lưu tâm nghiên cứu, lí giải, đánh giá một cách kĩ lưỡng và khách quan, thỏa đáng hơn.

 

1.4. Hiện tại, chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2018 đang có những thay đổi hết sức căn bản. Mục tiêu phát triển năng lực người học và tính mở là những đặc điểm nổi bật của chương trình này. Điều này buộc người dạy, người học phải hết sức chủ động trong việc mở rộng diện đọc, đánh giá, lý giải các hiện tượng văn học hiện đại, trong đó có thơ Việt Nam sau 1986. Đây cũng là một lí do khiến tác giả luận án, vốn là giáo viên Ngữ văn ở phổ thông, lựa chọn vấn đề nghiên cứu này. Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu về đóng góp của nhà thơ thế hệ Đổi mới được vận dụng hiệu quả vào thực tiễn dạy học môn Ngữ văn theo định hướng giáo dục mới của chương trình.  

 

1.5. Có thể nói, sáng tạo thơ của thế hệ nhà thơ Đổi mới đã làm phong phú thêm đời sống thi ca Việt Nam đương đại, góp phần đưa thơ ca và tiếng Việt hội nhập vào xu thế phát triển chung của nhân loại. Theo chúng tôi, việc tìm hiểu những đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam hiện đại là rất cần thiết. Tuy nhiên, đến nay, vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về vai trò, vị trí và đóng góp của thế hệ tác giả này.

 

Đó là những lý do cơ bản thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986.

 

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 

2.1. Đối tượng nghiên cứu

 

Luận án tập trung nghiên cứu đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986, cụ thể là những tìm tòi, đổi mới trong tư duy, quan niệm và thi pháp.

 

2.2. Phạm vi nghiên cứu

 

Luận án xác định phạm vi nghiên cứu là những đóng góp nghệ thuật thể hiện qua/ trong tác phẩm của các nhà thơ thuộc thế hệ Đổi mới, đặc biệt tập trung khảo sát sáng tác của các tác giả Dư Thị Hoàn, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Bình Phương, Inrasara. Ngoài ra, luận án cũng mở rộng phạm vi khảo sát về các hiện tượng thơ Việt Nam hiện đại khác khi cần thiết.

 

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

 

3.1. Mục đích nghiên cứu

 

Mục đích của luận án là nghiên cứu những tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật của các nhà thơ thế hệ Đổi mới, cụ thể trên các phương diện như tư duy nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ, hệ thống thi pháp…; trên cơ sở đó, nhận ra những đặc điểm mang tính quy luật trong tiến trình vận động, cách tân của thơ Việt Nam hiện đại và có sự lý giải, đánh giá khách quan, thỏa đáng về vai trò, vị trí và đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới. 

 

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

 

- Trình bày tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề, cụ thể là những nghiên cứu trong nước và ngoài nước về những đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới.

 

- Xác định các khái niệm công cụ (tác giả, thế hệ tác giả/ nhà thơ, nhà thơ thế hệ Đổi mới) và phân tích bối cảnh xuất hiện của nhà thơ thế hệ Đổi mới sau 1986;

 

- Phân tích, đánh giá đóng góp của nhà thơ thế hệ Đổi mới trong quan niệm về sáng tạo và bản chất cái tôi trữ tình;

 

- Phân tích, lí giải đóng góp của nhà thơ thế hệ Đổi mới trên phương diện thể loại, kết cấu, ngôn ngữ…

 

4. Phương pháp nghiên cứu

 

4.1. Phương pháp loại hình

 

Phương pháp loại hình là phương pháp nghiên cứu đối tượng bằng cách phân chia chúng thành các “loại”, “kiểu” để nhận diện cấu trúc và những quy luật vận động, phát triển của chúng. Trong luận án, chúng tôi sử dụng phương pháp này để phân loại và xác định những đặc điểm chung nhất, tạo nên tính chất “loại hình” của các tác giả thơ thuộc thế hệ Đổi mới. Nó cũng được sử dụng để đối chiếu, so sánh nét khác biệt và những điểm đặc thù giữa thế hệ Đổi mới với các thế hệ thơ khác. Bằng phương pháp này, tác giả luận án sẽ phân loại và xem xét, đánh giá cụ thể, khách quan hơn đối với các loại hình tác giả, tác phẩm.

 

4.2. Phương pháp cấu trúc - hệ thống

 

Phương pháp cấu trúc - hệ thống là phương pháp nghiên cứu đối tượng trong tư cách một cấu trúc chỉnh thể, chặt chẽ, bao gồm nhiều yếu tố tạo thành. Xuất phát từ quan niệm về thơ nói chung, sáng tác thơ của thế hệ Đổi mới nói riêng, là những cấu trúc chỉnh thể, hệ thống, trong luận án, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu cấu trúc - hệ thống để phân tích, lý giải mối quan hệ cũng như các yếu tố hợp thành cấu trúc chỉnh thể nghệ thuật này. Trên cơ sở đó, nhận ra đặc điểm và ý nghĩa, giá trị của các phương diện riêng lẻ và đồng thời, cả toàn bộ hệ thống cấu trúc của nó. Tiếp cận từng tác giả, tác phẩm, chúng tôi cũng quan tâm đến tính chỉnh thể cấu trúc của chúng. 

 

4.3. Phương pháp nghiên cứu lịch sử

 

Đây là phương pháp nghiên cứu văn học bằng cách đặt các hiện tượng văn học trong mối liên hệ với hoàn cảnh lịch sử, chính trị, văn hóa…, trên bối cảnh lịch sử sinh thành cụ thể đó để lý giải, đánh giá. Nghiên cứu lịch sử của văn học còn có nghĩa là nghiên cứu quá trình hình thành, phát sinh, phát triển của nó, trên cơ sở đó, nhận ra đặc điểm và quy luật vận động nội tại của hiện tượng đó. Bám sát các điều kiện về lịch sử - văn hóa đã chi phối đến những biến đổi, vận động của văn học, tác giả luận án cố gắng làm rõ mối quan hệ qua lại và những tác động của bối cảnh xã hội - lịch sử tương ứng đã tạo nên nét khác biệt của thế hệ Đổi mới so với các thế hệ khác trong tiến trình lịch sử của nền thơ Việt Nam.

 

4.4. Phương pháp tiếp cận thi pháp học

 

Đây là phương pháp nghiên cứu văn học từ góc độ thi pháp học. Luận án đã vận dụng phương pháp này nhằm đi sâu phân tích những đặc trưng thi pháp trong sáng tác của các nhà thơ thế hệ Đổi mới, cụ thể trên các phương diện quan niệm sáng tạo, hình tượng cái tôi, kết cấu, ngôn ngữ, bút pháp… Phương pháp này cũng giúp tác giả luận án nghiên cứu, tìm hiểu sự tác động, chi phối của quan niệm sáng tạo tới cách thể hiện trong hình thức thơ của thế hệ Đổi mới.

 

4.5. Nhóm thao tác nghiên cứu phân tích - tổng hợp, thống kê - phân loại, so sánh

 

 Đây là nhóm thao tác nghiên cứu  giúp tác giả luận án phân tích những điều kiện về bối cảnh lịch sử, các tiền đề văn hóa với những ưu điểm và nhược điểm của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng, tác động, tạo nên đặc điểm quan niệm, cảm hứng và thi pháp trong sáng tác của thế hệ nhà thơ Đổi mới;  thống kê số lượng tác giả, tác phẩm, tần số lặp lại của một số yếu tố, chi tiết nghệ thuật cần thiết; so sánh, đối chiếu giữa các hiện tượng tác giả, tác phẩm trong thơ của thế hệ Đổi mới, giữa sáng tác của thế hệ Đổi mới so với thế hệ trước và sau đó…

 

5. Đóng góp của luận án

 

Luận án là công trình khoa học nghiên cứu tương đối bao quát, hệ thống về đặc điểm và đóng góp của nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam sau 1986 trên phương diện hệ hình tư duy, quan niệm sáng tạo và nghệ thuật thể hiện. Trên cơ sở xác định những khái niệm công cụ và phương pháp luận nghiên cứu, phân tích, luận giải về một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu, luận án góp phần định vị và đánh giá một cách khách quan, thỏa đáng về vai trò và đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong thơ Việt Nam hiện đại. 

 

6. Cấu trúc của luận án

 

Ngoài phần Mở đầu, Kết luậnTài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án sẽ được triển khai trong 4 chương:

 

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Bối cảnh xuất hiện của các nhà thơ thế hệ Đổi mới

Chương 3: Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong quan niệm về sáng tạo và bản chất cái tôi trữ tình

Chương 4: Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trên phương diện thể loại, kết cấu, ngôn ngữ


 

 

Chương 3

ĐÓNG GÓP CỦA CÁC NHÀ THƠ THẾ HỆ ĐỔI MỚI TRONG QUAN NIỆM VỀ SÁNG TẠO VÀ BẢN CHẤT CÁI TÔI TRỮ TÌNH

 

3.1. Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong quan niệm về sáng tạo

 

3.1.1. Tầm quan trọng của việc xây dựng quan niệm mới về sáng tạo

 

Quan niệm về sáng tạo là gì? Đó chính là những tư tưởng, nhận thức đóng vai trò điểm tựa cho hoạt động sáng tạo, bao gồm cách nhìn của nhà thơ về cuộc đời, con người, hiện thực và những quan niệm về sáng tạo (trong sáng tác cụ thể, đó là bài thơ với cách thức tổ chức kết cấu, sử dụng ngôn từ, cách thể hiện nội dung, tổ chức hình tượng…). Quan niệm sẽ chi phối đến cách nghĩ, cách viết. Có những tác giả lựa chọn quan niệm và cách viết truyền thống, thơ của họ thường nằm trong vùng “an toàn”, dễ được số đông độc giả chấp nhận. Tuy nhiên, chính sự an toàn cũng hàm chứa nguy cơ: nó khiến thơ khó lòng vượt ra khỏi vùng thẩm mỹ quen thuộc, và do đó, khó đem lại những bứt phá, đóng góp mới mẻ. Trong khi đó, bản chất của hoạt động sáng tạo chính là việc tạo ra những giá trị mới, tạo ra cái khác biệt.

 

Thực tế chứng minh rằng, mỗi thời đại thi ca đều đánh dấu sự hiện diện của mình bằng sự khác biệt trong hệ hình tư duy thẩm mỹ mà một điểm cốt lõi là sự mới mẻ trong quan niệm sáng tạo. Chẳng hạn, Thơ mới quan niệm sáng tạo là hoạt động mang tính cá nhân của người nghệ sỹ, là sự chú trọng khai thác tiếng nói nội tâm đầy cảm xúc của cái tôi trữ tình. Bước sang thơ Cách mạng, quan niệm về sáng tạo đã thay đổi. Thơ giờ đây là tiếng nói của cộng đồng, thơ là một thứ vũ khí chiến đấu. Sau 1986, nhận thức, quan niệm về sáng tạo của lớp nhà thơ Đổi mới đã có nhiều thay đổi so với trước đó (điều này chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn trong nội dung mục 3.1.2).

 

Đặc biệt, các tác giả thế hệ Đổi mới bộc lộ mạnh mẽ sự nối kết, gặp gỡ, đồng thuận trong quan niệm, tư tưởng sáng tạo. Trong những buổi tọa đàm, các hội thảo thơ, các bài viết phỏng vấn, phê bình, thảo luận, các nhà thơ thế hệ Đổi mới vẫn thường thể hiện, chia sẻ những tư tưởng, quan điểm chung trong hoạt động sáng tạo và ý hướng kiến tạo con đường cách tân thi ca. Quan niệm về sáng tạo của thế hệ Đổi mới, do đó, không chỉ tồn tại như những ý kiến cá nhân nhỏ lẻ, manh mún mà đã mang tính “cộng đồng”, tính thế hệ. Chúng được thể hiện trực tiếp thông qua các cuộc trao đổi, trả lời phỏng vấn, các tham luận hội thảo; qua các tác phẩm phê bình - tiểu luận, và qua các sáng tác giàu tính tuyên ngôn nghệ thuật…

 

Nói tóm lại, việc xây dựng quan niệm mới về sáng tạo sẽ trở thành “kim chỉ nam” dẫn đường cho mọi hoạt động sáng tạo. Nó sẽ chi phối tới cách nghĩ, cách cảm, cách xử lý hiện thực của nhà thơ và nhiều phương diện thi pháp nghệ thuật tương ứng.

 

3.1.2. Sự thay đổi trong quan niệm về thơ và nhà thơ của thế hệ Đổi mới

 

3.1.2.1. Những tìm tòi, đổi mới trong quan niệm về thơ

 

Để có thể làm sáng tỏ những đóng góp của thế hệ nhà thơ Đổi mới trong quan niệm về thơ, chúng tôi thiết nghĩ cần bắt đầu từ một số mô tả khái lược về lịch sử vấn đề.

 

Theo nghĩa từ điển, thơ được hiểu là “hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu... Thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc, cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu là những đặc trưng cơ bản của thơ... Lý tưởng và khát vọng của đông đảo nhân dân, chủ nghĩa nhân đạo với những biểu hiện lịch sử của nó là tiêu chuẩn khách quan cho chất thơ chân chính ở mọi thời đại. Chất thơ là điều kiện cơ bản của thơ, không có chất thơ thì nhất quyết không thể có thơ hay” [5, 230]. Theo chúng tôi, đây là một quan niệm về thơ cơ bản và có tính truyền thống. Nhưng quan niệm về thơ còn tùy vào giai đoạn lịch sử, quan điểm, và góc nhìn người phát ngôn, có thể rất khác biệt. Chẳng hạn, ở thơ trung đại, các nhà nho quan niệm thơ ca là hình thức để chuyên chở đạo lý, nó có chức năng giáo hóa, giáo huấn con người, làm thay đổi nhân cách của con người theo hướng tốt đẹp hơn: Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí. Đến thời Thơ mới lãng mạn, thơ đã được đề cao như một loại hình sáng tạo nghệ thuật, song chủ yếu nhấn mạnh tiếng nói tình cảm, cảm xúc của cái tôi cá nhân, cá thể. Nhưng đến thơ Cách mạng, cái tôi cá nhân, cá thể bị coi là lạc lõng. Thơ thời kỳ này tràn đầy cảm hứng lãng mạn công dân, niềm say mê lý tưởng Cách mạng và trở thành vũ khí chiến đấu: Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí (Tố Hữu)... Sau 1986, quan niệm về thơ có nhiều thay đổi. Trần Mạnh Tiến, trong Thơ Việt trên hành trình đổi mới, đã nhận định: “Từ những trải nghiệm qua hai cuộc kháng chiến, thơ Việt bước vào thời kỳ đổi mới từ 1986 trở đi đã thay đổi về nội dung và hình thức cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Các quan niệm về thơ đa dạng hơn giai đoạn trước, phản ánh rõ tính đa chiều trong sáng tạo” [196, 83].

 

Như vậy, thơ là một khái niệm lí luận khá quen thuộc. Tuy nhiên, cách hiểu về thơ ở những giai đoạn lịch sử và những loại hình thơ khác nhau không giống nhau, thậm chí đối lập khá gay gắt. Điều này, một mặt vừa cho thấy tính chất phong phú, phức tạp của khái niệm thơ, mặt khác, cũng cho thấy rằng dù đã được thuyết minh nhiều nhưng nội hàm khái niệm thơ không “nằm chết” trong từ điển mà vẫn luôn vận động, phát triển và được bổ sung, làm mới và đa dạng thêm từ nhiều góc nhìn khác nhau. Quan niệm về thơ sẽ chi phối hết sức mạnh mẽ, thậm chí quyết định tính chất và chất lượng của hoạt động sáng tạo thơ. Bởi vậy, mỗi thời kỳ thơ, mỗi thế hệ nhà thơ cần thiết phải đổi mới trong tư tưởng, quan niệm về thơ, về hoạt động sáng tạo thơ.

