image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement





























Ghi chú thêm về Hồ Xuân Hương (thay lời kết) - Mai Ngọc Phát

Ghi chú thêm về Hồ Xuân Hương

 (Thay lời kết)

 

 

 

 

Mai Ngọc Phát

 

Nhà thơ Hồ Xuân Hương – hiện tượng độc đáo trong lịch sử văn học Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của bà luôn là nguồn hấp lực mạnh mẽ đối với bạn đọc và giới nghiên cứu, gợi lên hàng loạt câu hỏi khó lý giải qua mọi thời đại. Chính những bí ẩn ấy đã khơi dậy nhiệt huyết của những người yêu thơ Hồ Xuân Hương, thôi thúc họ tiếp tục sưu tầm, khảo cứu và phân định các văn bản thơ truyền tụng trong dân gian mang tên bà. Có thể nói, sau đại thi hào Nguyễn Du, hiếm có tác phẩm văn học nào ở nước ta có sức sống bền bỉ và lan tỏa sâu rộng như thơ Hồ Xuân Hương.

Sức quyến rũ của thơ Hồ Xuân Hương bắt nguồn từ một tài năng xuất chúng và phong cách sáng tạo độc đáo. Tư tưởng và thi pháp thơ của bà đã kiến tạo nên hệ hình thẩm mỹ khác biệt, vượt ra ngoài khuôn khổ thời đại. Hệ hình ấy không chỉ tác động trực tiếp đến dòng chảy thơ Việt trung – cận đại, mà còn để lại ảnh hưởng sâu sắc đối với thi pháp hiện đại, khơi mở nhiều khuynh hướng và lối biểu đạt mới. Ở bình diện xã hội, thơ chữ Nôm của Hồ Xuân Hương là tiếng nói thách thức những chuẩn mực đạo đức truyền thống, góp phần làm thay đổi tâm lý và nhân cách người Việt xưa – khơi dậy trong họ khát vọng sống tự do, bình đẳng và hạnh phúc.

Về tài năng của nữ sĩ, trước hết cần khẳng định rằng Hồ Xuân Hương đã kiến tạo giá trị thẩm mỹ độc đáo, có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam, thậm chí có thể sánh với những hiện tượng hiếm hoi của văn học thế giới. Thơ bà là tiếng nói khảng khái, trực diện và quyết liệt chống lại bất công đối với phụ nữ, lên án những hủ tục hà khắc, những định kiến “trọng nam khinh nữ” tồn tại sâu trong xã hội đương thời. Tác phẩm của bà thường xoáy sâu vào những ngóc ngách bi kịch của thân phận người đàn bà, cất lên tiếng nói của nỗi sầu đau mang đậm tính nữ, bảo vệ nhân phẩm.

Đồng thời, Hồ Xuân Hương là người đưa nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm đạt đến đỉnh cao, bằng ngôn ngữ giàu tính phúng dụ và giọng điệu trào tiếu sắc sảo. Bà cũng là tác giả tiên phong trong nỗ lực canh tân thơ chữ Nôm, góp phần xóa đi dấu vết của thi pháp Đường – Tống trong thơ ca trung đại Việt Nam. Thơ bà mở rộng biên độ biểu đạt của tiếng Việt, đưa ngôn ngữ thi ca trở nên gần gũi với ca dao, tục ngữ, phương ngữ và lời ăn tiếng nói dân gian, tạo nên một diện mạo mới mẻ, sinh động và giàu sức sống cho văn học dân tộc.

Thơ Hồ Xuân Hương được kiến tạo trên nền tảng những mẫu gốc, hay còn gọi là cổ mẫu (archétypes). Các mẫu gốc trong thơ bà bắt nguồn từ tín ngưỡng phồn thực của người Việt cổ – một tín ngưỡng tôn thờ sức sinh sôi của thiên nhiên, con người và vạn vật trong vũ trụ. Đặc biệt, những mẫu gốc ấy còn gắn liền với văn hóa Nõ Nường – biểu tượng của sinh thực khí nam và nữ, có ảnh hưởng sâu đậm trong nhiều bài thơ chữ Nôm của bà. Hồ Xuân Hương đã vận dụng linh hoạt hệ thống biểu tượng phồn thực này trong nghệ thuật phúng dụ, tạo nên những bài thơ đầy tính thách thức, gợi cảm và giàu sức khêu gợi thẩm mỹ.