 

Ở mục này, chúng tôi tập trung bàn về những đóng góp về quan niệm nghệ thuật của thế hệ nhà thơ Đổi mới. Cụ thể, đấy là quan niệm của thế hệ nhà thơ này về nghệ thuật thơ (về bản chất của thơ, chức năng của thơ, mối quan hệ giữa thơ và hiện thực đời sống…); về nhà thơ (vai trò, nhiệm vụ của nhà thơ…). Đó là những quan niệm được phát biểu một cách trực tiếp, thông qua các bài viết có tính tuyên ngôn, trao đổi, phê bình, trả lời phỏng vấn… của tác giả; hoặc, được thể hiện thông qua các tác phẩm của họ. Ở đấy, quan niệm về thơ, về nghệ thuật vừa là một nội dung được quan tâm thể hiện trong tác phẩm, đồng thời, cũng là những định hướng sáng tác không thể thiếu của các tác giả.

 

Về bản chất của thơ

 

thời trung đại, các nhà nho quan niệm thơ ca là hình thức để chuyên chở đạo lý, nó có chức năng giáo hóa, giáo huấn con người, làm thay đổi nhân cách của con người theo hướng tốt đẹp hơn. Cái tôi được xem như là cái “tôi” siêu cá thể, hạn chế khả năng bộc lộ cái tôi cá nhân và khả năng sáng tạo độc đáo của nhà thơ. Đồng thời, nó giúp bản thân nhà thơ thanh lọc tâm hồn, bày tỏ tâm sự trung quân ái quốc, nuôi dưỡng nhân cách người quân tử. Như vậy, thơ ở thời kỳ trung đại chủ yếu được coi trọng về chức năng đạo đức - xã hội, nhằm giáo hóa con người, chứ chưa được xem trọng với tư cách  hoạt động sáng tạo thẩm mỹ của cá nhân nghệ sỹ. Đến thời Thơ mới lãng mạn, thơ đã được đề cao như một loại hình sáng tạo nghệ thuật, song chủ yếu nhấn mạnh tiếng nói tình cảm, cảm xúc của cái tôi cá nhân, cá thể. Sang thơ Cách mạng, quan niệm sáng tác của các nhà thơ thời chống Mĩ lấy tinh thần yêu nước làm điểm tựa. Ở thời kỳ này, quan niệm sáng tác có phần tương đồng với thơ trung đại ở chức năng xã hội. Thơ để tuyên truyền chính trị, tuyên truyền cách mạng.

 

Sau 1986 quan niệm nghệ thuật về thơ có nhiều thay đổi. Không phủ nhận vai trò, nhiệm vụ xã hội của thơ, song các nhà thơ thế hệ này cũng đề nghị một cái nhìn rộng mở hơn và biện chứng hơn đối với vấn đề hiện thực được phản ánh trong thơ (là điều chúng tôi sẽ nói rõ hơn ở phần tiếp theo). Đồng thời, họ đặc biệt nhấn mạnh đến bản chất thẩm mỹ của thơ và tính cá nhân trong hoạt động sáng tạo của nghệ sỹ. Nói như Mai Văn Phấn, “mỗi bài thơ là một định nghĩa riêng về thơ, là con đường độc đạo đến với cái đẹp” [143, 396].

 

Văn học nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng, bên cạnh chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, còn được đặc biệt chú ý với ở chức năng thẩm mỹ. Nói cách khác, thơ là là hoạt động sáng tạo hướng tới việc khám phá và tôn vinh cái Đẹp của đời sống, của nội tâm, của hoạt động sáng tạo.

 

Dương Kiều Minh đã viết trong lời Tự sự lần xuất bản 2011 “Có lẽ thời gian tôi sống với thơ ca trong sự tràn ngập âm thanh mê đắm và khoái cảm… Đến giờ, tôi càng nhận rõ rằng gần cả cuộc đời mình đã hít thở bầu không khí của văn chương… Tôi thực sự sống trọn vẹn trong một giấc mộng thật đẹp trong chìm đắm và trong khổ luyện nhọc nhằn” [83, 6-7]. Với nhà thơ này, Thơ chính là cái Đẹp, là cái đích khát vọng, là sự tự do tinh thần, dù sáng tạo luôn là hành trình đơn độc, nhọc nhằn và nhiều khi đầy cảm giác bơ vơ, bất lực. Thi ca, với Dương Kiều Minh, thực sự mang một ý nghĩa thiêng liêng:

 

- Câu thơ viết lên nền trời

Bài thơ viết lên nền trời

Ngông cuồng viết lên nền vương quốc

(Tháp Bút)

 

- Câu thơ đau đáu một đời

Câu thơ sững nghiêng bóng đổ

Dáng ngang tàng giông lũ về khơi

(Dâng Lý Bạch)

 

Thật ra, tư tưởng sáng tạo thơ là sáng tạo cái Đẹp vốn là một tư tưởng quen thuộc của chủ nghĩa lãng mạn. Từ thời Thơ mới, Thế Lữ đã từng mô tả thi sỹ như một “khách tình si/ ham vẻ đẹp có muôn hình muôn thể”. Đó là vẻ đẹp “u trầm”, “đắm đuối” hay “ngây thơ”, hoặc cao siêu hùng tráng, và có thể đến từ muôn nơi, “từ thi vă”, “tư tưởng” hay ngay cả “cảnh bùn lầy nước đọng” (Cây đàn muôn điệu). Dĩ nhiên, trên thực tế, với các nhà Thơ mới, cái đẹp ấy, chất thơ ấy chỉ đến từ những gì được họ xem là nên thơ, nên mộng (thường đối lập với cái thô phác, chân mộc, suồng sã của đời thường, đời thực). Với các nhà thơ thế hệ Đổi mới, quan niệm về cái đẹp cũng được mở rộng, không chỉ dừng lại giới hạn mĩ cảm lãng mạn chủ nghĩa. 

 

Thơ là địa hạt của cái Đẹp, song các nhà thơ thế hệ Đổi mới không chỉ kiếm tìm, nhận diện cái Đẹp ở cuộc sống thường nhật, cuộc sống hiện hữu xung quanh con người mà còn khai thác, len lỏi sâu hơn tới những vùng mờ của đời sống tâm linh, vô thức; những dồn nén, ẩn ức chìm khuất trong bóng tối của con người bản năng. Bởi với họ “thi ca nằm ở những khoảng trống trong thế giới của con người. Nơi đời sống tinh thần của mỗi người hướng tới cái bí ẩn, cái vô biên và cái vô cùng” [21, 482]. Từ quan niệm này, đề tài và chủ đề trong thơ của các tác giả thế hệ Đổi mới trở nên phong phú, đa dạng và rộng mở hơn. Từ các vấn đề của hiện thực đời sống đến những mảng màu của tâm linh, tưởng tượng, những rung chuyển tế vi trong bản năng con người... được khắc họa một cách chân thực, rõ nét, đủ đầy. Đặc biệt, với các nhà thơ thế hệ Đổi mới thay vì coi trọng hiện thực “sờ thấy được”, “nhìn thấy được” thì họ lại quan tâm đến hiện thực “được cảm thấy”, hiện thực của vô thức, tâm linh. Bởi vậy, trong thơ của các tác giả này luôn đề cao những giấc mơ, giấc mơ xuất hiện với tần suất dày đặc trong thơ sau 1975.

 

Tuy nhiên, với nhiều nhà thơ của thế hệ Đổi mới, đặc điểm bản chất của thơ không dừng lại ở đấy. Với các tác giả này, bản chất của thơ là bản chất ngôn ngữ. Inrasara khẳng định: “Thơ và ngôn ngữ gắn chặt với định mệnh của thi sĩ” [70, 235]. Đặc biệt, hình thức ngôn ngữ của thơ không chỉ lưu giữ thi tính, hiểu theo nghĩa hẹp, cụ thể, mà là hình thức lưu giữ linh hồn dân tộc. Nhà thơ viết: “Thơ tồn tại cùng với nỗi thăng trầm của lịch sử dân tộc. Khi dân tộc hết sản sinh nổi một thi sĩ, dân tộc đó sa đọa, mất hồn. Khi một dân tộc đánh mất ngôn ngữ sống living language, dân tộc đó tiêu vong. Thơ - qua ngôn ngữ - lưu giữ hồn cốt dân tộc xuyên thế hệ” [70, 236 – 237]. Chịu ảnh hưởng triết học ngôn ngữ của Heidegger, ông khẳng định thêm: “Sẽ không có thơ nếu không có ngôn ngữ, ngôn ngữ như là ngôi nhà cho thi sĩ cư ngụ” [70, 237]. Quan niệm của ông cũng được nhiều tác giả cùng thế hệ như Mai Văn Phấn, Nguyễn Bình Phương... chia sẻ, đồng thuận, điều đó thể hiện không chỉ trong các phát ngôn trực tiếp mà ngay trong các thực hành sáng tạo thơ.

 

Với sự mở rộng trong quan niệm mĩ học theo hướng hiện đại chủ nghĩa và hậu hiện đại), các nhà thơ thế hệ Đổi mới  cũng xác định những “nguyên tắc” viết mới : thơ chỉ gợi chứ không mô tả trực tiếp; ý thơ không được lộ liễu mà phải kín đáo, hàm súc... Để thực hiện điều đó, các nhà thơ thế hệ Đổi mới thường sử dụng các biểu tượng, ám gợi, ám dụ... Ngoài ra, họ cũng sử dụng nhiều thủ pháp, kỹ thuật viết tân kỳ: phân mảnh, lắp ghép, giễu nhại... Vì vậy, thơ của họ thường “bị” nhận xét chung: khó đọc!

 

Nhà thơ Mai Văn Phấn đã thể hiện khá rõ quan niệm của mình trong hành trình sáng tác, cách tân thơ ca. Trong một lần trả lời phỏng vấn của phóng viên VanVN.Net, ông nói: “Thơ tôi có nhiều chặng đường, nơi kết thúc mỗi giai đoạn chính là điểm xuất phát cho cuộc khai phóng khác. Nhưng bất kỳ giai đoạn nào, tôi luôn đặt sự chân thành lên trên hết, mong tìm được chính xác và rõ nét nhất chân dung tinh thần của mình, khám phá chính mình ở thời điểm đó... Tôi luôn mong tìm được giọng điệu hiện đại mang đậm bản sắc Việt. Dù cách tân theo hướng nào, thơ không thể đi lại con đường mà thi ca thế giới đã đi, cũng như không thể lẫn sang thơ của các dân tộc khác” [140]. Bên cạnh đó Mai Văn Phấn cũng cho rằng bài thơ mà nhà thơ viết ra không còn thuộc về anh ta nữa mà thuộc về độc giả. Tuy nhiên, người đọc muốn “đọc thủng” được văn bản thơ hiện đại cần phải có sự  đổi mới trong tư duy tiếp nhậnh. Trong quan niệm của tác giả này, độc giả và năng lực tiếp nhận của họ đóng một vai trò rất ý nghĩa trong quá trình phát triển thơ ca.

 

Như vậy, quan niệm về bản chất thơ của các tác giả thế hệ Đổi mới so với trước đó có nhiều khác biệt. Điều đó cho thấy quan niệm về bản chất thơ thể hiện rõ tính thế hệ, cá tính trong sáng tác. Đặc biệt, quan niệm về bản chất thơ của thế hệ nhà thơ Đổi mới muốn vượt thoát lối tư duy thơ truyền thống nhưng không phải đoạn tuyệt, phủ nhận truyền thống.

 

Về mối quan hệ giữa thơ và hiện thực đời sống         

 

Phản ánh hiện thực là thuộc tính tất yếu của văn chương. Bất kỳ nền văn chương nào cũng được hình thành trên một cơ sở hiện thực xã hội nhất định. Và mỗi nhà thơ đều sống trong một thời đại cụ thể, trong một không gian tinh thần cụ thể. Do đó, thơ của họ, một mặt thể hiện những khát vọng, suy tư cá nhân độc đáo, mặt khác, những suy tư đó phải thể hiện được tâm thế và trạng thái tinh thần của thời đại mình sống. Điều này chính là năng lực cảm nhận chiều sâu thế giới của nhà thơ. Thế nên, khi đánh giá, xem xét các giá trị của mỗi thời đại khác nhau bắt buộc phải dựa trên quan điểm lịch sử của mỗi giai đoạn khác nhau. Không nên đánh đồng thời đại này với thời đại kia, áp đặt hệ giá trị của thời này để đánh giá một thời kỳ khác. Bởi dưới góc độ của lịch sử, thơ luôn luôn vận động, thay đổi cùng với sự thay đổi của hiện thực đời sống.

 

Trong thơ lãng mạn, hiện thực được nói đến là hiện thực “được lựa chọn” bởi con mắt lãng mạn của cái tôi nghệ sỹ. Đó là một hiện thực nên thơ, nên họa, đầy mơ mộng và thi vị. Bởi vậy, trong mắt Xuân Diệu, một buổi chiều rất đỗi bình thường lại nhất định trở thành một “chiều mộng”: Chiều mộng hòa thơ trên nhánh duyên/ Cây me ríu rít cặp chim chuyền (Thơ duyên). Đến thời kháng chiến, hiện thực cuộc sống đã thay đổi, sáng tác thơ phải xuất phát từ yêu cầu của Cách mạng. Khi vận mệnh của đất nước, dân tộc đứng trước nguy cơ tồn vong, thơ trở thành tiếng nói chung của cả cộng đồng, phát ngôn cho ý chí, khát vọng tình cảm của toàn dân tộc. Thơ giai đoạn này nổi lên như một nguồn cổ vũ, khích lệ cho phong trào cách mạng, nó đóng vai trò là một thứ vũ khí chiến đấu và để tuyên truyền chính trị. Tố Hữu là một đại diện tiêu biểu. Với Ra trận, Máu và hoa…, thơ ông phản ánh hiện thực cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước của nhân dân ta. Thơ Tố Hữu như những lời hiệu triệu: Hãy gầm lên như sấm sét đùng đùng/ Tất cả pháo!/ Và xông lên, dũng sĩ! (Bài ca Xuân 68).

 

Bước vào thời hậu chiến và Đổi mới, đất nước chuyển mình cùng quỹ đạo của cuộc sống thời bình, hiện thực được khai thác, mô tả, lí giải trong thơ cũng đổi khác. Thay vào bức tranh hiện thực chiến đấu, lao động sản xuất quen thuộc của thời kỳ thơ trước đó là một hiện thực đời sống thậm phồn, phức tạp, hoàn toàn vượt ra khỏi sự áp đặt của những công thức mô tả giáo điều, cứng nhắc. Đó không chỉ là cái hiện thực của lịch sử, chính trị, mà còn là hiện thực của đời sống số phận, thân phận nhỏ bé, riêng tư. Đó cũng không chỉ là cái hiện thực xã hội bên ngoài, cái hiện thực được nhìn thấy, mà còn là hiện thực bên trong, hiện thực của nội tâm, của suy tưởng, tâm linh. Trong Lời phụ ghi bên bản thảo tập thơ chưa hoàn thành - Khúc chuyển mùa, 2011 Dương Kiều Minh viết: “Thi ca là một cái gì ở ngoài ta, bao trùm quanh ta? Hoặc nó ở trong ta, trong sâu thẳm cõi lòng? Tôi đồ rằng “Thi ca nằm ở những khoảng trống” trong thế giới của con người. Nơi đời sống tinh thần của mỗi người hướng tới cái bí ẩn, cái vô biên và cái vô cùng, không ngừng hoàn thiện những ước vọng phía trước; hoặc bù đắp những mất mát mà con người luôn phải đối mặt với những bất hạnh, những tổn thương không gì có thể xoa dịu” [83, 482]. Có thể thấy, với Dương Kiều Minh, nhà thơ là người biết cất lên nói tiếng nói của thời đại và khát khao cuộc sống hiện thực. Nhà thơ phải gắn bó cuộc đời với cuộc sống hiện thực, nhưng đó là một hiện thực theo nghĩa rộng, hiện thực của nội tâm, tinh thần. Nói cách khác, đấy là hiện thực đời sống đã được chuyển hóa qua nhãn quan, tư tưởng, cảm nghiệm của nghệ sỹ.