Thơ và cuộc đời Hồ Xuân Hương luôn ẩn chứa những lớp nghĩa bí ẩn cần được giải mã. Cuộc đời truân chuyên, nhiều éo le đã thử thách bà, nhưng đồng thời cũng mang lại cho bà những trải nghiệm quý giá để sáng tạo nên những tác phẩm thực sự có giá trị, trong đó đặc sắc nhất là mảng thơ chữ Nôm. Dòng thơ này mang sức sống bền bỉ, được lưu truyền rộng rãi trong dân gian, đến mức nhiều câu thơ đã trở thành khẩu ngữ, phương ngữ trong đời sống giao tiếp hằng ngày – minh chứng cho sức lan tỏa sâu rộng của “tiếng Việt Hồ Xuân Hương” trong tâm thức người Việt.

Trong di sản thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, hiện vẫn tồn tại nhiều dị bản khác nhau. Mỗi dị bản lại gắn liền với những giai thoại về cuộc đời và những mối tình éo le, trắc trở của bà. Không ít bài thơ mang đậm chất phong tình, thậm chí bị cho là “dâm” hay “tục”, đã được truyền tụng dưới tên bà, khiến giới nghiên cứu còn nhiều tranh luận. Để xác định văn bản nào thực sự là tác phẩm của Hồ Xuân Hương, theo tôi, cần có những dự án nghiên cứu cấp quốc gia, với sự tham gia của các nhà chuyên môn về văn học, ngôn ngữ và văn hóa dân gian. Việc khảo cứu, đối chiếu, hội thảo học thuật quy mô sẽ giúp sớm định hình một chỉnh thể văn bản chính thức mang tên bà.

Thơ Hồ Xuân Hương đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới như Anh, Ba Lan, Trung Quốc, Bulgaria, Nga, Pháp, Phần Lan, Romania, Séc, Slovakia, Tây Ban Nha… Các dịch giả trong và ngoài nước đã nỗ lực vượt qua rào cản văn hóa bản địa, am hiểu đặc trưng ngôn ngữ thơ ca trung đại Việt Nam để chuyển tải trung thực tinh thần bản gốc. Điều đáng trân trọng hơn cả là nhiều bản dịch vừa giữ được nội dung vừa truyền được “thần” và “khí” trong thơ Hồ Xuân Hương – điều vốn rất khó thực hiện. Đó quả là thử thách lớn cho bất cứ ai muốn dấn thân vào thế giới phồn tạp, đầy cá tính và bí ẩn của nữ sĩ tài danh này.

Nhà thơ, dịch giả Hoa Kỳ John Balaban, người từng dịch thơ Hồ Xuân Hương sang tiếng Anh, đã xuất bản tập thơ “Spring Essence: The Poetry of Hồ Xuân Hương” (Cuốn sách này tôi đã nói ở phần trước[1]). John Balaban đã hóm hỉnh dẫn câu thơ tinh nghịch, đáo để của Hồ Xuân Hương khi có người gọi đùa ông là kẻ “dám xông vào hang để bắt hùm!”:

“Này này chị bảo cho mà biết

Chốn ấy hang hùm chớ mó tay.”

(Trách Chiêu Hổ)

Người “dám xông vào hang bắt hùm” ấy không chỉ dũng cảm mà còn có cái nhìn sâu sắc và đầy hóm hỉnh khi nhận xét về bản dịch thơ của mình…

“Spring Essence: The Poetry of Hồ Xuân Hương” của John Balaban được ấn hành tại Hoa Kỳ: “… độc giả tiếng Anh lại chưa bao giờ gặp điều gì giống như hương vị của bà cả. Thêm vào đó, truyền thuyết về cuộc đời long đong của bà như một người vợ lẽ, những quan niệm văn hóa về duyên và nợ ba sinh, những ngụ ý tục tĩu trong việc dùng cả cách nói lái và từ nghĩa kép tưởng tượng, cũng như cấu trúc phức tạp của thể thơ Đường luật đã làm say mê độc giả Hoa Kỳ”[2].

Thơ Hồ Xuân Hương có thể xem là một dạng “kết cấu vẫy gọi”[3] theo cách nói của Wolfgang Iser. Từ tinh thần thông diễn học mà ông khởi xướng, tôi muốn đưa ra vài nhận xét tổng quan về thơ Hồ Xuân Hương. Đặt lý thuyết này trong đối chiếu với sáng tác của bà có thể thấy: văn bản thơ Hồ Xuân Hương vừa đáp ứng thói quen thẩm mỹ của người đọc, vừa có xu hướng chống lại những khuôn mẫu đó, nhằm khơi dậy năng lực khám phá và sáng tạo trong quá trình tiếp nhận. Hai câu thơ trong bài “Chùa Hương Tích” cho thấy rõ sức cuốn hút ấy:

“Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại

Rõ khéo trời già đến dở dom.”

Thơ Hồ Xuân Hương luôn mời gọi người đọc nhập cuộc, cùng sáng tạo, cùng đắm mình trong những nghịch lý, dở dang, trớ trêu của hoàn cảnh trữ tình. Từ “kết cấu vẫy gọi” mà Iser đề xuất, có thể thấy tính phúng dụ và phương pháp tạo nghĩa trong thơ Hồ Xuân Hương đã mở rộng biên độ tưởng tượng, gia tăng chiều kích hiện thực, đồng thời giải phóng bạn đọc khỏi ràng buộc của ngôn ngữ, tâm lý và tập quán mang tính lịch sử.

Thơ chữ Nôm và thơ chữ Hán của Hồ Xuân Hương giúp ta hình dung đầy đủ diện mạo và tầm vóc thi sĩ của bà. Nếu thơ chữ Hán biểu hiện sự uyên bác, tinh tế, đôi khi trầm buồn, thì thơ chữ Nôm lại phóng khoáng, trào tiếu, táo bạo. Sự song hành ấy gợi nhớ đến cặp phạm trù âm – dương trong triết học cổ đại: một thể thống nhất trong đối lập, vừa xung khắc vừa bổ sung cho nhau. Dương thuộc về sáng, bên ngoài, mùa xuân – hạ, ấm nóng, động và hưng phấn; âm thuộc về tối, bên trong, mùa thu – đông, tĩnh và ức chế. Trong tương quan ấy, thế giới thơ Hồ Xuân Hương như sự hòa phối nhịp nhàng giữa hai cực tính: uyên thâm và bản năng, trữ tình và trào phúng, nữ tính và phổ quát.

Từ góc nhìn tiếp nhận văn bản văn học, thơ Hồ Xuân Hương khiến tôi liên tưởng đến tượng thần sáng tạo Brahma[4] trong Ấn Độ giáo. Tượng thần này có bốn mặt, riêng tại Indonesia có phiên bản tám mặt. Mỗi khuôn mặt tượng trưng cho một hướng tri nhận, một khả thể nhìn nhận thế giới. Tương tự, các nhà nghiên cứu và phê bình văn học có thể tiếp cận thơ Hồ Xuân Hương từ nhiều “diện tướng” khác nhau: góc nhìn văn hóa dân gian, phân tâm học, hiện sinh, hậu hiện đại, thi pháp học, phong cách học, diễn ngôn học, tu từ học, hay từ phê bình tiểu sử và nữ quyền luận.

Nhìn tổng thể, thơ Hồ Xuân Hương luôn mở ra những khả thể diễn giải mới cho giới nghiên cứu và độc giả. Chính sức sống mãnh liệt và tính bí ẩn của tác phẩm đã khiến mỗi người đọc, mỗi thế hệ, đều có thể tìm thấy một chân dung Hồ Xuân Hương riêng, song hành với thời đại của mình. Nữ sĩ ấy – tài năng, bản lĩnh và huyền bí – mãi là niềm tự hào của văn học và dân tộc Việt Nam.

 

Ninh Bình, 10/2010 - Hà Nội, 4/2020

M.N.P

 

____________________

[1]. Xem bài “Hình tượng ‘cỏ’ trong thơ Hồ Xuân Hương”.

[2]. Trích từ bài viết “Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm” của John Balaban.

[3]. “Kết cấu vẫy gọi” là tên một cuốn sách của học giả người Đức Wolfgang Iser (1926 - 2007).

[4]. Theo Ấn Độ giáo, thần Brahma là đấng sáng tạo, Vishnu là đấng bảo hộ, Shiva là đấng hủy diệt. Cả ba tạo thành bộ tam thần Trimurti.




TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

I. Tài liệu văn bản:

1. Anthony Stevens. Living Archetypes. Nxb Routlege, New York, 2016.

2. Lại Nguyên Ân (bút danh khác: Tam Vị). Tinh thần phục hưng trong thơ Hồ Xuân Hương. Tạp chí Văn học số 3, 1991.

3. Hoa Bằng. Hồ Xuân Hương nhà thơ cách mạngNxb  Bốn Phương, 1950.

4. Nhan Bảo. Phát hiện mới về Hồ Xuân Hương. Nxb Khoa học hội, 2000.

5. Bình. Thơ Hồ Xuân Hương. Nxb Sống Mới, Sài Gòn, 1958.

6. Nguyễn Ngọc Bích. Hồ Xuân Hương tác phẩmNxb Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2000.

7. Nguyễn Ngọc Bích. Hồ Xuân Hương - Lưu hương . Nxb Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ, 2011.

8. Bùi Hạnh Cẩn. Hồ Xuân Hương - Thơ chữ Hán - Nôm & Giai thoại. Nxb Văn hóa Thông tin, 1999.

9. Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh. Mối tình Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương. Tạp chí Văn học Nghệ thuật số 1, 9/1998.

10.   Đạt. Bóng chữ. Nxb Hội Nhà văn, 1994.

11. Nguyễn Duy Diễn. Luận đề về Hồ Xuân HươngNxb Thăng Long, Sài Gòn, 1953, 1956.

12. Xuân Diệu. Hồ Xuân Hương chúa thơ NômNxb Văn hóa, 1965.

13. Gillian Brown, Trần Thuần dịch. Phân tích diễn ngôn. Nxb Đại Học Quốc Gia; 2002.

14. Nguyễn Văn Hanh. Hồ Xuân Hương tác phẩm, thân thế và tài văn. Nxb Aspar Saigon, 1936; Nxb Khai Trí, Sài Gòn, 1970.

15. Hoàng Xuân Hãn. Hồ Xuân Hương thiên tình sử. Nxb Văn học, 1995, 1999.

16. Phạm Thị Hoài. Phỏng vấn Hồ Xuân HươngBáo Lao động Chủ nhật, số 24/1993.

17. Kiều Thu Hoạch. Thơ Nôm Hồ Xuân Hương - Từ góc nhìn văn bản học. Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 9, 2007.

18. Kiều Thu Hoạch. Văn hóa dân gian người Việt - Góc nhìn so sánh, Nxb Khoa học hội, 2015.

19. Kiều Thu Hoạch. Thơ Nôm Hồ Xuân HươngNxb Văn học, 2008.

20. Hoàng Khôi. Ẩn ức Hồ Xuân Hương. Nxb Văn hoá Dân tộc, 2018.

21. Thụy Khuê. Phê bình văn học thế kỷ XX. Nxb Hội Nhà văn, 2018.

22. Jean-Paul Sartre. Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản. Nxb Tri thức, 2015.

23. Jean Franςois Lyotard, Dịch giả: Ngân Xuyên, Hiệu đính: Bùi Văn Nam Sơn. Hoàn cảnh hậu hiện đại. Nxb Tri thức, 2019.

24. John Balaban - Biên dịch. Spring essence, The poetry Hồ Xuân Hương. Nxb Copper canyon Press

- USA, 2000.

25. Nguyễn Lang. Việt Nam Phật giáo sử luận (toàn tập). Nxb Văn học, 2014.

26. Phương Lựu tuyển tập, Tập 1. Nxb Giáo dục, 2005.

26. Trần Thanh Mại. Trở lại vấn đề Hồ Xuân Hương. Tạp chí Văn học số 10, 1964.

27. Trần Thanh Mại. Bản Lưu hương ký và lai lịch phát hiện ra nó. Tạp chí Văn học số 11, 1964.

28. Trần Nhuận Minh. Ông Phủ Vĩnh Tường rất nổi tiếng trong thơ Hồ Xuân Hương truyền tụng ai?. Đi tìm sự thật. Nxb Hội Nhà văn, 2017.

29. Hoàng Bích Ngọc. Hồ Xuân Hương - Con người, tưởng, tác phẩm. Nxb Văn hóa Thông tin, 2003.


30. Nhiều tác giả. Giáo trình văn học trung đại Việt Nam. tập 1, 2. Nxb Giáo dục, 2019.

31. Nhiều tác giả: Nữ quyền - những vấn đề lý luận thực tiễn, Nxb Đại học phạm Nội, 2015.

32. Thuần Phong. Hồ Xuân Hương thi tập. Nxb Đoàn Văn, Sài Gòn, 1958.

33. Peter Barry, Cao Hạnh Thủy dịch. Phê bình nữ quyền. Chương VI - Feminist criticism”, Beginning Theory - An introduction to literary and cultural theory, Tạp chí Đại học Sài Gòn, Niên san 2013.