 

Nguyễn Lương Ngọc cho rằng người nghệ sỹ phải biết vượt lên cái nhìn hiện thực để phát hiện ra cái đẹp ở “bề sâu, bề sau, bề xa” hiện thực. Quan niệm về nhà thơ với vai trò là chủ thể sáng tạo là phải cách tân, với quan niệm đó Nguyễn Lương Ngọc biểu hiện ngay qua hành động, ông luôn nỗ lực đọc nhiều, mở rộng hiểu biết về nhiều lĩnh vực hoạt động nghệ thuật, viết phê bình nghệ thuật, tham gia các cuộc tranh luận, trao đổi về thơ. Nguyễn Lương Ngọc cho rằng mỗi nhà thơ phải biết tự phủ định mình, biết coi những gì mình viết ra là cái cũ, cái lỗi thời để luôn có cho mình cái ý thức và nỗ lực tìm tòi, sáng tạo trong thơ. Người cầm bút phải tìm tòi cho được cái không gian nghệ thuật riêng cho mình chứ không thể đứng mãi một chỗ, viết mãi một vấn đề, và theo cách viết muôn năm cũ, vì như thế thì cuối cùng chính họ cũng không muốn nhìn những gì mình đã vẽ. Sự tự ý thức nghề nghiệp đó tạo động lực giúp Nguyễn Lương Ngọc vượt lên chính mình, lên chính thói quen của thời đại để cầm bút sáng tạo.

 

Như vậy, các nhà thơ thế hệ Đổi mới thể hiện khá rõ quan niệm của họ về mối quan hệ giữa thơ và hiện thực đời sống. Theo họ, hiện thực trong thơ không chỉ là hiện thực bên ngoài. Nhà thơ còn phải biết quan tâm tới hiện thực bên trong. Đó là đời sống tinh thần, đời sống tâm linh, vô thức rộng lớn và đầy bí ẩn. Thật ra, đây không phải chỉ đến các nhà thơ thế hệ Đổi mới mới có quan niệm này. Quan niệm này cũng đã xuất hiện từ thời Thơ mới, trong các tiểu luận và tác phẩm của Trường thơ Loạn (Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê), nhóm Xuân Thu Nhã tập (Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh, Đoàn Phú Tứ); Tư tưởng này cũng đã xuất hiện trong một số tiểu luận và thực hành thơ của nhóm “Dòng chữ”, tiêu biểu là Lê Đạt, Trần Dần, và Hoàng Hưng. Ở thơ miền Nam giai đoạn 1954 - 1975, những quan niệm này cũng đã xuất hiện trong tác phẩm của các tác giả thuộc nhóm Sáng Tạo, tiêu biểu là Thanh Tâm Tuyền… Các tác giả thuộc thế hệ Đổi mới đã tiếp tục đẩy tới quan niệm này bằng cả những phát biểu lý thuyết lẫn cả hoạt động thực hành thơ. Dĩ nhiên, để có sự thay đổi, mở rộng trong quan niệm, tư tưởng này, không thể không nói tới tác động của xã hội Việt Nam thời mở cửa, xu thế toàn cầu hóa và sự du nhập những lý thuyết văn học, thi ca hiện đại trên thế giới…

 

Suốt 30 năm chiến tranh, bị chi phối bởi quan niệm văn học phục vụ chính trị, văn học nói chung, thơ nói riêng bị bó hẹp trong quan niệm nghèo nàn, phiến diện về hiện thực. Với sự đào sâu, mở rộng quan niệm về hiện thực, mối quan hệ giữa thơ và hiện thực, các nhà thơ thế hệ Đổi mới đã góp phần mở rộng khả năng phám phá hiện thực của thơ, cũng là một cách nâng cao giá trị của thơ, khả năng đáp ứng yêu cầu xã hội của thơ trong bối cảnh thời đại mới. Họ không quên trách nhiệm xã hội và vai trò của thơ ca đối với hiện thực đời sống. Vấn đề là thơ ca có tiếng nói và quyền năng riêng, khác với pháp luật, chính trị, lịch sử… Nó cần phải tác động đến đời sống bằng cách riêng của nó - các phương tiện và cách thức của nghệ thuật trữ tình. Chính bởi vậy, trong một bài trả lời phỏng vấn, Mai Văn Phấn cho rằng “Thơ ca bây giờ ít tham gia trực tiếp vào hoạt động xã hội, nhưng sự có mặt và sức lan tỏa của nó mãnh liệt, tới tận những mạch ngầm vi tế ẩn sâu trong đời sống cộng đồng” [141].

 

Về tính mới của thơ và sự cần thiết phải cách tân thi pháp thơ

 

Văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực cuộc sống qua lăng kính chủ quan của nhà văn. Bởi vậy, ứng với mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, văn học cũng cần được “chuyển mình”, cần thay đổi diện mạo để đáp ứng nội dung phản ánh hiện thực của nó; và nhà thơ - người thực hiện sứ mệnh đổi mới văn học cũng cần được “đổi mới”. Điều này, một mặt buộc người nghệ sỹ phải bắt kịp các khuynh hướng thơ, các trào lưu thơ để đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của người đọc trong thời đại mới; mặt khác chính thời đại đã làm nảy sinh những gương mặt tác giả phù hợp với sự phát triển của thơ ca, của xã hội.

Các nhà thơ thế hệ Đổi mới ý thức rất rõ về bản chất sáng tạo của thơ. Điều này được nói đến trong khá nhiều bài viết phê bình, trao đổi, đối thoại và cả sáng tác của Inrasara, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh…

 

Trong một cuộc tọa đàm về thơ, Nguyễn Lương Ngọc đã từng tuyên bố một cách hào hứng: “Đã đến lúc chúng em phải quên các bác, phải quên ngay cái thứ thơ cũ rích của các bác để làm một cuộc thơ mới, các bác hãy tránh ra cho chúng em chơi cuộc chơi của thế hệ mình” [14, 279]. Và điều này cũng được ông nói khá rõ trong bài thơ có tính tuyên ngôn nghệ thuật của mình - Hội họa lập thể:

 

Có gì không ổn

Có gì như bệnh tật

Khi mồ hôi vẫn ê a thiên chức nghệ sỹ

Anh không muốn nhìn những gì mình đã vẽ

Chính nước mắt, hay máu tứa ra từ cái nhìn bền bỉ

Đã cho anh chiếc lăng kính này đây

Để anh đủ sức đập vụn mình ra mà ghép lại

Nung chảy mình ra mà tìm lõi

Xé toang mình ra mà kết cấu

 

Với Nguyễn Lương Ngọc, cái đẹp luôn là một ý niệm mang tính lịch sử. Sáng tạo luôn đòi hỏi ở người nghệ sỹ khả năng “gây hấn”, “nổi loạn” với truyền thống và với chính mình. Điều này có hai ý nghĩa: nhằm chống lại những giá trị thẩm mĩ đã trở nên lỗi thời và để xây dựng những chuẩn mực giá trị mới. Bởi vậy, đổi mới tư duy chính là yêu cầu tiên quyết đối với nghệ sĩ khi đứng trước mục tiêu cách tân nghệ thuật. Chịu ảnh hưởng của lý thuyết sáng tạo hiện đại, Nguyễn Lương Ngọc đề cao “sức gợi”, “những khoảng lặng nhiều tầng lớp thanh âm đầy quyền lực huyền bí”, “ít kí hiệu mà giàu khoảng trống”, “những ký hiệu của một chu trình đang còn dằng dặc”.

 

Đồng tình với quan điểm trên, Mai Văn Phấn phát biểu: “Bản chất của sáng tạo là làm ra cái mới. Người viết không nên đi lại lối mòn, mà cần thay đổi, không chỉ phù hợp với trào lưu chung, mà quan trọng hơn, là phù hợp với bản chất của hoạt động sáng tạo nghệ thuật” [143, 385]. Ông nhấn mạnh: “Chúng ta sẽ tụt hậu, và, bị quên lãng nếu cứ giữ mãi những quan niệm cũ. Chúng ta cần phải tiếp xúc với con đường nghệ thuật và tư tưởng mà thi ca thế giới đã đi và tiếp biến sáng tạo những giá trị mới, riêng biệt. Chúng ta cần xác định chính xác và chân thực thơ Việt đang ở đâu và cần phải làm gì. Tôi luôn khao khát và tin tưởng thơ chúng ta sẽ tạo được khuynh hướng hiện đại cách tân mang đậm bản sắc Việt” [143, 394]. Ông còn nói thêm về bản chất sáng tạo: “Theo dõi diễn biến thơ đương đại trong khuynh hướng cách tân sau 1975 của nền thơ Việt Nam, tôi cho rằng một nền văn học phong phú, đặc biệt thơ ca đương đại với nhiều khuynh hướng, nhiều phong cách sáng tạo là tín hiệu đáng mừng cho đời sống văn học chúng ta. Cần tiếp tục khuyến khích, cổ xúy những gía trị sáng tạo mới. Đó chính là cách chúng ta làm giàu có thêm tài sản tinh thần dân tộc để thúc đẩy quá trình sáng tạo, đổi mới ngay chính trong mỗi trào lưu thơ ca hiện nay” [143, 384].

 

Về ý nghĩa và sự tồn tại của thơ trong bối cảnh toàn cầu hóa

 

Khi nói về bối cảnh tồn tại của thơ ca Việt Nam đương đại, Nguyễn Đăng Điệp cho rằng: “Sau 1975, đặc biệt từ Đổi mới (1986) đến nay, khi Việt Nam tham nhập tiến trình toàn cầu hóa và xây dựng nền kinh tế thị trường, văn học nước ta chính thức bước vào cuộc giao lưu văn hóa lần thứ ba” [30, 19]. Ông nhận thấy, trong cuộc giao lưu văn hóa lần này có nhiều thay đổi so với những lần trước, bởi ở đây sự xuất hiện của truyền thông hiện đại, của internet tác động rất lớn đến văn học, nhất là thơ ca: “So với hai lần trước cuộc giao lưu văn hóa lần này có bốn điểm đáng chú ý: một, đó là cuộc giao lưu sâu rộng và toàn diện; hai, tính chất đa phương và đa kênh trong quan hệ; ba, không gian văn học có sự thay đổi: bên cạnh văn học quốc nội, có văn học của người Việt ở nước ngoài; bốn, tốc độ giao lưu truyền tải nhanh hơn nhờ vào internet và các phương tiện truyền thông hiện đại” [30, 19]. Điều này là cơ hội có ý nghĩa lớn lao nhưng cũng là thách thức cho sự tồn tại của thơ trong bối cảnh toàn cầu hóa.

 

Từ góc độ người sáng tác cũng là người viết phê bình, Inrasara và Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều… thể hiện rất rõ quan niệm của mình về vấn đề sự tồn tại của thơ trong bối cảnh toàn cầu hóa. Những quan niệm, tư tưởng của họ thể hiện trực tiếp qua nhiều bài viết phê bình, phỏng vấn, trao đổi, tham luận khoa học… và bộc lộ cũng rõ nét trong sáng tác. Inrasara đã thể hiện quan niệm, tư tưởng của mình khá lớp lang, hệ thống trong các công trình tiểu luận - phê bình: Song thoại với cái mới (2008), Thơ Việt hành trình chuyển hướng say (2014), Nhập cuộc về hướng mở (2014), Văn chương tan rã (2019), và trong một số sáng tác thơ. Qua những công trình này, Inrasara cho thấy mối quan tâm hàng đầu của ông là xác lập vị trí của người sáng tác, hoạt động sáng tác trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện tại.  Với ông, người nghệ sỹ hôm nay phải hiện diện trong tư cách vừa là “công dân toàn cầu”, vừa là một phần của địa phương, mang những nét đặc trưng riêng biệt của vùng miền. Do đó, “một mặt, anh ta phải hướng ra thế giới bên ngoài để tìm kiếm, khám phá những giá trị chung, phổ quát của nhân loại, mặt khác, phải biết bảo lưu, gìn giữ những giá trị bản địa riêng biệt” [151].  Theo Inrasara, nhà thơ của hôm nay phải viết “như một công dân thế giới”. Ông nói: Chúng ta học tập thế giới và sẵn sàng cống hiến trở lại cái tinh túy nhất của chúng ta cho văn chương thế giới” [71, 220-221]. Đây là tinh thần, thái độ sáng tạo hết sức tự tin, táo bạo. Một thái độ viết, sáng tạo, theo chúng tôi, hết sức cần thiết với người nghệ sỹ trong bối cảnh toàn cầu hóa của văn chương đương đại.

 

Mai Văn Phấn trong Không gian khác, cũng chia sẻ: “Đổi mới, cách tân thi pháp là cách các nhà thơ lấy lại lòng tin, vị thế trong lòng bạn đọc hiện nay. Đồng thời, điều đó cũng giúp những người sáng tác chúng ta tự tin hơn khi văn học Việt Nam hòa nhập với văn học các nước trong khu vực và thế giới. Trên bình diện đó, thơ cách tân sau 1975 thực sự đã đóng góp xứng đáng vào văn hóa tinh thần dân tộc, làm phong phú, đa dạng thêm nền văn học việt đương đại” [143, 385].

 

3.2.2.2. Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong quan niệm về nhà thơ

 

Nhấn mạnh quan niệm về nhà thơ trong vai trò chủ thể sáng tạo

 

Cùng với sự thay đổi trong quan niệm về sáng tạo, các nhà thơ thế hệ Đổi mới còn đổi mới trong quan niệm về nhà thơ. Với họ, cần coi trọng, đề cao tác giả - nhà thơ trước hết trong tư cách, vai trò chủ thể sáng tạo thẩm mĩ. Nhà nghiên cứu Trần Mạnh Tiến cho rằng: “Các quan niệm thẩm mĩ, đạo đức, tín ngưỡng, các thể loại văn học, các loại hình nghệ thuật khác ở trong và ngoài nước đều chuyển động theo trào lưu văn hóa mới, tác động đến tâm hồn nhà thơ và bạn đọc… Đây là thời kỳ mà chủ thể sáng tác và chủ thể tiếp nhận có cơ hội tự do phát huy cao độ bản ngã của mình” [193, 21-22].

 

Trong giai đoạn chống Mỹ, nhà thơ luôn là một chiến sĩ thực hiện sứ mệnh thiêng liêng vì đất nước, vì nhân dân và trong tâm thế “xung phong”, phục vục chiến đấu. Hoạt động sáng tác của người nghệ sĩ phải nương theo cảm hứng anh hùng ca và khuynh hướng sử thi. Mọi sự sáng tạo trong thơ đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là ngợi ca chiến công và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Thơ ca lúc này chịu sự chi phối trực tiếp của đời sống chính trị, Cách mạng. Nhưng sau 1986, đã có những thay đổi rất căn bản trong quan niệm đối với quyền tự do sáng tạo của nghệ sỹ. Họ không còn bị trói cứng vào những nhiệm vụ của lịch sử, của dân tộc. Thay vào đó, các nhà thơ được quyền chủ động về nội dung phản ánh trong thơ, chủ động lựa chọn những thủ pháp, kỹ thuật làm thơ, về hình thức thơ theo cái đích mà họ vạch ra trên con đường sáng tạo. Nguyễn Quang Thiều khẳng định: “Viết bởi khát vọng được giải tỏa. Chống lại sự giống người khác. Ít dị ứng với khen, chê trong văn chương. Tự tin sáng tác” [168, 635].

 

Trong vai trò là chủ thể sáng tạo, các nhà thơ thế hệ Đổi mới đều cho rằng, nhà thơ cần có một sự cô đơn cần thiết trong việc viết của mình. Họ cần phải tự làm chủ về những gì mình đang/sẽ viết. Viết là một hoạt động mang tính cá nhân, do đó, người sáng tạo cần phải thực sự làm chủ ngòi bút của mình, nếu không, anh ta dễ bị sa vào ảnh hưởng của thị hiếu đám đông, của việc phụ họa, “bè” theo những gì đã cũ, đã có. Nói như nhà thơ Mai Văn Phấn: “Mỗi cá thể sáng tạo đều chọn cho mình con đường riêng biệt, nhưng mọi nhà thơ đều chung một đích đến là khám phá và tôn vinh cái Đẹp. Nhà thơ thường đơn độc khi sáng tạo với cái tôi riêng biệt, duy nhất của mình” [143, 393]. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh về sự cần thiết phải tỉnh táo, tránh những ảo tưởng rất dễ xảy ra với người làm công việc sáng tạo. Ông viết: “Thơ ca thường được coi là ngôi đền thiêng cho người làm thơ, nhưng thực ra là cái chợ cho người đọc” và “với mỗi người làm thơ, điều quan trọng là phải biết lạnh lùng với chính bản thân mình, dũng cảm nhìn lại một cách trung thực và chính xác, biết mình là quầy hàng khô hay anh chữa khóa trong một cái chợ” [143, 398].

 

Mai Văn Phấn rất đề cao phẩm cách của người nghệ sĩ. Với ông, phẩm cách của nhà thơ sẽ quyết định cốt cách của thi ca. Vì thế, theo Mai Văn Phấn, nhà thơ phải là người có trình độ, phải được tu dưỡng, rèn luyện, phải học hỏi luôn hướng đến hoàn thiện mình, là người mang trọng trách sáng tạo ra cái mới. Đó là trách nhiệm của nhà thơ trên hành trình sáng tạo, đổi mới thơ ca. Tuy nhiên, để tạo ra cái mới đòi hỏi nhà thơ phải lao động nghiêm túc, có trách nhiệm trong công việc sáng tác của mình. Mai Văn Phấn đặc biệt quan tâm tới mối quan hệ giữa nhà thơ và những sáng tác của họ. Nhà thơ là người tự do sáng tạo, là người lao động nghệ thuật vì thế phải xác định trách nhiệm và gánh nặng trên vai, nhà thơ phải dám chấp nhận, dám thử và tự tin đi trên con đường đã chọn là đổi mới thơ ca, phản ánh hiện thực cuộc sống một cách chân thực nhất.

 

Inrasara cho rằng văn học đổi thay không ngừng, cái mới của ngày hôm nay sẽ trở thành cái lỗi thời của ngày mai. Vì thế đòi hỏi nhà thơ với vai trò chủ thể sáng tạo phải luôn nhìn nhận lại tác phẩm của chính mình, biết ngắm nghía đứa con tinh thần của mình trong mối tương quan với các tác phẩm đương thời là cách để nhà văn tự chiêm nghiệm lại những bước tiến của mình trên hành trình cách tân văn học và biết đâu là lối mòn để vượt thoát. Ông đã từng nói: “Nhà thơ cần ý thức minh nhiên về nghiệp mình, để tránh sa lầy vào các ảo tưởng ngoài rìa, giả hay thực. Ai có trách nhiệm chỉ cho họ? – Nhà thơ” [65, 19]. Nhà thơ nếu chỉ biết thỏa mãn với những thành tựu của quá khứ, không vượt nổi cái bóng của chính mình, anh sẽ là kẻ “ăn mày dĩ vãng” và được người ta nhắc đến như một hiện tượng văn học của thời đã qua.

 

Chú trọng tính chuyên nghiệp trong hoạt động sáng tạo của nhà thơ

 

Nhiều nhà thơ thế hệ Đổi mới rất ý thức về thơ như một nghề đặc biệt - nghề sáng tạo. Do đó, đã làm nghề thì phải trau nghề. Trước hết là phải có ý thức trau dồi về việc viết, việc sáng tạo. Điều này cũng đòi hỏi việc làm thơ cũng phải được học hỏi, rèn luyện. Học hỏi và rèn luyện bằng cách đọc tác phẩm của người xưa và người nay. Đọc của các tác giả phương Đông và Phương Tây. Và không chỉ đọc sáng tác, mà còn đọc lý thuyết, đặc biệt các lý thuyết sáng tạo hiện đại để tích lũy tri thức, mở rộng nhãn quan và nhận thức, tư duy thẩm mỹ, nuôi bền ngọn lửa nhiệt tình và năng lượng sáng tạo. 

 

Trong quan niệm của nhiều tác giả, làm thơ không chỉ là chuyện “ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” (Xuân Diệu), nghĩa là chỉ nương nhờ vào cái gọi là năng khiếu trời cho hoặc sự ngẫu hứng của cảm xúc. Làm thơ, với nhiều tác giả, không chỉ sáng tạo xúc cảm mà còn là một hoạt động sáng tạo tư tưởng.  Inrasara  khẳng định: “Bên cạnh biết làm, ta còn biết suy tư/ biết nói về nghề. Lý thuyết chẳng những làm rõ sáng tác (dù sáng tác không hẳn chỉ thuần ý thức) mà còn có thể gợi mở hay dẫn đường cho sáng tạo. Nhất là các sáng tạo, của hôm nay” [66, 11]. Ông cũng nhấn mạnh thêm rằng: “Nhìn lại hành trình thơ của mình và người đồng hành, là ý thức mang tính phản tỉnh việc làm của mình và người đồng hành. Nó giúp ta nhận mặt những nhàm cũ, lối mòn lâu nay ta từng đi và dẫm lên dấu chân kẻ đi trước hay của chính mình mà không biết, biết còn mơ hồ hoặc biết mà không cảm thấy cần/ không nỗ lực tránh” [66, 7]. Dù không phải lúc nào giữa những “tuyên ngôn” lý thuyết và thực tế sáng tác của các tác giả luôn có sự song hành nhất quán, tuy nhiên quan niệm, tư tưởng sáng tạo này chúng tôi thiết nghĩ rất cần được ghi nhận, cổ vũ.  

 

Với ý thức làm thơ là một nghề dặc thù - nghề sáng tạo, các nhà thơ nói trên đã luôn đặt mình trong môi trường học hỏi, trau dồi và tiếp thu, cải biến những giá trị thơ ca phương Tây, đổi mới phù hợp với những gía trị thơ ca truyền thống. Họ tự vạch sẵn cho mình cái đích để hướng đến và những con đường, cách thức để biến mục tiêu ban đầu trở thành hiện thực: “Tôi đã khởi nghiệp, lên đường từ những giá trị truyền thống, sau đó mạnh dạn đổi mới và tìm cho mình phong cách riêng. Tôi cũng biết “tu luyện” từ một cây bút nghiệp dư thành tác giả chuyên nghiệp, chuyển hóa cái vô thức thành ý thức, tự biến bản năng thành khả năng của mình để có thể đi xa, trường sức. Để làm được điều đó, tôi đã bình tĩnh nhìn lại những bài thơ của mình đã được bạn đọc bình xét, lắng lọc qua thời gian” [143, 411].

 

Ý thức chuyên nghiệp hóa nghề viết còn thúc đẩy các nhà thơ trở thành những nhà phê bình thực thụ. Họ không chỉ làm thơ mà còn hăng say mở rộng diện đọc của mình, và với một cái tôi đầy trách nhiệm với thế hệ thơ Đổi mới, họ luôn “ưu tiên” đánh giá các tác phẩm thơ thế hệ Đổi mới, từ đó, “ghi nhận” những gì đã đạt được của thế hệ mình, như Inrasara đã chia sẻ: “Mỗi thế hệ sáng tác cần có nhà phê bình của mình, một người theo dõi toàn cảnh, ghi nhận và đánh giá các tác phẩm ra đời trong thời đoạn văn học nhất định. Không phải họ không đọc, và không thể đánh giá tác phẩm của thế hệ đi trước, mà bởi thế hệ nhà văn đó đã có người làm rồi, và có thể đã làm khá tốt rồi. Trong khi đó, các sáng tác mới nhất của thế hệ đương đại chưa được ghi nhận. Hơn nữa, ở ngày hôm nay bao nhiêu khuôn mặt mới xuất hiện và cho ra đời bao nhiêu tác phẩm mới lạ; đọc tất cả chúng là điều bất khả, ngay cả với người yêu văn học nhất. Thế nên, một nhà phê bình, chỉ có thể bao quát một thể loại, thậm chí một trào lưu ở một thời đoạn nhất định… Cá nhân tôi, với tư cách một người làm phê bình cũng thế. Tôi vẫn theo dõi tiến trình văn học Việt Nam hiện đại, nhưng thể loại ưu tiên của tôi là thơ. Thơ, tôi vẫn đọc Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, cùng các nhà thơ chống Mỹ và thế hệ nhà thơ hậu chiến, song đối tượng phê bình chính của tôi là nhà thơ thời Đổi mới, hậu Đổi mới...” [73, 115]. Với thế hệ nhà thơ Đổi mới, việc phê bình, nghiên cứu thơ chính là một cách “cứu lấy” một thế hệ thơ “có nguy cơ bị lãng quên”, từ đó “mong góp phần giới thiệu một nền thơ mới, một cách đọc mới cho những ai còn quan tâm đến sự sống còn và phát triển của thi ca Việt Nam trong cái thời đại phần “đất sống” của thơ đang mỗi ngày bị co ngắn lại” [14, 6].

 

Thế nên, trong thế hệ Đổi mới không ít những hiện tượng vừa là nhà thơ vừa là những nhà phê bình xuất sắc. Có thể kể đến Inrasara với hàng loạt công trình dày dặn, thể hiện sự hiểu biết sâu rộng về thơ đương đại như Song thoại với cái mới (2008), Thơ Việt hành trình chuyển hướng say (2014), Nhập cuộc v hướng mở (2014), Văn chương tan rã (2019); Nguyễn Việt Chiến với Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân (1975 – 2005) tìm tòi và cách tân (2007); Mai Văn Phấn với Không gian khác (2016);  Nguyễn Quang Thiều, Dương Kiều Minh… với nhiều tiểu luận, phê bình, tùy đàm văn chương đặc sắc, có giá trị, giúp người đọc hình dung khá rõ về bức tranh toàn cảnh của thế hệ Đổi mới với những gương mặt thơ nổi trội.

 

Nhấn mạnh vai trò nghệ sỹ - trí thức trong bối cảnh sáng tạo toàn cầu

 

“Toàn cầu hóa” là một sự thật hiển nhiên trong bức tranh đời sống xã hội hiện nay. Ngày nay, với sự phát triển của mạng lưới internet cùng chính sách mở cửa, hội nhập đã tạo điều kiện cho việc giao lưu văn hóa, văn học giữa các quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh đó, các nhà thơ thế hệ Đổi mới đã nhanh chóng tiếp thu những kỹ thuật, lối viết hiện đại của các quốc gia phương Tây. Họ luôn nỗ lực mở rộng diện đọc của mình để học hỏi, khám phá cái mới, lạ; song cũng rất có ý thức tuyên truyền, quảng bá thơ ca nước nhà đến với bạn đọc quốc tế. Minh chứng là đã có nhiều nhà thơ, nhà phê bình nước ngoài viết về các sáng tác của các tác giả Việt Nam (như trường hợp Mai Văn Phấn, Inrasara, Nguyễn Quang Thiều…).

 

Thời đại toàn cầu hóa, theo đánh giá của nhà thơ Inrasara, “đó là con đường ngắn nhất nhập cuộc thế giới hiện tại” [70, 138]. Ông cũng nhấn mạnh thêm về lợi ích của toàn cầu hóa đối với văn học: “Toàn cầu hóa qua sự hỗ trợ hiệu quả của phương tiện internet, bức vách ngăn văn học chính thống và văn học phi chính thống đã được đánh sập. Nhà văn tự do viết, tự do in ấn, tự do phát hành mà không phải mà không phải qua bất kỳ cơ chế nào” [70, 139].

 

Trong bối cảnh toàn cầu đó, các nhà thơ thế hệ Đổi mới luôn ý thức đề cao vai trò của người nghệ sỹ - trí thức. Với họ, việc học tập các lý thuyết, kỹ thuật viết mới phải là việc làm thường xuyên. Nắm rõ những điểm cốt lõi của lý thuyết, từ đó vận dụng vào các sáng tác của mình không hề là điều giản đơn. Do đó, tính nghiêm túc trong việc học hỏi phải luôn được đề cao. Nó bắt buộc người nghệ sỹ phải có thái độ cầu thị; đồng thời, phải biết vượt ra khỏi cái tư duy chật hẹp, và, hơn hết phải gạt bỏ những phức cảm tự tôn - tự ti dân tộc, từ đó, “viết như một công dân thế giới”: “Viết như một công dân thế giới là phá vỏ bức ngăn văn chương ngoại vi với văn chương [lâu nay được cho là] trung tâm. Là chặt đứt thứ tư duy chật hẹp như thể quyết một lần cho mọi lần bước ra khỏi ao làng chật chội từng gò bó lối viết ta. Yêu say đắm làng nhưng phải bước ra khỏi nó là vậy. Là từ bỏ mặc cảm nước nhược tiểu, phức cảm tự tôn – tự ti dân tộc. Chúng ta học tập thế giới và sẵn sàng cống hiến trở lại cái tinh túy nhất của chúng ta cho văn chương thế giới” [71, 220].

 

Trong quá trình học hỏi đó, việc chấp nhận thất bại để làm mới mình, theo nhà thơ Mai Văn Phấn là một điều cần thiết. Theo ông, các nhà thơ “phải vượt qua sức ì bản thân, những cuộc tự vấn sòng phẳng, quyết liệt… Quá trình sáng tạo chính là những cuộc cách mạng liên tiếp xảy ra trong mỗi nhà thơ. Nhân tố mới thường sinh ra trong sự khốc liệt, nhiều khi phải chấp nhận những thất bại cay đắng”. Đồng thời ông cũng nhấn mạnh “quá trình vượt thoát khỏi những quan niệm cũ không chỉ đặt ra cho các nhà thơ mà cho cả người đọc” [143, 389 – 390].

 

Có thể nói, việc tự ý thức học hỏi các lý thuyết, kỹ thuật viết hiện đại của thế hệ Đổi mới là điều cần được ghi nhận. Mặc dù việc phê phán, gạt bỏ những giá trị quá khứ cũ kỹ là điều cần thiết, song các nhà thơ cần phải dung hòa được giữa yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại trong những sáng tạo của mình, bởi những giá trị thẩm mỹ lâu bền lại thường đứng vững trên nền tảng truyền thống.

 

3.1.3. Thơ của các tác giả thế hệ Đổi mới - từ quan niệm đến sáng tác

 

Các nhà thơ thế hệ Đổi mới quan niệm rằng sáng tạo thơ hoàn toàn không tách rời hiện thực. Vấn đề cốt lõi là hiện thực trong thơ cần phải tiếp cận và lý giải khác đi so với truyền thống. Hiện thực trong thơ thế hệ Đổi mới giờ đây không chỉ là hiện thực của đám đông, của ý thức hệ, của đấu tranh giai cấp…, mà còn là hiện thực nội tâm, tư tưởng, của vô thức, tâm linh…

 

Chính quan niệm sáng tạo ấy đã chi phối các nhà thơ thế hệ Đổi mới đến cách lựa chọn đề tài, chủ đề, cảm hứng sáng tác. Từ những đề tài sử thi thời chiến, thơ giờ đây đi tìm kiếm vẻ đẹp nhân sinh trong cuộc sống của đời thường, gắn bó với những điều nhỏ bé hơn, chân thực hơn và cũng thầm kín hơn. Nhờ đó, “thơ có khả năng đi sâu hơn vào cuộc đời với những thân phận, số phận đơn lẻ, buồn bã, mang nhiều ẩn ức tâm sự. Nhà thơ cũng khao khát tìm kiếm diện mạo cá nhân trong những tương quan và chiều kích của văn hóa, lịch sử, mỹ học… Đây là lý do giải thích vì sao thơ của thế hệ Đổi mới trở nên giàu tính tư tưởng - triết luận hơn so với trước đó” [152]. Cũng chính vì thế, bằng/ qua thơ, thế hệ Đổi mới đã cho thấy cách nhìn nhận, đánh giá khá tỉnh táo, chân thực các giá trị của lịch sử, về thân phận của con người trong xã hội, về con đường và vị thế của dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Quan niệm mới về sáng tạo còn chi phối các nhà thơ trong việc xây dựng hình tượng. Từ mong muốn khám phá hiện thực ở bề sâu, bề xa, hiện thực được - cảm - thấy, các nhà thơ thế hệ Đổi mới đã có những thay đổi táo bạo trong việc tổ chức và xây dựng hình tượng cái tôi trữ tình. Đó không còn là cái tôi “có chung khuôn mặt” như thời chiến nữa. Cái tôi trong thơ thế hệ Đổi mới là cái tôi ý thức đầy đủ về sự tồn tại bản thể. Đó là cái tôi thấu hiểu mọi nỗi đau của phận người, cái tôi của những thân phận, số phận. Đó còn là cái tôi được thể hiện trong thế giới của vô thức, tâm linh. Đặc biệt, thông qua việc xây dựng hình tượng cái tôi, các tác giả đã bộc lộ khá đầy đủ về bản ngã sáng tạo, nét phong cách độc đáo, riêng biệt của từng cá nhân. Tôn trọng sự sáng tạo, cái tôi, cái độc sáng, dị biệt chính là tôn chỉ sống còn của các nhà thơ. Với họ, “kẻ sáng tạo đích thực nằm ngoài sự định hướng và định mức nào bất kỳ” [73, 161].  Bài thơ “Tự sáng” của Nguyễn Bình Phương lúc này giống như một “tuyên ngôn” về điều đó:

 

Tôi là một đỉnh núi

Một nỗi buồn gieo neo bên kí ức phai tàn

 Trời xanh trời xanh vỗ trên đầu mê man

 Ngày mai có người sang đất lạ

 …

Những suy luận điên rồ rồi sẽ chìm sâu

Còn hơi thở đầu tiên và ý nghĩ

 Tôi là con đường chông gai chưa ai đi

 Vươn về em

 trong đêm

 tôi

 tự sáng

 

 Bài thơ như một sự khẳng định cá tính mạnh mẽ, sự tự tin “tôi/ tự sáng” trong hoạt động sáng tạo của mình mà không ai có thể ngăn cản hay can thiệp.

 

Chính sự thay đổi trong nhận thức, tư tưởng thẩm mĩ của tác giả đã kéo theo sự thay đổi trong cách sử dụng kết cấu, ngôn ngữ, bút pháp… thơ. Đó là một hình thức thi ca mang đậm dấu ấn của nhãn quan, cảm thức hiện đại. Trong sáng tác của các tác giả thế hệ Đổi mới, ta thấy nhiều tìm tòi thi pháp đa dạng theo hướng chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại. Ngoài ra, chính sự thay đổi trong quan niệm về sáng tạo đã chi phối đến sự lựa chọn hình thức thể hiện, công bố tác phẩm của các tác giả thế hệ Đổi mới. Không phải ngẫu nhiên, các nhà thơ tự chọn lối in photocopy các tác phẩm của mình, dù họ có không ít các tập thơ “có thể chui lọt cửa nhà xuất bản chính thống” (theo cách nói của Inrasara). Tất cả chỉ với mục đích sau nhất: khẳng định tư thế tự do của một người nghệ sỹ sáng tạo.

 

3.2. Đóng góp của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trong quan niệm về bản chất cái tôi trữ tình

 

3.2.1. Tầm quan trọng của việc ý thức về bản chất cái tôi trữ tình

3.2.1.1. Giới thuyết khái niệm

 

Cái tôi là một khái niệm đã được đề cập đến trong nhiều công trình khoa học và dưới nhiều góc độ nghiên cứu, tiếp cận, chẳng hạn của triết học, tâm lí học, lí luận văn học v.v. Trong phạm vi luận án, chúng tôi chỉ dừng lại ở những giới thuyết sơ giản về khái niệm.

Về nguồn gốc, cái tôi trong tiếng La tinh cổ đại là persona, trong tiếng La tinh trung cổ là personalitas. Nghĩa gốc từ này là mặt nạ, chỉ vẻ bề ngoài của một cá nhân. Carl Gustav Jung dùng thuật ngữ personna để chỉ cái tôi được biết đến của một cá nhân. “Tuy nhiên persona bao gồm rất nhiều nghĩa, cả đặc điểm bên trong và những phẩm chất cá nhân cũng như diện mạo bên ngoài của người ấy” [8, 9]. Còn Boethius đã đưa ra một định nghĩa về cái tôi: “Con người là một thực thể riêng lẻ có một bản chất dựa trên lý trí” [8, 73]. Từ góc nhìn triết học, chủ thể thường được xác định trong mối quan hệ đối lập với khách thể, nhằm chỉ con người trong tư cách một sinh vật có ý thức và ý chí, thể hiện trên các mặt hoạt động tích cực, tự giác và tự do. Nói cách khác, cái tôi là sự tự ý thức của chủ thể trước thế giới. Triết học Mác - Lênin xác định: “Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính con người có quan hệ tích cực đối với thế giới và chính bản thân mình. Chỉ có con người độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình” [182, 66].

 

Từ góc độ tâm lý học, các nhà nghiên cứu quan niệm “cái tôi” là biểu hiện nét độc đáo và tính tích cực của nhân cách. Trong công trình Tiểu luận tâm lí học, nhà tâm lí học W. Wundt đưa ra mô hình cái tôi với những thuộc tính như sau: a) Cái tôi luôn có đặc tính là luôn tự ý thức mình là một bản chất tinh thần, tự phân biệt với thể xác; b) Cái tôi có chức năng duy trì sự đồng nhất bản chất tinh thần của mình qua nhiều biến đổi, thăng trầm, li hợp, tạo nên một sự thống nhất bền vững; c) Cái tôi có chức năng định hướng, xác lập chí hướng cho tính tích cực; d) Cái tôi có chức năng nội cảm hoá toàn bộ thế giới, tạo thành thế giới chủ quan hết sức độc đáo; e) Cái tôi có chức năng xây dựng hình ảnh, quan niệm về chủ thể, cho chủ thể. Cái tôi luôn tự xác định, hình dung về bản thân mình; g) Cái tôi không phải là một đại lượng đơn nhất, thuần nhất [163, 266- 68].

 

Cái tôi về mặt tâm lí, triết học nói trên chính là cơ sở của cái tôi trong thơ trữ tình. Từ góc độ thơ ca, cái tôi là ý thức của chủ thể về chính mình, đồng thời là ý thức về bản chất xã hội của chủ thể, được bộc lộ trong sáng tác trữ tình, nhằm hướng tới xác lập mối quan hệ giao tiếp giữa chủ thể sáng tạo với độc giả, với đời sống. Tất nhiên, để hiện thực hoá mối quan hệ thẩm mĩ này, thế giới tinh thần ấy nhất thiết phải được mã hoá bằng các hình ảnh, biểu tượng, ngôn ngữ..., tức là các phương thức, phương tiện trữ tình cụ thể. Vì vậy, cái tôi vừa là một quan niệm, một cách nhìn nhận, lí giải về hiện thực ngưng kết trong thế giới nghệ thuật được xây dựng bởi nhà thơ, đồng thời vừa có thể hiện diện khách quan trong văn bản trong tư cách nhân vật trữ tình với những biểu hiện cảm xúc, suy ngẫm cụ thể.

 

3.2.1.2. Ý nghĩa của việc xác định bản chất cái tôi trữ tình

 

Theo lí luận hiện đại, sự vận động phát triển của thơ ca qua mỗi thời kỳ đều gắn với những chuyển biến trong ý thức của nhà thơ về cái tôi trữ tình. Cái tôi thường gắn với sự chuyển hướng khám phá, mở rộng cùng nhu cầu đào sâu những phương diện của đời sống tâm hồn con người, những thay đổi trong quan niệm về mối liên hệ giữa thơ với đời sống, quan niệm về nhà thơ.

 

Nếu quan niệm cái tôi là chân dung tinh thần của tác giả thể hiện qua thơ, qua/ bằng các phương tiện trữ tình tương ứng, thì ở mỗi loại hình thơ, cái tôi lại có những đặc điểm riêng biệt. Trong thơ dân gian (ca dao), đó là cái tôi tập thể. Trong thơ trung đại, đấy là cái tôi siêu ngã (nói khác đi, đó là cái tôi siêu cá thể) - cái tôi   hòa nhập vào thiên nhiên, vũ trụ. Trong văn học lãng mạn 1930 - 1945, đó là cái tôi cá nhân, cá thể. Cái tôi ấy đầy những xúc cảm cô đơn, lo âu, buồn đau. Trong văn học Cách mạng, cái tôi hòa lẫn trong cái ta - ấy là cái tôi sử thi.

 

Sau 1986, những tìm tòi thể nghiệm hiện đại hóa trong thơ đã phản ánh tinh thần nhận thức lại một cách toàn diện về cái tôi cá nhân. Đấy là cái tôi đang trên hành trình vận động, tiếp biến trong thực tiễn hoạt động sáng tạo. Cái tôi ấy có những biểu hiện phong phú, đa dạng, không thuần nhất.

 

3.2.2. Sự thay đổi trong quan niệm về cái tôi trữ tình của nhà thơ thế hệ Đổi mới

 

Trong thơ trung đại, các nhà nho quan niệm thơ ca là hình thức để chuyên chở đạo lý, nó có chức năng giáo hóa, giáo huấn con người, làm thay đổi nhân cách của con người theo hướng tốt đẹp hơn. Cái tôi ấy giúp bản thân nhà thơ thanh lọc tâm hồn, bày tỏ tâm sự trung quân ái quốc, nuôi dưỡng nhân cách người quân tử. Như vậy, thơ ở thời kỳ trung đại chủ yếu được coi trọng về chức năng đạo đức - xã hội. Ở giai đoạn này, từ đề tài đến hình ảnh, ngôn ngữ, thể thơ,... đều nằm trong hệ thống thi pháp trung đại, mang tính quy phạm nghiêm nhặt. Đến thời Thơ mới, cái tôi cá nhân, cá thể trở thành hình tượng trung tâm. Thoát khỏi sự kiềm tỏa của hệ thống thi pháp thơ trung đại, cái tôi  hân hoan, mạnh mẽ thể hiện bản ngã của mình: Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất/ Không có chi bè bạn nổi cùng ta (Xuân Diệu). Nó là cái tôi cá thể giàu tâm tư, xúc cảm và luôn ý thức sự tồn tại của mình trong sự đối lập với thế giới, với đời sống xã hội. Bởi thế, cái tôi ấy luôn cảm thấy lạc lõng, cô đơn. Cái tôi trong thơ Cách mạng không còn là cái tôi cá nhân, cá thể nữa. Thay vào đó là cái tôi hòa chung trong cái ta của cộng đồng: Tôi đã là con của vạn nhà/ Là anh của vạn kiếp phôi pha/ Là em của vạn đầu em nhỏ/ Không áo cơm cù bất cù bơ (Từ ấy - Tố Hữu). Thơ thời kỳ này tràn đầy cảm hứng lãng mạn công dân mà bao trùm là tình yêu đất nước, thể hiện niềm say mê lý tưởng Cách mạng và trở thành vũ khí chiến đấu lợi hại. Thơ là để tuyên truyền chính trị, tuyên truyền cách mạng. Cái tôi trước tình thế sống còn của lịch sử, của dân tộc, buộc phải giấu đi hết những tình cảm riêng tư, sâu kín mà khi cất lên “ta thấy mình xấu hổ” (Chế Lan Viên).

 

Sau 1975, nhất là từ 1986 quan niệm về nghệ thuật, về thơ có nhiều thay đổi. Chiến tranh kết thúc, đất nước bước sang trang mới, cảm hứng ngợi ca tạm lắng lại và thay vào đó là mối quan tâm trước đời sống thế sự, các mối quan hệ người, sự xáo trộn, thay đổi của hệ giá trị sống và sáng tạo… Lúc này, bên cạnh chức năng xã hội (mà giờ đây nội hàm nội dung của nó đã được mở rộng, đào sâu, so với thời kỳ trước đó, tương ứng với những đòi hỏi mới, phức tạp của bối cảnh đời sống), thơ ca còn được nhấn mạnh, đề cao ở chức năng thẩm mỹ. Đó là lý do quan trọng khiến thơ thời kỳ này đổi mới cả nội dung và hình thức.

 

Từ đây, quan niệm về cái tôi trong thơ thế hệ Đổi mới cũng có nhiều thay đổi. Điều này không chỉ xuất phát từ những yêu cầu của yếu tố lịch sử, xã hội bên ngoài, mà quan trọng hơn, nhằm đáp ứng cái nhu cầu bên trong của chủ thể, nhằm cất lên được tiếng nói sáng tạo thực sự, theo góc nhìn và quan điểm của chủ thể. Với xuất phát điểm tư tưởng này, các nhà thơ thế hệ Đổi mới đã tiếp cận và thể hiện cái tôi từ nhiều góc độ đa dạng. Đó là một cái tôi vẫn đầy ý thức về mối gắn kết giữa bản thân với cộng đồng, xã hội, lịch sử, tuy nhiên, mối quan hệ gắn kết này đã được quan niệm rộng rãi hơn so với thời trước, và quan trọng hơn, được thể hiện bằng những phương thức, thủ pháp rất khác so với trước đó. Mặt khác, các nhà thơ thế hệ Đổi mới cũng chủ trương đào sâu vào cái tôi cá nhân, cá tôi bản thể. Đi sâu vào cái tôi cá nhân, họ không chỉ dừng lại ở việc mô tả, thể hiện thế giới nội cảm và các cung bậc cảm xúc, tâm trạng cá nhân (vốn là điều đã được Thơ mới thực hiện rất xuất sắc). Họ chú ý hơn đến việc phân tích, giải phẫu những trạng thái tâm lý, cảm xúc đó trong nhiều mối quan hệ đa dạng - với đời sống, với gia đình, với chính cá nhân… Đặc biệt, các tác giả thế hệ Đổi mới chú ý đào sâu khai thác chân dung cái tôi bản thể. Ở đây, chân dung con người tự ý thức về mình trong nhiều chiều kích tồn tại, trong sự sống, cái chết, sự hữu hạn và vô hạn… tạo nên những đường nét mới, giàu ý vị triết học trong diện mạo cái tôi trữ tình của thế hệ nhà thơ Đổi mới. Mặt khác, đào sâu vào cái tôi bản thể, các nhà thơ thế hệ này cũng đã giải phóng và mở rộng đường biên sáng tạo cho chính họ. Cái tôi vô thức, trực giác, tâm linh với tư cách là một đối tượng mô tả, chiếm lĩnh đã khiến thơ của họ trở nên phong phú, bí ẩn. Hình tượng cái tôi trong thơ họ, vì thế, cũng trở nên thâm sâu, đa chiều kích, không dễ nắm bắt. 

 

3.2.3. Đặc điểm cái tôi trữ tình trong thơ thế hệ Đổi mới

 

3.2.3.1. Cái tôi thân phận, số phận

 

Nếu như thơ Cách mạng 1945 - 1975 thường có xu hướng ngợi ca, tô hồng hiện thực, sẵn sàng che giấu tiếng nói cá nhân, “gạt phăng hết những tình riêng nhỏ nhặt” (Tố Hữu), để phục vụ cho tiếng nói đoàn thể, cộng đồng, phục vụ chiến đấu thì thơ Việt Nam sau 1986 đã có nhiều thay đổi trong nhận thức và sự thể hiện về cái tôi cá nhân. Trở về với thời bình, họ chủ trương dõi vào đời sống xã hội và cá nhân với một cái nhìn trực diện, tỉnh táo. Nổi bật trong thơ họ, do đó, là chân dung cái tôi thân phận, số phận với những bất an, hoài nghi thường trực.

 

Trước hết, cái tôi ấy tràn ngập nỗi buồn. Nỗi buồn đến từ sự cô đơn, sự bế tắc, chán nản trước bối cảnh hiện thực và đời sống cá nhân. Tiến sát hơn tới việc phản ánh xã hội, con người thời đại, các nhà thơ thế hệ Đổi mới đã đi sâu khai thác hình tượng cái tôi bản thể, trả lại những cảm xúc chân thật nhất của nó, với những đau đớn, dằn vặt với phận mình, phận đời trước những bon chen, xô bồ, sự đổ vỡ, sự li tán, sự đổi thay trong các mối quan hệ… Do đó, các tác giả có xu hướng mô tả cái tôi trong nhiều trạng thái cảm xúc tổn thương, bi đát: tôi sững sờ, tôi hốt hoảng, tôi chán chường, tôi bật cười, tôi nhận ra, tôi nhận biết, tôi day dứt, tôi nghĩ, tôi buồn, tôi khóc, tôi quỳ, tôi sợ… Cái tôi ấy hoàn toàn khác hẳn cái tôi sử thi trong thơ kháng chiến giai đoạn trước.

 

Đó cũng là cái tôi của những chua xót, hoài nghi về thân phận, số phận. Điều này có thể thấy rõ trong chân dung cái tôi trữ tình của Dương Kiều Minh. Đấy là một chân dung với những đường nét thật u tối, khắc khổ, già nua, đơn độc tóc bạc, thân hình vàng võ, đôi vai gầy mọn, hai bàn tay trắng, sống nổi trôi lang bạt, triền miên trong giấc mơ khốn khó, những cơn hocảm giác kiệt sức... Đó là một con người “chưa kịp trẻ/ chưa kịp ấu thơ/ chưa kịp dối già”, luôn mang trong nỗi lòng ly hương, sầu xứ, bị “kỉ niệm đuổi đến bức tường dựng đứng” với những khát vọng “một đời tiêu tán”... Hành trình sống cũng chính là hành trình tìm kiếm cái tôi của mình, tìm kiếm cái bản lai diện mục của chính mình. Đấy là một hành trình “dài dặc”, “nhọc nhằn”, “khốn khó”: Cô độc trùm trống rỗng/ Trống rỗng tận cùng (Bày tỏ); Tôi uống bao nhiêu phiền muộn/ Dài dặc sao cuộc kiếm tìm mình/ Nhọc nhằn sao cuộc kiếm tìm mình (Vô thanh)…

 

Trong thơ Dư Thị Hoàn, dường như tâm sự sợ hãi đau đớn trong đời tư tác giả đã tràn vào trong những câu thơ này:

 

Đừng bắt tôi lên diễn đàn

 Đừng buộc tôi ra sân khấu

Hãy để tôi ngồi yên trong góc tối

 Như cái triện đen

 giáng xuống

Tờ khai sinh của tôi

 Thời cuộc sắp đặt tôi

Gần hết một đời rồi

 Tôi đã quen chỗ ngồi

Góc tối

(Số phận - Dư Thị Hoàn).

 

Nỗi buồn ấy còn đến từ sự cô đơn, hoài nghi trong tình yêu. Tuy nhiên. Đó không hẳn là cái tôi buồn sầu, bi lụy đến yếm thế như thời Thơ mới: Tôi là con nai bị chiều đánh lưới/ Chẳng biết đi đâu đứng sầu bóng tối (Xuân Diệu). Cũng viết về tình yêu tan vỡ, trong thơ Dư Thị Hoàn là một cái tôi đầy chủ động. Một cái tôi ý thức tỉnh táo, rành rẽ vai trò, vị thế cũng như sự lựa chọn của mình:

 

Mở ngăn kéo rồi, anh bỏ ngỏ

Bút viết xong chẳng đậy nắp bao giờ

Ôi anh yêu, lơ đãng đến là

Con nai rừng của em

 

 Tất cả rồi dễ qua đi, qua đi

Chúng mình sẽ thành chồng vợ

Nếu không có một lần

Một lần như đêm nay

 Sau phút giây êm đềm trên ghế đá

 Anh không cài khuy áo ngực cho em

(Tan vỡ - Dư Thị Hoàn)

 

Ở đây, người con gái sẵn sàng tha thứ, thậm chí sẵn sàng bao biện cho những hành động “lơ đãng đến là” của người tình khi quên đóng ngăn kéo, khi không đậy nắp bút, sự bừa bãi trong thói quen hàng ngày… Tuy nhiên, nếu đó là biểu hiện của sự bừa bãi, vô cảm trong tình yêu thì sự bao dung đó không còn nữa. Tan vỡ là điều không thể tránh khỏi: đó là sự lựa chọn dứt khoát của chị. Thậm chí chị đi đến một lựa chọn hành động quyết liệt hơn: Khi tình yêu bị đẩy vào trận/ Chỉ còn cách/ Mượn họng súng để ngắm nhau (Không đề - Dư Thị Hoàn). Sự tỉnh táo, dứt khoát ấy cho thấy sự mạnh mẽ ẩn ngầm sau vẻ mềm mại nữ tính của thơ Dư Thị Hoàn. Đó cũng là lí do người ta nói đến ý thức nữ quyền trong thơ tác giả này ngay từ giai đoạn đầu Đổi mới.  

 

Những hiện thực tàn nhẫn ấy khiến “khóc” trở thành trạng thái quen thuộc, lặp đi lặp lại nhiều lần trong thơ nhiều tác giả. Tiếng khóc đến từ những hoài niệm dù “muốn quên đi” nhưng “sao gió nhớ”:

 

Bài hát suốt một thời rong ruổi

Chỉ ta với gió biết mà thôi

Ta muốn quên đi mà sao gió nhớ

 Để ta khóc, gió đừng lau nước mắt…

(Bài hát giã từ - Giáng Vân)

 

Tôi khóc những mùa rau khúc thiêng liêng phủ đầy mưa xuân như phủ đầy cám bếp

Nơi mãi mãi giấu vùi hơi thở của bà tôi

(Tôi khóc những cánh đồng rau khúc - Nguyễn Quang Thiều)

 

Tôi quỳ xuống vốc cát vào mặt

Tôi khóc

Cát từ mặt tôi chảy xuống dòng dòng

(Sông Đáy - Nguyễn Quang Thiều)

 

Sao mẹ không nói cho rõ

Mẹ con mình rồi mỗi người một ngả

 Để con được lao vào lòng mẹ

 Khóc cho hết hơi

 Khóc cho trời sập

 Khóc cho cột căm bặt

 Khóc cho tay lái rời vô lăng

 Khóc cho đoàn tàu không dám lăn bánh

(Mười năm tiếng khóc - Dư Thị Hoàn)

 

 Nỗi buồn và cô độc khiến cái tôi đằm sâu trong triết lý. Phơi trải trên những trang thơ ấy là rất nhiều suy tư về phận người, cõi đời. Nhưng trong nỗi buồn đó, ta vẫn đọc thấy  niềm tin hướng về cái đẹp và những giá trị tinh thần trường cửu. Và thay vì trốn chạy hiện thực, cái tôi ấy mang đầy trách nhiệm với cuộc đời, gắn mình với vai trò phải “nâng đỡ” cho những số phận của những con người “xấu số” trước thời cuộc: Tôi mong được làm điểm tựa/ Chống chọi sức đè nén/ Cho đòn bẩy nhấc bổng cuộc đời những người/ Xấu số (Dư Thị Hoàn). Ta cũng bắt gặp trong thơ một thái độ sống thật bình tĩnh, an nhiên, tự tại: Hoa sen nở không lựa chọn. Giữa đầm, hoa nở. Ven bờ, hoa nở, hái vào nhà cắm vào lọ, hoa nở, và mang bày giữa người thích mặc cả, hoa vẫn nở. Là hoa thì nở, dẫu biết nở là chết (Đồng hồ vĩnh cửu - Nguyễn Lương Ngọc)…  

 

Bên cạnh đó, thay vì dùng ngòi bút của mình để ngợi ca hiện thực, ngợi ca lịch sử dưới cặp mắt đầy tính sử thi - lãng mạn, văn học giai đoạn này tập trung tra vấn hiện thực; xoáy sâu khai thác vào thân phận con người sau chiến tranh, vào "bề chìm" của cái tôi - bản thể vốn bị vùi lấp bởi các sự kiện chính trị; đồng thời bày tỏ những suy ngẫm về tương lai của họ… Các nhà thơ giờ đây “không mấy khi phải gồng mình lên để nói những điều lớn lao”, những cái quen thuộc của một "thời đại đã qua" mà thể hiện “những phát hiện mới, có giá trị khắc họa bằng ngôn ngữ của thơ, nỗi đau của những phận người - cái mà chỉ ít năm trước đây, không ít người làm thơ còn né tránh” [130, 51]. Nhu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nói thẳng sự thật trỗi dậy mạnh mẽ. Sự thật trở thành giá trị đo lường lương tri của người nghệ sỹ và là cái đích phản ánh của nhà thơ. Nhu cầu ấy gắn liền với khát vọng dân chủ sự thật, muốn nhìn vào bản chất của đời sống dù đời sống ấy tối tăm, xấu xa. Đặc biệt, trong thơ giai đoạn này xuất hiện không ít những hình ảnh, những tâm sự, những cuộc đối thoại của con người khi trở lại với cuộc sống thời bình mang trong đó “những giọt nước mắt” từ hơi thở của hiện thực sau chiến tranh. Xu hướng nhận thức lại, đối thoại lại với những gì mà chiến tranh cố tình che giấu hoặc không nhận ra trở nên phổ biến. Trong thơ, xuất hiện motif đối thoại giữa quá khứ với hiện tại, lí tưởng với hiện thực, tốt đẹp với xấu xa, những ước mơ hoài bão với sự thật tàn nhẫn. Đó là cái tôi sẵn sàng đối diện trước sự rộng lớn của Tổ quốc để đối thoại, chất vấn với những giá trị của nó:

 

Tôi quỳ sụp trước hai tiếng hư vô

Người là ai?

Uy nghiêm trên ngai vàng tín ngưỡng

Có giây phút nào người ái ngại

 Đất đai đóng khung vì người

 Tình yêu chật hẹp vì người

 Đường viền của người thắt quặn trái tim tôi

(Tổ quốc - Dư Thị Hoàn)

 

 Đó là cái tôi đầy nghi vấn, đầy đau đớn trước những gía trị tưởng như vĩnh hằng rồi cũng có thể mất đi:

 

Còn ai nghe tiếng hát

 sáng mai?

 khi sông Lu gặp tôi nơi nguồn suối

 róc rách về ngôn ngữ sạch trong

 

 Khi sông Lu ẩn cư miền sa mạc

 còn ai nâng chông chênh tiếng hát

 sớm mai?

(Sông Lu cùng tôi thức đêm nay - Inrasara)…

 

Nếu như hình tượng trung tâm trong Thơ Mới là cái tôi cảm xúc, thì trung tâm của thơ sau 1986 là cái tôi tự ý thức. Họ chấp nhận đối diện với xã hội ấy bằng một cái nhìn trực diện như một thực tại không thể tránh khỏi, đồng thời coi đó là một đối tượng cần đào sâu của ý thức, của thơ ca. Bằng một cái nhìn tỉnh táo và giàu màu sắc chiêm nghiệm, trong nhiều tác phẩm của thế hệ nhà thơ Đổi mới đã phơi bày những mặt trái, mặt tối của đời sống, những thay đổi về bậc thang giá trị và không né tránh đề cập đến những bất công xã hội. Do vậy, trong thơ thế hệ Đổi mới chủ đề thế sự, đời tư trở nên nổi bật, gắn liền với nó là chất giọng “tự thú” cùng tiếng cười giễu nhại trước những giá trị bị thay đổi, bị bóp méo…

 

Thể hiện cái tôi thân phận, số phận trở thành nội dung lớn trong thơ thế hệ Đổi mới. Từ đây, hình tượng cái tôi dần trở về những chiêm nghiệm, hướng nội. Nhà thơ qua đó, bộc lộ những cách nhìn, quan điểm của mình với hiện thực cuộc sống đương đại và đối thoại trực tiếp với nó.

 

  3.2.3.2. Cái tôi vô thức, tâm linh

 

 Một trong những đóng góp nổi bật của thế hệ nhà thơ Đổi mới trong cách thể hiện cái tôi trữ tình là việc đi sâu khám phá, thể hiện cái tôi của vô thức, tâm linh. Đấy là cách các nhà thơ vừa tìm đến và khám phá một thế giới mới trong chiều sâu bản thể con người, nới rộng phạm vi phản ánh cho tác phẩm; vừa là cách họ “trú ngụ”, “gột rửa” tâm hồn giữa những xô bồ, hỗn tạp của đời sống hiện đại qua chính “đứa con tinh thần” của mình.

Vậy, “tâm linh” là gì? Cần hiểu khái niệm này như thế nào? Trong công trình Văn hóa tâm linh, Nguyễn Đăng Duy quan niệm: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo. Cái thiêng liêng, cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm” [22, 12]. Như vậy, có thể hiểu, tiếng nói tâm linh là một phần đời sống tinh thần gần gũi nhưng đầy bí ẩn của con người. Tiếng nói tâm linh thường gắn với khát vọng hướng tới một cõi sống thiêng liêng, cao cả, giúp con người có niềm tin để vượt qua những trở lực, khó khăn của đời sống trần tục, tạo nên một sự cân bằng cần thiết trong đời sống tinh thần của cá nhân và nuôi dưỡng, hoàn thiện tâm hồn.

 

Quả thực, với nhiều tác giả thuộc thế hệ Đổi mới, vô thức, tâm linh được quan niệm, nhận thức như một đối tượng nghệ thuật cần chiếm lĩnh, và hơn thế, như một phương tiện sáng tạo hiệu quả để đào sâu hơn vào đời sống tinh thần phong phú, bí ẩn của con người. Nhờ đó, hiện thực được mô tả trong thơ trở nên phong phú hơn, đa dạng hơn, sâu sắc hơn và cũng nhiều chiều hơn.

 

Thế giới của vô thức, tâm linh là một nội dung hầu như vắng bóng ở thơ ca Cách mạng 1945 - 1975. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên do, trong đó đặc biệt là do hoàn cảnh chiến tranh và quan niệm sáng tạo tương ứng. Bước vào thời Đổi mới, tâm linh được quan niệm như một hiện tượng khách quan của đời sống con người và đã được nhận thức lại một cách sâu sắc và công bằng hơn. Qua con mắt tâm linh, người ta có điều kiện để nhìn sâu hơn vào đời sống nội tâm của cá nhân, để suy ngẫm, nhận diện về những vẻ đẹp tinh thần bí ẩn, sâu xa, trường cửu, để nhận thức sâu hơn về các giá trị sống thiêng liêng, cao cả… Từ đây, thay vì những đề tài, chủ đề mang tính sử thi, họ quan tâm hơn tới đời sống thế sự, đời tư của con người. Thay vì những đề tài chính trị lớn lao, mang tính tập thể, cộng đồng, họ chú trọng hơn đến việc đi sâu tìm kiếm, khai thác tiếng nói nội tâm, bản thể của cái tôi cá nhân. Và cũng rất tự nhiên, từ sự tập trung quan tâm tới con người xã hội - chính trị trước đó, họ chuyển mối quan tâm sang con người - tư tưởng (theo nghĩa rộng), con người - tâm linh.

 

Với nhu cầu mở rộng thế giới mô tả, các nhà thơ thế hệ Đổi mới nỗ lực tìm tòi vươn tới bề sâu của vỉa tầng còn ẩn khuất của đời sống và tinh thần con người để khai thác, tái hiện, chiếm lĩnh. Họ luôn khao khát lý giải, khám phá về bản chất thế giới từ đằng sau cái hiện thực bề mặt được nhìn thấy, và mong muốn từ những hiện tượng, sự vật rời rạc, xa lạ, nhận ra những mối liên hệ ở bề sâu trực giác, tâm linh. Đó là lý do khiến họ đặc biệt quan tâm đến tiếng nói tâm linh bí ẩn trong đời sống con người. Nhu cầu và ý thức sáng tạo này đã tạo nên nhiều nét khác biệt trong nội dung cũng như thi pháp của nhiều tác giả thuộc thế hệ Đổi mới. Cũng từ đây, một thế giới thiêng liêng, bí ẩn, lạ lùng, gắn liền với những cảm xúc hướng thượng, cao cả… thường hiện diện trong thơ của họ.

 

Trước hết, nó là một thế giới đối lập lại với thế giới hiện hữu trần tục của con người. Đó là thế giới của cõi huyền nhiệm, của sự thiêng liêng, cao cả, vô cùng huyền bí. Nó thường được đề cập đến với những hình ảnh như: bà Mụ, tháp, Chúa, Đức Phật, Bầu Trời… Chẳng hạn, là hình ảnh tháp Chàm trong thơ Inrasara: Đôi lúc/ nửa đêm/ tôi nghe tháp mọc ngang trời/ Như giấc mộng như lóa mắt/ như chớp xé như âm vang/ Bóng của tháp như dòng sông ma/ trườn qua đêm tối hững triều đại/ đanh thức ký ức các dân tộc/ duyên nợ (hay cả không nợ nần gì) với tháp (Tháp Chàm muôn mặt); là hình ảnh Di Lặc sứ trong thơ Nguyễn Lương Ngọc: Ông cười/ không thấy tiếng/ tiếng ấy tắt rồi/ hay nó đâu đâu ngoài cõi người (Di Lặc sứ)…

 

Thể hiện cái tôi vô thức, tâm linh, các nhà thơ còn đi sâu khám phá thế giới của những linh hồn, bóng ma, người chết, nấm mộ… Điều này, xuất phát từ quan niệm “vạn vật hữu linh” (mọi vật đều có linh hồn) của các nhà thơ thế hệ Đổi mới. Với họ, con người khi chết đi chỉ là sự đánh mất thể xác, còn linh hồn họ vẫn còn tồn tại lại trên dương gian với người trần thế, cùng song hành, sinh hoạt như “những người đang sống”: Giờ này tiếng chuông điểm giờ của đồng hồ bưu điện thị xã/ Chỉ làm trò cười cho các thánh thần/ Giờ này cả những kẻ uống rượu đêm và những tên ăn trộm/ Cũng không cưỡng nổi cơn buồn ngủ tục tằn/ Giờ này đời sống nơi nghĩa địa không còn nhộn nhịp/ Những linh hồn đã chán ngấy dạo chơi trong thị xã/ Trở về phần mộ của mình và ngủ tiếp (Tiếng chó sủa và những ngôi sao - Nguyễn Quang Thiều); Những linh hồn người chết có thể can thiệp vào đời sống trần thế, dương gian, “thì thầm” với con người dương thế trong cả những buổi hò hẹn của họ: Nơi ấy da  thịt em đã ngủ, bởi trong anh co tâm linh thì thầm/ Em lần theo bóng mây trôi/ Thấm qua sóng lá vô hồi... Hư vô thành yêu em... Em gọi chói chang bên kia sông mơ, con thuyền anh bỗng thành con chó nhỏ (Em xa - Mai Văn Phấn)... Thậm chí, linh hồn cũng có những trạng thái của chính nó, cũng biết nhớ “thân thể”: Thân thể/ Cần ăn, cần uống,cần hít thở/ Nó cần cả linh hồn để sống động/ Đi lại, nói năng/ Linh hồn chỉ thích bay ra ngoài/ Nó không cần gì/ Nếu không bị thân thể giam cầm/ Nó bay khắp ba thế giới/ Nhưng ba thế giới lặng câm/ Những ngôn ngữ lạnh lẽo// Nó nhớ thân thể làm sao (Lượm lặt - Giáng Vân)…

 

Cái tôi tâm linh thường gắn liền với những hình ảnh về cõi mơ, cõi huyền nhiệm, xứ sở của những hoài niệm xa xôi, của quá khứ vọng về...  mà ở đó ngủ, mơ, mộng, tưởng tượng là những trạng thái xuất hiện với tần số dày đặc trong thơ của các tác giả thuộc thế hệ Đổi mới: Cỗ xe tang trôi mãi vào cơn mê/ Những con rồng gỗ vảy vàng bay lên trong tiếng kèn, tiếng trống... con nhìn thấy bà nội mặc áo tơ tằm ngồi giữa ngàn ngọn nến/ Bà rót một bình nước mưa trong để đợi con về” (Âm nhạc - Nguyễn Quang Thiều); Bây giờ con không sao nhìn thấy gương mặt mẹ/ Mẹ đã hoà vào cao xanh kia/ Cao sang và hư ảo/ Bên ngoài những định giới hạn hẹp, tối tăm/ Mẹ về bên con bằng thứ ánh sáng xanh biếc vô hình/ Niềm vui sáng dịu dàng khôn tả/ Đó là gương mặt thật của mẹ/ Gương mặt của người mẹ vĩ đại đã sinh ra con/ Đã chịu bao kiếp nạn (Thơ dâng mẹ - Giáng Vân); Nước rút/ Trong giấc mơ gần sáng// Xương cốt con đau/ Đuôi và vây lưng tê cứng/ Có bàn tay luồn những sợi dây/ Kéo con lê lết (Mục V - Cửa Mẫu - Mai Văn Phấn).

 

Tuy nhiên, dù đi sâu vào những khúc khuỷu sâu kín nội tâm, vào những vùng mờ hư ảo của tâm linh, họ vẫn tìm thấy vang hưởng của tiếng nói của một cộng đồng lớn lao - tiếng nói của nhân quần, nhân loại. Sáng tạo về những vùng tâm linh hư huyễn, với họ, là một cách để tìm tòi, phát hiện, mở rộng phạm vi hiện thực mô tả. Đó là cái “hiện thực bên trong” - hiện thực của tinh thần, nội tâm, đối lập với cái “hiện thực bên ngoài” - hiện thực của những cuộc đấu tranh giai cấp, chính trị… Như vậy, viết về hiện thực tâm linh cũng là một cách để người nghệ sỹ mở rộng con đường tìm kiếm, sáng tạo nghệ thuật.

Những tác phẩm văn học viết về thế giới tâm linh nói chung, thơ tâm linh nói riêng, thường tạo được chiều sâu ám ảnh trong tâm thức người đọc. Những điều thiêng liêng, cao cả hiện lên qua những hình ảnh, biểu tượng, ý niệm thể hiện khát vọng vươn tới thế giới thanh sạch và tĩnh tâm. Để diễn tả tiếng nói tâm linh, ngôn ngữ thơ cũng trở nên mơ hồ, u tối, mờ nhòe, chủ yếu hướng đến việc gợi hơn là kể, tả, về một thế giới không thể mơ hồ và lạ lùng hơn, trong nội tâm con người. Bài thơ của Giáng Vân, viết về Những cuộc bay của Linh giác, là một ví dụ:

 

Trong cuộc chuyện trò không dứt

                                 của chúng ta và im lặng

Linh giác đi từ đầu mỗi ngón tay, mỗi sợi tóc

Thoát đi nhẹ như một hơi thở

Nhẹ như linh hồn chúng ta

Những linh hồn gầy guộc và chết mòn

                                              bởi đời sống ồn ĩ

Đang tươi trở lại như cái cây được thở

Nó bắt đầu chạm vào nỗi phiền muộn

                                       của chúng ta

Bằng những cú hích rất nhẹ

 

Trên cánh đồng phiền muộn

Chúng ta bắt đầu nở hoa 

 

Chính vì thế, việc đọc thơ của các nhà thơ thế hệ Đổi mới trở nên khó khăn hơn. Nhưng, từ một góc nhìn khác, đó cũng là một yếu tố tạo nên sức hấp dẫn riêng của những cây bút này trong nền thơ ca Việt Nam đương đại.

 

3.2.3.3. Cái tôi sáng tạo

 

Như đã nói trên, cùng với sự thay đổi trong quan niệm về sáng tạo, các nhà thơ thế hệ Đổi mới cũng đổi mới trong quan niệm về nhà thơ. Nhà thơ, với họ, trước hết là người sáng tạo. Không chỉ có sự nhạy bén với ngôn từ, nguồn thi cảm mãnh liệt, trí tưởng tượng và trực giác mãnh liệt, nhà thơ còn là người phải biết tạo ra thế giới nghệ thuật riêng của cá nhân mình, một “không gian khác” (Mai Văn Phấn) với người khác và với chính mình trong hành trình sáng tạo. Bởi vậy, nhà thơ - người sáng tạo đã trở thành đối tượng mô tả quan trọng và là hình tượng trữ tình nổi bật trong thơ của nhiều tác giả như Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Inrasara... Sự suy ngẫm và hình tượng hóa khá thường xuyên chân dung người sáng tạo trong thơ cho thấy sự tự ý thức khá sâu sắc của thế hệ Đổi mới về chính mình trong tư cách chủ thể sáng tạo và nghề/ nghiệp sáng tạo. Với họ, đó hoàn toàn không phải một sự lựa chọn tình cờ mà là một sự gặp gỡ dường như là “định mệnh” của người cầm bút. Như vậy, mô tả về nhà thơ và nghề thơ nhưng thực chất cũng là mô tả về chính mình và đời mình; mô tả về đối tượng nhưng thực chất là mô tả về chủ thể. Cái tôi sáng tạo, do vậy, trở thành một góc độ, phương diện rất đáng chú ý trong nhiều phương diện hợp thành chân dung cái tôi của thơ thế hệ Đổi mới.   

 

Ngay từ thời Thơ mới, chân dung cái tôi - người sáng tạo, cái tôi thi sỹ đã thể hiện khá rõ trong sáng tác của nhiều tác giả. Với Xuân Diệu, cái tôi ấy luôn khẳng định cái cá tính riêng biệt, không trộn lẫn: Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất/ Không có chi bè bạn nổi cùng ta... Với Thế Lữ, cái tôi ấy được hình dung như một “khách tình si/ ham vẻ đẹp có muôn hình muôn thể”. Và ông khao khát  “làm nhà nghệ sĩ nhiệm màu/ Lấy Thanh Sắc trần gian làm tài liệu”. Đẩy lên một bước nữa trong việc phi thường hóa, thần bí hóa vai trò người sáng tạo, Chế Lan Viên viết: “Thi sĩ không phải là Người. Nó là Người mơ, Người say, Người điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tỉnh, là Yêu, nó thoát Hiện Tại. Nó xối trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương Lai”.  

 

Ta vẫn có thể thấy ảnh hưởng của cái nhìn lãng mạn đó trong chân dung cái tôi sáng tạo của thơ thệ hệ Đổi mới. Nhưng bên cạnh sự tương đồng, gần gũi với Thơ mới, ta vẫn có thể thấy những điểm mới, khác của những nhà thơ thế hệ Đổi mới trong cách  thể hiện của họ. Tác phẩm Nhà thơ của Nguyễn Quang Thiều là một ví dụ:

 

Ngồi cúi đầu trong chiếc ghế gỗ bạc sơn chàng im lặng như chết
Ánh tà dương dần dần biến mất trên những ô cửa
Chàng co người lại, thân thể chàng biến thành một cái tai
Chàng run rẩy trong đời sống của thính giác bí ẩn

Thế gian không có gì phân cách và mọi âm thanh
Chàng đều nghe thấy bằng cái tai rộng lớn của cô đơn
Cả tấm lưng nằm xuống, thiếp ngủ
Và tiếng dừng lại của hơi thở

Có quá nhiều kẻ quanh chàng mang theo trên đầu
Những cái tai điếc như đồ trang sức
Chàng từng mắc sai lầm khi gào to: Các ngươi hãy lắng nghe
Và sự thật đã nhạo báng chàng

Chẳng có gì an ủi nổi chàng kể cả cái chết
Nhưng chàng vẫn phải sống, đôi lúc phải rúm người lại
Trước thách thức của đám người giống những chiếc quần rách
Sứ mệnh của chàng không phải là kẻ đuổi ruồi

Chàng trở thành kẻ điên khùng của thế giới câm ngọng
Và luôn luôn mang gương mặt của đứa trẻ đau ốm
Nhưng đêm đêm đầu chàng lắc lư một quả chuông lớn
Tiếng nó làm rung những vòm cây và những ngọn đồi

 

Hình tượng nhà thơ được đồng nhất với một biểu tượng đặc biệt, là một bộ phận cơ thể - cái tai. Đó là biểu tượng của “đời sống thính giác bí ẩn”, khiến người sáng tạo có thể vượt ra khỏi mọi ngăn cách của thế giới, có khả năng phát hiện ra một đời sống khác, hiện thực khác, đối lập, vượt ra ngoài khỏi hiện thực đời sống thông thường. Nhưng đó cũng là “cái tai rộng lớn của cô đơn”. Siêu năng lực ấy không phải là ân sủng tự thiên đường, bởi chàng phải sống giữa một thế giới của chiếc chiếc tai điếc, tượng trưng cho sự ngu muội, mù lòa. Khi đó, bi kịch của người lắng nghe, của người sáng tạo, là một tất yếu: “Chàng trở thành kẻ điên khùng của thế giới câm ngọng”. Dẫu vậy, niềm tin của tác giả vào năng lực sáng tạo và thức tỉnh của nghười nghệ sỹ, của thơ ca là không lay chuyển. Hình ảnh kết thúc bài thơ thật kỳ vĩ, hư ảo: “đêm đêm đầu chàng lắc lư một quả chuông lớn/ Tiếng nó làm rung những vòm cây và những ngọn đồi”.

 

Với Dương Kiều Minh, sáng tạo luôn đòi hỏi một bản lĩnh và tinh thần dấn thân quyết liệt. Không ngẫu nhiên mà ông ví thi sĩ như loài chim cường tráng/ Mang trên vai dòng thác/ Mang trên vai bão tố/ Mang trên vai thăng trầm thời đại (Gửi). Thong thơ ông, chân dung thi nhân bằng những đường nét gân guốc và quyết liệt: Dáng thi nhân/ Câm lặng và lực lưỡng (Tháp Bút). Nhà thơ, với ông không chỉ là những tên tuổi cụ thể như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Khuất Nguyên, Chu thần Cao Bá Quát, Hàn Mặc Tử…  Với Dương Kiều Minh, “Nhà thơ còn là một phẩm chất, một giá trị tinh thần cao quý. Prômêtê - người mang lửa, Đôn ki-hô-tê hay Chúa Giê su Krixtơ đều là những nhà thơ theo ý nghĩa đó: họ truyền cảm hứng sáng tạo từ lửa, từ khát vọng, từ chính đức tin và tình yêu, để hứng khởi dựng lại những chân trời; để chở thanh bình về tặng cõi người; gọi yêu thương về với con người… Đây là một quan niệm đề cao hết mực giá trị và ý nghĩa nhân văn của hành động sáng tạo.” [150, 252 - 253).

 

Trong sáng tạo nghệ thuật nói chung, thơ nói riêng, vai trò của chủ thể hết sức quan trọng, quyết định giá trị của tác phẩm. Bởi bản chất của sáng tạo có tính lưỡng trị, nó vừa tuân theo vô thức tập thể, nhưng lại vừa chống lại nó, từ đó đi đến việc khẳng định bản ngã trong sự đối lập với tập thể, tạo thành bản lĩnh, cá tính và phong cách của nghệ sĩ. Thông qua sáng tác của mình, người nghệ sỹ luôn thể hiện những cái nhìn, quan điểm nghệ thuật, từ đó, khẳng định cái riêng, không trộn lẫn.

 

Tư tưởng ấy khiến họ không chấp nhận sự “đóng thế” cho bất kì ai, là “diễn viên” cho bất kì sân khấu nào, dù trả giá cho điều đó thật đắt đỏ và đau đớn: Sân khấu là sáng tạo khủng khiếp/ sàn gỗ cùng chất liệu cây thập ác/ có thể dừng chăng chuyện bút nghiên/ Ơi nhà thơ không biết làm diễn viên (Không khóc nữa - Nguyễn Lương Ngọc).

 

Cái tôi ấy sẵn sàng khẳng định sự khác biệt, thậm chí đối lập so với số đông. Từ trong cách định danh cá nhân:  định danh : Ta là Bình Phương/ Là Nguyễn Bình Phương/ Ta yêu thị xã này bằng tình yêu tay trái đặt/ lên ngực người yêu/ Bàn tay mù lòa dài dại trải khắp vùng núi non/ mây ngàn gội trắng (Ngỏ lần thứ nhất - Nguyễn Bình Phương)... Hoặc trong hoạt động thực hành thơ, họ sẵn sàng: đập vụn mình ra mà ghép lại/ Nung chảy mình ra mà tìm lõi/ Xé toang mình ra mà kết cấu (Hội họa lập thể - Nguyễn Lương Ngọc).Nói cách khác, họ không ngại thách thức, gây hấn, phủ nhận, chống đối những giá trị thẩm mỹ cũ,  lỗi thời để kiến tạo, xây dựng  hệ giá trị thẩm mĩ mới, hiện đại.

 Cái tôi ấy cũng sẵn sàng bộc lộ những quan điểm riêng về sáng tạo nghệ thuật. Đó là hành động tự tạo cho mình sự cô đơn cần thiết, tách biệt thế giới bên ngoài:

 

Muốn ở lại cùng mặt trời

Mỗi con người

 Phải tỏa sáng

 

 Muốn ở lại cùng con người

Mỗi bài thơ

 Phải biết sinh ra một bài thơ khác

 

 Muốn ở lại cùng em

 Bài thơ của anh

 Mỗi câu

 phải cách nhau

 một cơn gió

 lạnh

(Ở lại – Nguyễn Lương Ngọc)

 

Bạn nghe tôi nhé: Thơ chúng ta luôn luôn là một nắm đất xanh. Nơi mưa nắng rơi là chỗ bị xé toạc. Thi ca là con đường cuối cùng tìm thấy nhau.

(Chỗ nào đó đang bị xé toạc - Trần Tiến Dũng)

 

Đó là cái tôi dấn thân mạnh mẽ, liên tục “vong thân”, “vượt thoát” khỏi những giá trị cũ một cách quyết liệt, táo bạo, tự chối bỏ ngay cả chính bản thân mình để tìm kiếm những giá trị mới, cao hơn, ý nghĩa hơn: Hãy sống như một bùng vỡ Một bùng vỡ không cần đến tiếng động ồn ào (Đoản thi thứ nhất dành cho con - Inrasara).

 

Cái tôi sáng tạo là một sự tự thể hiện độc đáo của các tác giả thế hệ Đổi mới. Nó bộc lộ cách nhìn, sự lý giải về thơ, về hoạt động sáng tạo và sự ý thức nghề nghiệp cần thiết của chủ thể. Mặt khác, nó cũng cho thấy những tìm tòi nghệ thuật độc đáo trong cách mô tả, thể hiện chân dung cái tôi trữ tình.  Nó phản ánh chiều sâu nhận thức thẩm mĩ của từng cá nhân tác giả, qua đó giúp họ khẳng định tiếng nói của mình trên thi đàn. Và cũng nhờ đó, nó góp phần giúp độc giả “nhận diện” từng gương mặt, phong cách thơ của mỗi người.  

 

Tiểu kết chương 3

 

Sau 1986, thơ Việt Nam đổi mới trên nhiều phương diện. Trước hết, phải nói đến sự đổi mới trong quan niệm về sáng tạo. Trong các tác phẩm của thế hệ Đổi mới, người đọc nhận ra môt sự thay đổi rất ý nghĩa trong quan niệm về bản chất thơ, về mối quan hệ giữa thơ và hiện thực, về vai trò, trách nhiệm của người nghệ sỹ trong bối cảnh  toàn cầu hóa... Và trên thực tế, sáng tác của nhiều tác giả trở thành minh chứng cụ thể cho những cuộc vong thân”, vượt thoát khỏi các giá trị cũ, quan điểm, thi pháp cũ, xác lập một hệ giá trị thẩm mỹ mới. Để làm được điều đó, chính họ phải trở thành những nghệ sỹ - trí thức, luôn ý thức và tự ý thức trong tư cách là “kẻ hành nghề sáng tạo”. Bên cạnh đóng góp về quan niệm sáng tạo, các nhà thơ thế hệ Đổi mới còn đạt được những thành tựu mới trong việc thể hiện hình tượng cái tôi. Hình tượng cái tôi phản ánh những trăn trở suy tư về thân phận con người, đồng thời thể hiện những quan điểm và hướng tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật mới mẻ.

 

 

 

KẾT LUẬN

          

1. “Nhà thơ thế hệ Đổi mới” là một thuật ngữ mang tính quy ước, nhằm chỉ thế hệ nhà thơ Việt Nam xuất hiện và thành danh chủ yếu vào thời kỳ Đổi mới (sau 1986). Về độ tuổi, họ chủ yếu thuộc thế hệ 5x, 6x. Các sáng tác của họ thể hiện một quan niệm và thi pháp sáng tạo mới, táo bạo, hiện đại, có nhiều điểm khác biệt so với thế hệ chống Mỹ trước đó. Đó là một thế hệ hội tụ khá nhiều cá tính nghệ thuật riêng biệt, độc đáo. Nói đến thế hệ này là nói đến những tên tuổi nổi bật như Dư Thị Hoàn, Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Bình Phương, Inrasara... Thơ họ cho thấy ý thức và nỗ lực tìm tòi, cách tân quan niệm, thi pháp một cách mạnh mẽ, quyết liệt.

 

2. Ra đời trong một bối cảnh lịch sử - xã hội - văn hóa đặc biệt; cùng với sự thay đổi trong tư duy, quan niệm về thơ đã khiến nhà thơ thuộc thế hệ Đổi mới mang một diện mạo riêng, khác biệt so với các nhà thơ thế hệ trước và sau đó. Các nhà thơ thế hệ Đổi mới xuất hiện trên thi đàn Việt Nam đã mang đến những đóng góp nghệ thuật hết sức đáng chú ý. Những đóng góp ấy không chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết, trong quan niệm sáng tạo (quan niệm về thơ, nhà thơ) mà còn ở sự thể hiện hình tượng cái tôi trữ tình mang nhiều nét khác biệt so với các thế hệ làm thơ trước đó. Đó là sự đào sâu, khám phá cái tôi thân phận, số phận với những ẩn ức cá nhân, những cô đơn thường trực; là sự thể hiện cái tôi nhiều chiều kích trong những mộng mị, tưởng tượng của thế giới vô thức, tâm linh; đồng thời bộc lộ cái tôi sáng tạo với những cá tính riêng biệt, độc đáo.

 

3. Sự cách tân về mặt hình thức thơ cũng là một đóng góp hết sức quan trọng của các nhà thơ thế hệ Đổi mới. Về mặt thể loại, tự do hóa trong hình thức thể loại là một xu hướng tìm tòi khá nổi bật. Điều này khiến thể thơ tự do, thơ văn xuôi chiếm số lượng lớn trong sáng tác của thế hệ này. Về mặt kết cấu, các sáng tác của họ thường nghiêng về kiểu kết cấu mở. Với lối kết cấu này, thơ thế hệ Đổi mới thường có xu hướng “giấu mặt” hình tượng cái tôi; mọi cảm xúc được nương theo dòng chảy của vô thức; đồng thời, tạo nên những khoảng trống, khoảng trắng trên bề mặt văn bản. Sự phong phú, đa dạng về hệ thống ngôn ngữ, bút pháp, hình ảnh - biểu tượng… cũng đem đến cho thơ thế hệ Đổi mới những nét riêng độc đáo, mới mẻ.

 

4. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp rất đáng ghi nhận, các nhà thơ thế hệ Đổi mới cũng không tránh khỏi những hạn chế. Một số tác giả rất chú trọng tới việc đổi mới cách viết, nhưng lại chưa thực sự quan tâm, chú ý đến cái nguyên tắc, tư tưởng mĩ học chi phối cách viết, trong khi, đây mới chính là yếu tố cốt tử, quyết định bản chất đổi mới. Bởi vậy, sự “đổi mới”, “cách tân” của họ chủ yếu dừng lại ở phương diện kĩ thuật bên ngoài. Mặt khác, sa đà vào những tìm tòi hình thức kĩ thuật biểu hiện, một số tác giả bỏ quên cảm hứng hiện thực xã hội. Tinh thần công dân, trách nhiệm cộng đồng, sự gắn bó với bối cảnh đời sống hiện thời của đất nước, dân tộc trở nên khá mờ nhạt trong thơ họ. Ngay cả ở những tác giả được xem là tiêu biểu, sáng tác của họ không phải lúc nào cũng đạt đến độ chín của kĩ thuật và tầm vóc tư tưởng cần thiết. Những quan điểm, tuyên ngôn tích cực về mặt lí thuyết nhiều khi vẫn chưa thể hiện thuyết phục trong thực tế sáng tác. “Chủ trương” gia tăng các khoảng trống, khoảng trắng trong bài thơ, rút tỉa tối đa các quan hệ từ, từ nối… nhằm tạo nên “tính thơ hiện đại” cũng kéo theo hệ quả là thơ trở nên khó lý giải, thậm chí rối rắm, vô nghĩa.

 

5. Khẳng định dấu ấn, cá tính sáng tạo trên thi đàn văn học là một điều không hề dễ dàng. Bên cạnh khả năng thiên phú, tình yêu với thơ ca, nhà thơ phải luôn có ý thức và nỗ lực đổi mới tư tưởng, quan niệm, cách viết… Mặt khác, trong một bối cảnh lịch sử - xã hội cụ thể, khi cầm bút, họ cũng không thể không quan tâm tới quan điểm và nhu cầu của người tiếp nhận. Trên thực tế, độc giả, bằng hoạt động tiếp nhận của họ, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự sáng tạo của nghệ sỹ. Bởi vậy, viết, trong cái nhìn rộng hơn, không chỉ là viết cho mình. Nó còn có vai trò, ý nghĩa kép: cùng với việc cho ra đời nhiều sản phẩm sáng tạo mới, có giá trị cách tân, nó dần tạo nên thói quen đọc/ tiếp nhận mới, và từ đó, dần tạo ra một lớp độc giả mới, có thị hiếu và năng lực tiếp nhận tác phẩm hiện đại. Do đó, không chỉ dừng lại những tìm tòi có tính riêng lẻ, đột khởi, các nhà thơ cần có ý thức và nỗ lực trong việc tìm kiếm, xây dựng một định hướng tư duy, quan điểm mĩ học mới, nhất quán, làm nền tảng cho sự xuất hiện những tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật trên diện rộng, ở cả phương diện số lượng và chất lượng sáng tác, tạo nên diện mạo riêng của một thế hệ sáng tạo. Nói cách khác, các tác giả thế hệ Đổi mới cần ý thức và có nhiều hoạt động hiệu quả hơn nữa trong việc kết nối, phát triển, khẳng định tiếng nói cộng đồng mĩ học của thế hệ mình.  

 

6. Phá vỡ các khuôn khổ, rào cản của cái cũ, mang tính truyền thống, xác lập những giá trị mới, hiện đại là quy luật tất yếu của tiến trình văn học. Do đó, thiết nghĩ đối với bất cứ sự cách tân, đổi mới nào cũng cần được khích lệ, cổ vũ. Bởi vậy, bên cạnh ý hướng cách tân, đổi mới của nhà thơ, chính người đọc cũng cần “đổi mới”. Với vai trò đồng sáng tạo, người đọc cần phải thay đổi tư duy tiếp nhận, sớm bắt kịp với các trào lưu thơ, khuynh hướng thơ, góp phần hình thành thị hiếu tiếp nhận thẩm mỹ mới, mang tính hiện đại.

 

7. Đã hơn 30 năm trôi qua kể từ cái mốc 1986. Thế hệ Đổi mới vẫn đang trên đà sáng tạo. Họ đã khẳng định mình trong tư cách một thế hệ chủ lực và có những đóng góp quan trọng trong tiến trình đổi mới thơ Việt Nam đương đại. Trong số những tác giả chúng tôi trình bày trong luận án, có những tác giả đã mất, có những tác giả tay bút đã chững lại, song cũng có những tác giả vẫn tiếp tục niềm say mê sáng tạo với một nguồn năng lượng bền bỉ, mạnh mẽ. Nhiều tác giả đã xác định thành công của họ ngay từ thời Đổi mới, nhưng trong các chặng sau, họ vẫn tiếp tục đạt đến những thành tựu mới, rất đáng ghi nhận. Thế hệ tác giả này sẽ đi đến đâu? Đâu là giới hạn của thế hệ tác giả này? Khi nào (và vì sao) thế hệ tác giả này sẽ được thay thế bởi thế hệ tác giả tiếp theo? Đó là những câu hỏi lớn và khó. Chúng ta không thể chỉ dựa trên những phân tích, dò đoán thuần lí thuyết để kết luận. Câu trả lời còn phụ thuộc vào thực tế vận động, diễn tiến của đời sống thơ ca Việt Nam trong tương lai. Về thế hệ nhà thơ Đổi mới, vẫn còn rất nhiều vấn đề đặt ra, đòi hỏi phải được tiếp tục suy nghĩ, giải quyết.