34. Sigmund Freud. Phân tâm học nhập môn, Nxb Văn học, 2019.

35. Sigmund Freud. Phân tâm học tính dục, Nxb Nhị Nùng, 1970.

36. Sigmund Freud. Phân tâm học, Nxb An Tiêm, 1969. Dương Đình Minh Sơn. Giải biểu tượng văn hóa Nường. Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2017.

37. Trần Đình Sử. Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb Đại học Sư phạm, 1989.

38. Trần Đình Sử. Dẫn luận thi pháp học, Nxb Đại học Sư phạm, 1998, 2004.

39. Ngô Đức Thịnh. Đạo mẫu Việt Nam, tập 1, 2. Nxb Tôn Giáo, 2009.

40. Đỗ Lai Thúy. Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực. Nxb Văn hóa Thông tin, 1999; Nxb Văn học, 2010.

 

41. Đỗ Lai Thúy. giải cái dâm, cái tục trong thơ Hồ Xuân Hương từ góc độ tín ngưỡng phồn thực. Luận án Tiến Khoa học Lịch sử, 1994.

42. Đỗ Lai Thúy. Xuân Hương khúc khích. gương cho người đọc. Nxb Phụ Nữ, 2015.

43. Thơ Hồ Xuân Hương. Nhà in Phúc Chi, Nội;

44. Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến. Giai nhân di mặc - Sự tích và thơ từ Xuân Hương. Imprimerie Tonkinoise, 1916 (Quyển nhất & quyển thứ nhì).

45. Đào Thái Tôn. Thơ Hồ Xuân Hương (tuyển thơ). Nxb Giáo dục, 1993, 1994, 1995, 1997; Nxb Nội, 1998.

46. Đào Thái Tôn. Thơ Hồ Xuân Hương từ cội nguồn vào cõi tục. Nxb Giáo dục, 1993, 1995, 1996.

47. Đào Thái Tôn. Hồ Xuân Hương - Tiểu sử văn bản, tiến trình huyền thoại dân gian hóa. Nxb Hội Nhà văn, 1999.

48. Đào Thái Tôn. Về thơ chữ Nôm của Hồ Xuân Hương. Nxb Phụ nữ, 2013.

49. Vũ Anh Tú. Tín ngưỡng phồn thực trong lễ hội dân gian người Việt châu thổ Bắc Bộ. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, 2010.

50. Đỗ Long Vân. Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương. Nxb Đà Nẵng, 2018.

51. Ngô Lăng Vân. Hồ Xuân Hương toàn tập. Nxb Sống Mới, Sài Gòn, 1972.


 

II. Tài liệu mạng internet:


1. Phạm Trọng Chánh. Đi tìm Cổ Nguyệt Đường mối tình Hồ Xuân Hương Nguyễn Du. https:// nghiencuulichsu.com/, 2019.

2. Phạm Châu. Đọc hai bài viết của học giả Trung Quốc về thơ Hồ Xuân Hương. vanhoanghean.com.vn/, 2011.

3. Jungian archetypesht tps://en.w ik ipedia. org / w ik i / Jung ian_ archetypes

4. Key Theories of Wolfgang Iser.

https://literariness.org/2018/02/12/key-theories-of- wolfgang-iser/

5. Bùi Ngọc Minh. Vấn đề “Dâm tục” trong thơ nôm truyền tụng thuộc hiện tượng Hồ Xuân Hươnghttp://vandanviet.blogspot.com/, 2015.

6. Trần Nhuận Minh. Từ bài thơ “Khóc ông phủ Vĩnh Tường” được cho là của Hồ Xuân Hương. www.tacphammoi.net/, 2018.

7. Nguyễn Thị Nga. Tín ngưỡng phồn thực trong văn hóa tộc người Chăm.

http://ukh.edu.vn/vi-vn/chi-tiet-tin/id/1445/Tin- nguong-phon-thuc-trong-van-hoa-toc-nguoi-Cham.

8. Thạch Quỳ. Vấn đề Hồ Xuân Hương - Thử tiếp cận những bài thơ có gốc nguồn văn bản. http://www.khxhnvnghean.gov.vn/, 2018.

 

9. Đỗ Lai Thúy. Vấn đề dâm tục trong thơ Hồ Xuân Hương. https://www.qdnd.vn/, 2013.

10. Đỗ Lai Thúy. Trần Thanh Mại phê bình tiểu sử. http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c163/ n2586/Tran-Thanh-Mai-va-phe-binh-tieu-su. html.






Tranh của HS Nguyễn Tuấn Sơn













 

 

 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 
Xem thêm

image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement




























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị