Khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt đương đại (Luận án tiến sĩ - Kỳ 1) - Đoàn Thị Hạnh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

 

 

 

Đoàn Thị Hạnh

 

 

 

KHUYNH HƯỚNG HIỆN SINH

TRONG THƠ VIỆT ĐƯƠNG ĐẠI

 


Mã số: 9220121

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

 

 

Tóm tắt luận án tiến sĩ Ngữ văn

 

 

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đăng Điệp

 

 

Nghệ An - 2022

 

 

 

Maivanphan.com: 12/2022, NCS. Đoàn Thị Hạnh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài "Khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt đương đại", dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Đăng Điệp. Do khuôn khổ của website, chúng tôi đăng luận án thành 2 kỳ. Kỳ 1 gồm phần Mở đầu, Chương 1 & 2.

 

 


MỤC LỤC

 

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

          

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu     

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu          

4. Phưng pháp nghiên cứu

5. Đóng góp của luận án   

6. Cấu trúc của luận án     

 

Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI   

 

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu        

1.1.1. Về nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh và những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện đại

1.1.2. Về nghiên cứu tư tưởng hiện sinh và khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại    

1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài    

1.2.1. Chủ nghĩa hiện sinh

1.2.2. Một số lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh trong văn học          

Tiểu kết chương 1  

 

Chương 2. NHẬN DIỆN KHUYNH HỨỚNG HIỆN SINH TRONG THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI   

 

2.1. Bức tranh toàn cảnh thơ Việt Nam đương đại và việc phân loại các khuynh hướng thơ

2.1.1. Bức tranh toàn cảnh thơ Việt Nam đương đại     

2.1.2. Vấn đề phân loại các khuynh hướng thơ Việt Nam đương đại          

2.1.3. Cơ sở xác định sự hiện diện khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

2.2. Sự xuất hiện khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại   

2.2.1. Những tiền đề văn hóa, xã hội, thẩm mỹ của sự xuất hiện khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại          

2.2.2. Diện mạo và đường hướng vận động của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại    

2.2.3. Vị thế của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại   

Tiểu kết chương 2  

 

Chương 3. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHUYNH HƯỚNG HIỆN SINH TRONG THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI NHÌN TỪ NỘI DUNG BIỂU HIỆN

          

3.1. Ý thức biểu đạt cái tôi theo hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại     

3.1.1. Ý thức biểu đạt cái tôi theo hướng hiện sinh trong thơ ca nói chung      

3.1.2. Biểu đạt cái tôi hiện sinh - xu hướng phổ biến trong thơ Việt Nam đương đại        

3.1.3. Các dạng thái của cái tôi hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại          

3.2. Cảm nhận về con ngƣời theo hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

3.2.1. Một vài giới thuyết  

3.2.2. Con người sinh thể với mọi nhu cầu và khát vọng sống trần thế 

3.2.3. Con người khát khao tự do, dấn thân và những giới hạn, bất khả    

3.2.4. Con người thân phận với những buồn đau, âu lo về số kiếp, sự cô đơn và cái chết

3.3. Quan niệm về thời gian “tồn tại” của con người hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

3.3.1. Sự mong manh, hữu hạn của kiếp người          

3.3.2. Quá khứ - hiện tại - tương lai và sự mịt mờ, bất khả tri     

Tiểu kết chương 3  

 

Chương 4. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH CỦA KHUYNH HƯỚNG HIỆN SINH TRONG THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI NHÌN TỪ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT        

 

4.1. Bút pháp, thể thơ và cách tổ chức bài thơ 

4.1.1. Sự tương hợp giữa các nội dung hiện sinh và phương thức biểu hiện 

4.1.2. Những nét chính trong bút pháp, thể thơ và cách tổ chức bài thơ         

4.2. Các sắc thái giọng điệu trữ tình hiện sinh nổi bật     

4.2.1. Giọng điệu chán chường - sầu muộn     

4.2.2. Giọng hoài nghi - cật vấn  

4.2.3. Giọng triết lý - tư biện        

4.3. Ngôn ngữ và nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ          

4.3.1. Ngôn ngữ mang đậm màu sắc hiện sinh

4.3.2. Nghệ thuật tổ chức ngôn từ biểu tượng hàm ý hiện sinh   

Tiểu kết chương 4  

 

KẾT LUẬN   

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ          

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

 

 MỞ ĐẦU

 

1. Lý do chọn đề tài

 

1.1. Văn học nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng luôn vận động và phát triển trong những bối cảnh lịch sử văn hóa nhất định. Từng giai đoạn lịch sử thường xuất hiện một thế hệ nhà thơ đem đến các thể nghiệm, sáng tạo mới mẻ, giúp người đọc nắm bắt được những đặc điểm riêng biệt của thơ thời đại ấy, Thơ Việt Nam đương đại, từ công cuộc đổi mới được khởi xướng từ năm 1986, đã có sự thay đổi mạnh mẽ và gặt hái được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Thực ra không chỉ thơ, mà cả nền văn học nghệ thuật đã có sự khởi sắc, nhưng thơ được xem là thể loại có sức cảm hoá lớn. Do gắn chặt với đời sống của con người, nhất là ở phương diện cảm xúc, tình cảm, trực giác nên thơ thích ứng nhanh và phát triển đa dạng. Sau 35 năm đổi mới, thơ đương đại Việt Nam đã có sự xác lập rõ nét về thi pháp, diện mạo, càng ngày càng được hiện đại hóa. Việc xuất hiện hàng loạt các khuynh hướng, trào lưu, trường phái đã phần nào cho thấy nỗ lực tìm kiếm dân chủ trong thơ và khát vọng đổi mới, đa dạng hóa thơ. Trong số đó, hiện sinh là một khuynh hướng đem lại cho thơ Việt Nam đương đại nhiều sáng tạo độc đáo, từ phương diện cảm quan về đời sống về con người cho đến kĩ thuật viết.

 

1.2. Gốc rễ của khuynh hướng hiện sinh là từ triết học hiện sinh. Giữa triết học hiện sinh và văn học có mối quan hệ, tác động ảnh hưởng rất lớn. Các nhà hiện sinh chủ nghĩa đồng thời là nhà văn, nhà tiểu thuyết như Camus, Sartre...

 

Từ châu Âu, chủ nghĩa hiện sinh nhanh chóng ảnh hưởng đến các nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Sự ảnh hưởng thể hiện rõ trong văn học và thơ ca. Tác phẩm của nhiều nhà thơ đương đại đã đề cập đến các chủ đề của chủ nghĩa hiện sinh như: bản thể, buồn nôn, cô đơn, phi lý, tính dục, …Sự tiếp thu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại không chỉ ở số lượng tác giả, tác phẩm mà còn ở bề sâu nhận thức, tư tưởng, tạo nên một hiện tượng ghi dấu ấn đậm nét trong thơ Việt Nam, như một dấu mốc đánh dấu sự cách tân đổi mới của nền thơ ca dân tộc. Cốt lõi của tư tưởng hiện sinh là quan tâm đến thân phận con người trong đời sống thực tiễn. Khi tiếp nhận luồng tư tưởng mới mẻ này các nhà thơ Việt Nam đương đại đã đến gần hơn nữa với độc giả, chia sẻ cộng hưởng với họ những trăn trở suy tư về thân phận con người trong đời sống thực tại, giữa cuộc đời hiện sinh. Nghiên cứu, nhận diện thực  tiễn vận động và phát triển của một khuynh hướng thơ ca nổi trội và quan trọng như vậy được xem một yêu cầu cần kíp góp phần nắm bắt mạch vận động của tiến trình thơ ca dân tộc, qua đó, nhận diện rõ hơn cảm thức trữ tình cơ bản của thời đại và xã hội. Thời đại và xã hội nói đến ở đây trước hết là thời đại và xã hội đất nước dân tộc nhưng đó cũng không thể và không phải là một giới hạn cô lập. Nói cách khác, giao lưu và tiếp biến văn hóa xuyên siêu quốc gia luôn là một hiện tượng phổ quát. Vì vậy, nghiên cứu thơ ca Việt Nam đương đại từ góc nhìn hiện sinh chủ nghĩa cũng là để nhận chân ảnh hưởng tiếp nhận của thơ Việt Nam đương đại đối với một trong những trào lưu triết học được cho là lớn nhất của thế kỷ XX.

 

1.3. Thực tế đánh giá về khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại không thuần nhất mà có những ý kiến trái chiều. Có người phê phán chủ nghĩa hiện sinh, khuynh hướng hiện sinh; có người lại cổ súy; cũng có người trung dung, cẩn trọng, ngại khen chê lộ liễu...Tất cả những điều này cho thấy “câu chuyện” về hiện sinh tương đối phức tạp và để hiểu bản chất của chủ nghĩa hiện sinh, nhận diện khuynh hướng hiện sinh trong thơ là không dễ dàng. Lựa chọn đề tài này, chúng tôi muốn truy nguyên bản chất của vấn đề, bắt đầu từ những khái niệm có tính chất triết học, từ đó, thấy được sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy sáng tạo và cảm quan thẩm mĩ mang tâm thức hiện sinh của các nhà thơ đương đại góp phần khẳng định sự tồn tại khuynh hướng này, đưa đến cho người đọc một cái nhìn đúng đắn khoa học, khách quan về lịch sử - tiến trình và hiện tượng của nền thơ ca Việt Nam.

 

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

 

2.1. Mục đích nghiên cứu

 

Thông qua việc khảo sát yếu tố hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại, luận án nhằm xác định sự hiện diện của khuynh hướng hiện sinh với những đặc điểm và ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ riêng của nó, từ đó đề xuất một số vấn đề về tiếp cận, tìm hiểu, nghiên cứu, có thêm cơ sở để khẳng định những đóng góp của khuynh hướng hiện sinh trong thơ đối với sự phát triển của cả nền thơ ca dân tộc.

 

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

 

- 1.1.1. Khái quát, đánh giá khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại và xác lập cơ sở lý thuyết cho việc thực hiện đề tài.

 

- 1.1.2. Bao quát thơ Việt Nam từ năm 1986 đến nay, phân loại các khuynh hướng và nhận diện khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại.

 

- 1.1.3. Khảo sát, phân tích, làm rõ những đặc điểm của khuynh hướng hiện sinh

trong thơ Việt Nam đương đại trên phương diện nội dung biểu hiện.

 

- 1.1.4. Khảo sát, phân tích, khái quát những đặc điểm của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại trên phương diện nghệ thuật tổ chức ngôn từ.

 

Cuối cùng rút ra một số kết luận về vai trò và ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại.

 

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

 

3.1  Đối tượng nghiên cứu

 

Đối tượng nghiên cứu của luận án là Khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại.

 

3.2. Phạm vi nghiên cứu

 

Đề tài trên cơ sở bao quát toàn bộ thơ Việt Nam đương đại, tập trung vào mảng thơ thuộc khuynh hướng hiện sinh. Phạm vi tư liệu khảo sát là các tác phẩm thơ Việt Nam từ năm 1986 đến nay viết theo cảm hứng hiện sinh. Các tác giả - tác phẩm thơ Việt Nam đương đại tiêu biểu thuộc khuynh hướng hiện sinh gồm: Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Trương Đăng Dung, Inrasara, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Phạm Thị Ngọc Liên, Đoàn Thị Lam Luyến, Phan Huyền Thư…

 

4. Phương pháp nghiên cứu

 

Chọn đề tài Khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại, luận án vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó có các phương pháp chính sau đây:

 

4.1. Phương pháp lịch sử: Phương pháp lịch sử giúp cho việc nhìn nhận, xác định diễn tiến của thơ Việt Nam đương đại với quá trình tiếp thu và xuất hiện những dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh.

 

4.2. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này giúp cho việc phân tích và tổng hợp các vấn đề, các nội dung được khảo sát theo định hướng của luận án.

 

4.3. Phương pháp so sánh - đối chiếu: Phương pháp này được dùng để đối chiếu so sánh sự tương đồng và khác biệt trong cảm thức hiện sinh của các nhà thơ Việt Nam trên cả hai trục đồng đại và lịch đại, sự tương đồng và khác biệt của các khuynh hướng tư tưởng trong thơ Việt Nam đương đại.

 

4.4. Phương pháp loại hình: Phương pháp này được dùng để nhìn nhận, đánh giá, luận giải các vấn đề được tìm hiểu, nghiên cứu theo đặc điểm loại hình tư tưởng và loại hình - thể loại.

 

4.5. Phương pháp liên ngành: Phương pháp giúp cho việc huy động tri thức của một số ngành khác như văn hóa học, triết học, tâm lý học, ngôn ngữ học... nhằm tham chiếu, soi tỏ các vấn đề được khảo sát, tìm hiểu trong luận án.

 

4.6. Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Phương pháp này được dùng để xem xét đối tượng nghiên cứu một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều mối quan hệ khác nhau, trong trạng thái vận động và phát triển để tìm ra nét bản chất và quy luật vận động của vấn đề được nghiên cứu trong luận án.

 

5. Đóng góp của luận án

 

Luận án là công trình tìm hiểu, nghiên cứu Khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại với một cái nhìn tập trung, hệ thống và với tư cách là một vấn đề chuyên biệt.

 

- Luận án trong khi diễn giải trở lại các luận điểm đặc trưng của triết thuyết hiện sinh vì mục đích phục vụ cho nhiệm vụ chính yếu là nhận diện khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại ít nhiều cũng đã nêu bật được một số nhận xét cá nhân về quá trình tiếp nhận và vận dụng hiện sinh luận tại Việt Nam trong nửa thế kỉ qua.

 

- Luận án trình bày một cách bao quát, xác định và nhận diện khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại bằng và với những phương pháp, thủ pháp nghiên cứu văn hóa học, thi pháp học thích hợp.

 

- Luận án là một sự khẳng định có cơ sở sự xuất hiện của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại với diện mạo và những đặc điểm riêng trên cả hai phương diện nội dung biểu hiện và nghệ thuật tổ chức ngôn từ.

 

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng vào việc dạy - học ngữ văn ở nhà trường.

 

6. Cấu trúc của luận án

 

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án gồm bốn chương.

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài.

Chương 2. Nhận diện khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại.

Chương 3. Những đặc điểm cơ bản của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại nhìn từ nội dung biểu hiện.

Chương 4. Những đặc điểm chính của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại nhìn từ hình thức nghệ thuật.

 

 

 

 Chương 1

 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

 

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

 

1.1.1. Về nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh và những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện đại

 

1.1.1.1. Việc giới thiệu chủ nghĩa hiện sinh, mối liên hệ giữa chủ nghĩa hiện sinh với văn học và văn học Việt Nam hiện đại

 

“Hiện sinh”, “Chủ nghĩa hiện sinh” là những khái niệm đã khá quen thuộc với người Việt đương đại. Sự phổ biến của chúng trong ngữ vựng tiếng Việt có thể đã bắt đầu từ giữa thập niên 1950 - 1960 ở miền Nam nước ta. Theo Từ điển Tiếng Việt, “chủ nghĩa hiện sinh” là “khuynh hướng triết học quan niệm con người là độc nhất và đơn độc trong một vũ trụ lãnh đạm, thậm chí thù địch, con người là hoàn toàn tự do và chịu trách nhiệm về những hành động của mình” [160, tr. 176]. Điều đáng chú ý là Từ điển Tiếng Việt coi “hiện sinh” là một danh từ nói tắt của “chủ nghĩa hiện sinh”, và cụm danh từ đồng nghĩa với nó là “chủ nghĩa sinh tồn” (được xem là từ cũ) [160, tr. 177].

 

Thực ra, “Hiện sinh” hay hơn thế nữa, “chủ nghĩa hiện sinh” không đơn thuần chỉ là triết thuyết (chủ nghĩa, lý luận, lý thuyết, học thuyết, …) hay chỉ là một phương pháp nghiên cứu phê bình, một cảm hứng sáng tạo hay khuynh hướng sáng tác hay đơn giản hơn nữa - một thái độ chính trị, tôn giáo...

 

“Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism - còn gọi là Thuyết sinh tồn, Thuyết hiện sinh, Triết hiện sinh, Phong trào hiện sinh) là một trào lưu triết học phi duy lý phát triển với nhịp điệu chóng mặt (theo cách nói của một số học giả nghiên cứu về triết thuyết hiện sinh) ở châu Âu và nhanh chóng trở thành xu hướng thời thượng của xứ này sau thế chiến II. Khoảng hai mươi năm sau năm 1945 là thời kỳ hoàng kim của triết thuyết này. Chủ nghĩa hiện sinh cắm rễ và lan tỏa đến mọi ngõ ngách của đời sống, thấm cả vào những lĩnh vực khó biểu hiện nhất như âm nhạc. Cũng có thể nói “Hiện sinh trở thành tôn chỉ cho phong cách sống của những người dám là chính mình và sống cho chính mình” [29, tr. 69]. Theo Trần Nhật Thu, thuật ngữ “chủ nghĩa hiện sinh” (L'existentialisme) được nhà triết gia Pháp Grabiel Marcel tuyên xưng lần đầu và ngay sau đó được J.P. Sartre sử dụng trong bài thuyết trình của mình vào ngày 29 tháng 11 năm 1945 tại Paris. Bài thuyết trình sau đó được xuất bản thành sách mỏng với tựa đề “L’existentialisme est un humanisme” (Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân bản)”. Điều đáng chú ý là cuốn “sách mỏng với tựa đề L’existentialisme est un humanisme” này đã được dịch giả Thụ Nhân dịch sang tiếng Việt Hiện sinh - một  nhân bản thuyết và xuất bản ở Sài Gòn năm 1965 [124]. Trần Đình Sử cho rằng “Chủ nghĩa hiện sinh đi theo cách nghĩ của hiện tượng học, kiên quyết phản đối đối lập bản chất với hiện tượng mà chủ trương hiện tượng tức bản chất, kêu gọi trở về với bản thân sự vật”. Bản thể luận của họ chính là tồn tại luận. Vì thói quen ở đây vẫn dùng bản thể, nhưng sẽ hiểu là tồn tại luận. Theo Heidegger vấn đề căn bản của triết học là đi tìm ý nghĩa của tồn tại (sein), chứ không phải vật tồn tại, khách thể (seinde), mà tồn tại thì chỉ có con người là hiểu được, bởi con người nêu ra vấn đề ý nghĩa của tồn tại. Ông gọi con người là Dasein - Tồn tại đó (Da nghĩa là đó, đây, này, cái có thể nhìn thấy trước mặt. Việt Nam có người dịch là Hữu đó, Trung Quốc dịch là Thử tại, tức tồn tại này. Trần Công Tiễn dịch là hiện hữu, cái hữu hiện đó. Cái tồn tại đó khác các vật tồn tại khác ở chỗ ngay từ đầu, nó đã cảm thấy mình ở đó, bị ném ở đó, và do đó mà khác với mọi vật. Sự tự cảm thấy mình đó gọi là hiện sinh - ex-sistenz. Do có năng lực tự nhận biết mình, biết ý nghĩa của tồn tại mình mà sự tồn tại được hiện ra. Không có con người thì tồn tại sẽ vô nghĩa. Chủ nghĩa hiện sinh xem sự tồn tại của con người là một hiện sinh, thực tồn (existenz/existence) và phân tích trạng thái hiện sinh đó [128]. Theo Lê Công Sự, thuật ngữ Existentialism (Chủ nghĩa hiện sinh), có gốc từ “Existence” có nghĩa là sự tồn tại hay hiện hữu, nhưng không phải là sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng vật lý hay sự tồn tại của sinh vật mà là sự tồn tại của con người” [130].

 

Như vậy, đi tìm một định nghĩa đầy đủ về chủ nghĩa hiện sinh là rất khó “vì nó là trào lưu vào loại phức tạp nhất, được diễn đạt dưới dạng tư tưởng phi lý, bằng loại tư duy và từ vựng còn xa lạ nhiều với chúng ta” [127, tr. 219]. Chủ nghĩa hiện sinh nghiên cứu về con người đang hiện hữu, đang sinh hoạt vật chất và đầy cảm xúc sinh học.

 

Theo 150 thuật ngữ văn học, “Chủ nghĩa hiện sinh là khuynh hướng triết học hình thành trước Thế chiến I ở Nga (L. Lshestov, N.A. Bedyaev), sau Thế chiến I ở Đức (M. Heidergger, C. Japer, M. Buber), trong thời kỳ Thế chiến II ở Pháp (J.P. Sartre, Merleau-Ponty, A. Camus, S. de Beauvoir), sau đó phổ biến ở các nước khác tại châu Âu và ở Hoa Kỳ [17, tr. 75]. Bắt đầu là hiện tượng học thuần túy của Husserl, tiếp đến là hiện tượng học hiện sinh của M. Heidegger và sau đó là triết học hiện sinh của J.P. Sartre. Các nhà triết học đã cái nhìn mới về con người với cách chủ thể trong quan hệ với khách thể. Triết học hiện sinh đã xuất hiện như là triết học nhân sinh trong bối cảnh đổ vỡ và khủng hoảng trên nhiều lĩnh vực của đời sống ở phương Tây. Triết học hiện sinh mặc dù đã tiếp thu những quan điểm cơ bản của hiện tượng học, nhưng nó đã phát triển những quan điểm đó thành một học thuyết có ý nghĩa nhân văn sâu sắc về con người, nó kêu gọi con người chủ động dấn thân và nhập cuộc để vượt lên những lo âu và bất an thường trực thế giới phi lí, nơi con người từ khi bị sinh ra đã phải nhận bản án là “sẽ phải chết như một con chó” (ý của Kafka trong tác phẩm Vụ án). Triết học hiện sinh cho thấy nỗi lo âu và sự tha hóa là những hiện tượng đi cùng với nhau, cùng tăng lên hoặc giảm đi trong quá trình lịch sử nhân loại. Xã hội hiện đại đang phát sinh những nỗi lo âu mới, bên cạnh nỗi sợ có nguồn gốc tự nhiên đã xuất hiện nỗi sợ có nguồn gốc xã hội do mối quan hệ giữa người với người ngày càng xấu đi. Mỗi khi thế giới thay đổi thì cái sinh tồn cũng thay đổi theo.

 

Trong chủ nghĩa hiện sinh, triết học được khảo sát như một lĩnh vực nhận thức gần với sáng tác nghệ thuật và khác với khoa học. Nhận thức duy lý được coi là bất cập đối với hiện sinh (esistenia) của con người. Các đại diện của chủ nghĩa hiện sinh nhiều khi trình bày quan điểm của mình không phải dưới hình thức những luận văn có cấu tạo hệ thống hóa mà là dưới hình thức tác phẩm nghệ thuật, như tiểu thuyết, kịch... hoặc thông qua việc phân tích sáng tác nghệ thuật. Chủ nghĩa hiện sinh được xem là triết học của sự khủng hoảng bởi nó ra đời vào thời kỳ của những chấn động và tai biến xã hội. Chủ nghĩa hiện sinh có phái hiện sinh hữu thần và hiện sinh vô thần. Nhánh vô thần có sự thừa nhận Thượng đế đã chết, sự tồn tại của con người đã mất hết ý nghĩa. Nhánh hữu thần cho rằng chính nghệ thuật là cái sáng tạo ra nội dung nhân loại cho thế giới. Điểm gặp gỡ của các nhánh hiện sinh là “có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể cá nhân con người - không chỉ đơn thuần là chủ thể tư duy mà còn là chủ thể hành động, cảm nhận và sống [158].

 

Trong văn học, chủ nghĩa hiện sinh chỉ bộc lộ rõ rệt như một trào lưu ở Pháp thời kỳ trước và trong thế chiến II (1939 - 1945) và thời kỳ ngay sau chiến tranh. J.P. Sartre đã đưa chủ nghĩa hiện sinh đến với nhiều người trên thế giới.

 

Với công trình nghiên cứu “Hành trình khám phá triết học phương Tây”, William F. Lawhead đã nghiên cứu rất kĩ về các nhà hiện sinh như S.Kierkegaard - Người sáng lập hiện sinh tôn giáo, F. Nietsche - người sáng lập chủ nghĩa hiện sinh thế tục. Công trình nghiên cứu của William F. Lawhead đã diễn giải khá tường tận về tưởng, quan điểm của các nhà hiện sinh từ hữu thần đến thần các nhánh hiện sinh khác” [92, tr. 12]. Chủ nghĩa hiện sinh quan tâm đến thân phận con người. Con người sinh ra không bản chất sẵn có, tự con người tạo nên chính nó. Chủ nghĩa hiện sinh quan tâm nhiều đến con người bản thể, soi chiếu vào chiều sâu với nhiều chiều kích bên trong phức tạp, ẩn. Triết học hiện sinh triết học về con người. Đây được xem là một “nhân bản thuyết”. Với thuyết hiện sinh “nó coi trọng tính độc đáo tuyệt đối của con người vị trí quan trọng, hàng đầu” [113, tr. 23].

 

Chủ nghĩa hiện sinh được du nhập nhiều vào các nước phương Đông trong đó có Việt Nam và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần xã hội cũng như văn học ở các nước này. Ở nước ta, có thể nói chủ nghĩa hiện sinh được du nhập sớm hơn cả cũng như đã thực sự tạo dựng ảnh hưởng sâu rộng quy mô xã hội là ở miền Nam. Huỳnh Như Phương đã dựng lại diễn trình du nhập của chủ nghĩa hiện sinh tại miền Nam trong “Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954 - 1975 (trên bình diện lý thuyết)”. Theo ông, “Để chọn một lý thuyết triết học và mỹ học được du nhập và có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong lý luận và sáng tác văn học ở miền Nam Việt Nam những năm 1954 -1975, có lẽ nhiều người sẽ không ngần ngại chọn chủ nghĩa hiện sinh. Ảnh hưởng đó thể hiện ở chỗ đây là trào lưu, tuy lúc đậm lúc nhạt, nhưng đã hiện diện gần như trọn cả một giai đoạn lịch sử đen tối và phức tạp. Ảnh hưởng đó thể hiện cả trên bình diện lý luận lẫn trên bình diện sáng tác, cả trong giới chuyên môn lẫn trong độc giả phổ cập, cả trong nhà trường lẫn ngoài nhà trường” [117, tr. 162]. Trong công trình này, Huỳnh Như Phương một mặt vừa tuân theo diễn biến lịch đại, một mặt vừa điểm chọn những trường hợp đại diện, đồng thời ông cũng không quên dừng lại bình luận. Ông viết “chủ nghĩa hiện sinh, đến một cách muộn màng từ quê hương của nó sau gần hai thập kỷ, càng ngày càng lôi cuốn một bộ phận lớn trí thức ở đây. Đáp ứng niềm say mê của bạn đọc đối với chủ nghĩa hiện sinh, những tờ tạp chí lúc đó như Đại học, Sáng tạo, Văn, Bách khoa… đều có những bài viết hay số báo đặc biệt về trào lưu triết học và văn học này cùng những tác giả của nó như J.P Sartre, A. Camus… Hỗ trợ có hiệu quả cho việc tìm hiểu và nghiên cứu đó là nỗ lực dịch thuật ngày càng sâu rộng những đứa con tinh thần của các tác gia hiện sinh. Về lý thuyết là các công trình của F. Nietzsche, K. Jaspers, M. Heidegger, J.P. Sartre… Về sáng tác là tiểu thuyết, kịch bản văn học của A. Camus, J.P. Sartre, S. de Beauvoir, F. Sagan…” [117, tr. 163]. Sau khi giới thiệu thời điểm du nhập và các tên tuổi đại biểu của chủ nghĩa hiện sinh tại miền Nam như trên, tác giả lần lượt điểm thuật những đại diện trí thức, nhà văn miền Nam đã tham dự vào công cuộc giới thiệu thực hành hiện sinh luận tại miền Nam. Một trong những tên tuổi lớn nhất được nhắc đến đầu tiên là Trần Thái Đỉnh.

 

Trần Thái Đỉnh với Triết học hiện sinh tập hợp một loạt bài giới thiệu về chủ nghĩa hiện sinh công bố trong quãng thời gian từ tháng 10 năm 1961 đến tháng 9 năm 1962 tại miền Nam. Công trình cho thấy cái nhìn tổng quan của tác giả về chủ nghĩa hiện sinh. Tác giả đã đưa ra quan niệm về hiện sinh của các nhà hiện sinh tiêu biểu, nhấn mạnh nội dung cơ bản của triết học hiện sinh là quan niệm con người như một nhân vị độc đáo tự do. “Nội dung của triết học hiện sinh là con người, con người có xương thịt đang hoạt động hàng ngày trong xã hội. Con người ở đây là tôi là anh, là chúng ta hết thảy và từng người” [40 tr. 24]. Qua công trình Triết học hiện sinh, Trần Thái Đỉnh khẳng định hiện sinh với tư cách là một phạm trù triết học được manh nha từ những tên tuổi lớn. Socrate là nhà triết học đầu tiên đã quan tâm đến bản thể con người với phương châm nổi tiếng “Hãy biết bản thân ta” [40, tr. 24]. Pascal tư duy về con người trong tình trạng bất an với tư cách một cá nhân cụ thể và một toàn thể khi con người ý thức về sự liên quan của nó với những cực đoan đối lập trong thế giới [28, tr. 25]. Pascal đã đưa ra kết luận về mối quan hệ giữa con người và thiên đàng hay địa ngục chỉ có một cuộc sống duy nhất và đó là thứ mong manh nhất trong vũ trụ. Chính vì vậy, con người luôn sống trong sự bất an. Triết học hiện sinh kế thừa tư tưởng từ rất nhiều tên tuổi trong quá khứ ở Anh như Bacon, Hobbes, Looke, Berkeley nhất là David Hume. Ở Đức có các nhà triết học như Kant, Fichte, Scheling, Hegel và cả Mark… Chủ nghĩa hiện sinh gắn với tên tuổi của một số tác giả tiên phong như Heidegger, Sartre, Jacpers (Đức), Marcel (Pháp), Chestow và Berdiaev (Nga)… xuất hiện sau Chiến tranh thế giới thứ II.

 

Trần Thái Đỉnh chỉ rõ một số trường phái của chủ nghĩa hiện sinh. Trước hết là trường phái hiện sinh hữu thần với đại diện là Kierkegaard - triết gia người Đan Mạch. Đối với ông, điều quan trọng trong cuộc đời là có một Thiên Chúa.

 

Suy nghĩ trọng tâm của Kiekegaard là cái cá nhân. Ông quan niệm rằng “mỗi cá nhân không có trung tâm nào khác hơn chính mình” [127, tr. 225]. Và muốn là chính mình, cần nhận ra sức mạnh của Người đã thiết định nên đó là Thiên Chúa. Hãy đến với Chúa, con người sẽ tìm thấy ý nghĩa cuộc sống. Ông là một tín đồ Cơ đốc giáo, đối với ông, chặng đường đời cuối cùng của con người là trở về với Chúa. Sống một mình với Thiên Chúa mới là cuộc sống đầy đủ ý nghĩa của một nhân vị độc đáo. Ông nhấn mạnh tính chủ thể và tính nội tâm đến mức rơi vào cực đoan. Trọng tâm suy tư và triết học của Kiekegaard là khái niệm “tồn tại”, muốn đi tìm chân lý của tồn tại mà triết học truyền thống chưa đạt tới. Ông quan tâm những câu hỏi truy vấn: Tôi là ai? Tôi đến đây từ đâu? Tôi có mặt trong thế giới này như thế nào? Trong tư tưởng của Kiekegaard, sự lo âu trở thành một khái niệm quan trọng. Ông thường dùng các khái niệm như nội tâm cá tính, cảm xúc, đam mê để miêu tả hiện sinh người. Ông phủ nhận chân lý khách quan... Thứ hai là trường phái hiện sinh vô thần với đại diện là Nietzsche - triết gia người Đức. Ông được coi như “người tiền bối của chủ nghĩa hiện sinh vì nhấn mạnh vai trò cá nhân, nhấn mạnh sự vươn tới, sự tự do lựa chọn của cá nhân, nhấn mạnh bản năng đối với lý trí” [127, tr. 243]. Ông không đồng tình với các tôn giáo và luân lí cổ truyền về tội miệt thị những giá trị hiện sinh, khiến cho con người sống trong sự bi quan bạc nhược trong tinh thần, khiến con người sống mà như chết. Theo ông, những tư tưởng không gắn với cuộc sống hiện sinh thực tại thì thà đừng sống nữa. Sống chối bỏ cuộc hiện sinh là một cuộc sống thừa, một cuộc sống câm, thực chất đó là cách chờ chết chứ không phải là sống. Trái lại, Nietzsche lấy những giá trị hiện sinh và các triết thuyết mà giúp con người phát triển khả năng vô  tận của hiện sinh. Triết học hiện sinh của Nietzsche “gớm ghét tất cả mọi hình thức tôn giáo và coi tôn giáo là hình thức hiện sinh nô lệ” [39, tr. 134]. Hiện sinh của ông cũng như Sartre là hướng vào cuộc sống thực tại chứ không hướng về Thượng đế hay mai sau. Giá trị đời sống không tự nhiên mà có. Điều đó do con người chủ thể hiện sinh đặt ra cho nó. Tuyên ngôn của ông là “Hãy luôn luôn trở nên chính mình anh, hãy là chủ nhân ông và là nhà điêu khắc để tạc nên chính mình anh” [117 tr. 136]. Trong xã hội có bộ phận lớn vẫn sống trong cảnh nô lệ tinh thần, sống như vậy còn đáng khinh bỉ và đáng thương hơn cảnh nô lệ thân thể nhiều nên Nietzsche mong muốn con người phải vượt lên trên cái thông thường ấy. Ông muốn con người phải tự chủ, dùng cuộc đời mình để thể hiện quyền tự chủ. Khi anh tự chủ tự quyết được thì con người xứng đáng là người hùng, siêu việt. Muốn là người hùng thì phải có cái nhìn khác biệt về vũ trụ. Vì vũ trụ do cái nhìn của ta tạo nên. Muốn là người hùng thì phải có tính độc lập, tự chủ độc đáo thậm chí dám sống cô độc chứ không sống theo quan niệm dân chủ của quần chúng. Đó là lối sống của bọn nhu nhược tầm thường. Khi sống tự chủ con người không tránh khỏi cô đơn. Theo ông, con người cần hãnh diện với sự cô đơn đó. Cô đơn giúp người quân tử, người anh hùng tách ra khỏi đám đông quần chúng tầm thường. Cô đơn được xem là nhân đức đưa con người tới chỗ cao thượng. Không chỉ có người hùng, tưởng của ông còn đề cao con người siêu nhân. Đó con người biết xấu hổ khi nhìn vào những gì mình làm được và không nên tự bằng lòng thỏa mãn mà luôn nỗ lực vươn lên. Con người siêu nhân cần tự giác hành động. Sự xuất hiện của Nietzsche được cho là như một cơn bão táp kinh thiên động địa tạo nên sự rung động ghê sợ lay tỉnh toàn nhân loại.

 

Đại diện nổi bật tiếp theo trong nhánh hiện sinh vô thần cần phải nói đến là J.P. Sartre, một trong bốn triết gia được biết đến nhiều nhất trong nền hiện sinh. Ông quan niệm triết học cũng như cuộc sống luôn vận động. Con người không phải là một cái gì thiết yếu. Nó là một cái gì thừa thãi với sự bất lực của lý trí. Lý trí của con người bất lực trong việc tìm hiểu vận mệnh của mình. Do đó cần phải sống theo tiếng gọi sâu thẳm của tâm hồn, tiếng gọi mà Pascal gọi là tiếng nói của con tim, sự nhảy vọt của con người. Con người phải nỗ lực tuyệt đỉnh để tạo nên cuộc đời của mình bằng cách tiến vượt, nhảy vọt, hàng giây, hàng phút, mặc dầu là nhảy vọt vào hư vô, sự phóng thể. Con người không thể làm chủ được mình, không tự làm chủ được cuộc đời mình. Đời người có giới hạn, thần chết lại vội vã. Sự thật đầy bi đát của cuộc sống đó là sinh ra để rồi chết đi. Sự cô độc và bí mật. Con người có xu hướng sống đơn độc và chết cô độc.

 

Sau Trần Thái Đỉnh có khá nhiều tác giả quan tâm và tìm cách giới thiệu chủ nghĩa hiện sinh: Phạm Công Thiện, Ngô Trọng Anh, Lê Tôn Nghiêm, Lê Thành Trị, Nguyễn Văn Trung, …vv… Nói đến “chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam, cần phải dành một chỗ quan trọng cho Nguyễn Văn Trung, không chỉ vì ông là một trong những giáo sư triết học viết nhiều về trào lưu này mà còn vì các tác phẩm của ông có một tiếng vang lớn trong những năm tháng đó. Có thể nói Nguyễn Văn Trung là nhịp cầu chính dẫn chủ nghĩa hiện sinh đi vào xã hội miền Nam và toả ra đến tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên” [117, tr. 186].

 

Trong các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh cần phải nhắc đến bản dịch Hiện sinh - một nhân bản thuyết của dịch giả Thụ Nhân. Cuốn sách đã thể hiện trung thành những lời biện luận của J.P. Sartre dành cho chủ nghĩa hiện sinh rằng thuyết hiện sinh là một thuyết yêu đời, thuyết hiện sinh không mang tư tưởng vô vi vì nó định nghĩa con người bằng hành động của chính họ, thuyết hiện sinh không hề bi quan vì nó khẳng định vận mệnh của con người nằm trong tay của con người, rằng con người chỉ có thể hi vọng vào hoạt động của chính bản thân mình.

 

Từ sau ngày giải phóng miền Nam, bẵng đi một thời gian cả hàng thập niên, đề tài chủ nghĩa hiện sinh dường không còn được nhắc đến bao nhiêu. Ở mức chuyên khảo phải đợi đến mốc 1986. Có thể nhắc đến cuốn sách Về tư tưởng và văn học phương Tây hiện đại (Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1986) của Phạm Văn Sĩ. Sách đã giành toàn bộ chương ba từ trang 219 đến trang 336 để bàn về chủ nghĩa hiện sinh. Tác giả cho rằng chủ nghĩa hiện sinh là trào lưu tư tưởng vào loại phức tạp nhất, nó lại được diễn đạt dưới dạng tư tưởng phi lý, bằng loại tư duy và từ vựng còn xa lạ nhiều với chúng ta. Tác giả cũng nêu nguyên nhân ra đời, các trường phái, các tác giả tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh. Tác giả nhấn mạnh mối quan hệ giữa chủ nghĩa hiện sinh và chủ nghĩa chủ quan phi lý. Ông cho rằng “người hiện sinh chủ nghĩa muốn coi tính chủ thể như là nguồn cội duy nhất, là kho tàng đầu tiên và cuối cùng mà mỗi cá nhân có thể khai thác” [127, tr. 247]. Tác giả bàn về các quan niệm về tự do, dấn thân của chủ nghĩa hiện sinh. Theo tác giả, tự do của chủ nghĩa hiện sinh là tự do lựa chọn, “Tôi lựa chọn ấy là tôi tồn tại” (K. Jasper). Tác giả cũng cho rằng người hiện sinh chủ trương nhập cuộc, ném mình vào cuộc sống để tạo nên bản chất của mình Nguyễn Hào Hải trong công trình Một số học thuyết triết học phương Tây hiện đại (2001) đã giành chương 3 từ trang 149 đến trang 223 để bàn về chủ nghĩa hiện sinh. Tác giả bàn về bối cảnh, nguồn gốc ra đời của chủ nghĩa hiện sinh. Theo tác giả, yếu tố đưa đến khả năng xuất hiện chủ nghĩa hiện sinh là nguồn gốc bản thể luận, cơ sở nhận thức luận, hiện tượng luận của Husserl. Trong đó, tác giả nhấn mạnh yếu tố nhận thức về vai trò của lý tính khoa học. Khoa học và lý tính bị tố cáo là sai lầm vì đã xem con người như một khách thể vật lý thuần túy trong thế giới vật chất và không thấy được vị thế đặc biệt độc đáo của tồn tại người [48].

 

Một trong số ít những nhà văn, nhà phê bình nổi tiếng sinh trưởng tại miền Nam, tu nghiệp tại Pháp mà sau hồi đất nước thống nhất, đặc biệt là sau thời kì Đổi mới có sách xuất bản tại Hà Nội là Trần Thiện Đạo. Năm 2001, Nhà xuất bản Văn học xuất bản cuốn Chủ nghĩa hiện sinh & Thuyết cấu trúc. Tuy nhan đề là “Chủ nghĩa hiện sinh” nhưng thực tế tác giả dành giới thiệu đại biểu vĩ đại của triết thuyết này - J.P. Sartre. Ông viết: “Chủ nghĩa hiện sinh trình bày sự hiện sinh, l'existence, như một hiện tượng đối lập với bản chất, l'essence, vốn hết sức mù mờ, đổi thay, thay đổi không ngừng; sự hiện sinh do ngẫu sinh, contingence, mà ra, nghĩa là có đó vậy thôi, có một cách vô cớ, không bao hàm một ý nghĩa tiên nghiệm nào, và không được biện minh bởi một bản chất có sẵn nào. Chủ nghĩa hiện sinh đã được chính Jean - Paul Sartre tóm tắt định nghĩa bằng một câu đọng: Hiện sinh trước bản chất [34, tr. 18]

 

Đoạn văn trên còn có một chú thích của chính tác giả. Vì tầm quan trọng của nội dung của nó chúng tôi xin trích dẫn kèm đây cả chú thích (ngoại trừ phần tiếng Pháp): “Chủ nghĩa hiện sinh khẳng định rằng ở con người - và chỉ ở con người thôi - sự hiện sinh có trước bản chất. Câu này có một ý nghĩa giản dị là con người trước hết là có đó rồi chỉ sau đó mới là thế này hay thế nọ. Tóm lại, con người phải tự tạo ra cho mình chính bản chất của mình (Jean - Paul Sartre, trong tạp chí Action, Hành động 29-XII-1944)”.

 

Diễn giải trên đây càng cho thấy mối liên hệ tự nhiên, khăng khít giữa một triết thuyết và bản thân hoạt động nghệ thuật nói chung, sáng tác văn chương nói riêng. Vì rằng, khác với khoa học tự nhiên tìm hiểu “bản chất” vật vô tri, nghệ thuật chỉ là sự biểu hiện trực tiếp hình tượng con người trong sống - tức con người có đó hiện sinh. Thậm chí, xuất phát từ tinh thần định nghĩa “hiện sinh” của J.P Sartre, ta dường như còn thấy trong văn chương, trữ tình thơ ca còn “hiện sinh” hơn cả tự sự  tiểu thuyết.  Vì thơ là sự tự giãi bày trực tiếp cảm thức cuộc sống, làm thơ hay rung động trữ tình đó chính là hiện sinh…, khác với tự sự tiểu thuyết dù sao cũng là một sự hồi cố, hoặc là một giả định tương lai và quá trình kể chuyện ít nhiều cũng nhắm tới phát hiện lại “bản chất” cuộc đời.

 

Ở Việt Nam có các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài được dịch ra tiếng Việt như Chủ nghĩa hiện sinh của Jacques Colette (do Hoàng Thạch dịch, Nxb Thế giới, 2011) [75]. Tác phẩm đề cập các chủ đề hiện sinh như tự do, siêu việt, thời gian, … và giới thiệu về lý thuyết và thực hành suy tư qua các tác giả tiêu biểu như Kiekegaard, Marcel, Jaspers, Husserl, Heidegger, Sartre, Merleau-Ponty. Trong công trình này, tác giả cho rằng triết học hiện sinh là triết học về sinh tồn. Con người căn cứ vào khả năng tồn tại riêng của mình con người biết rõ chính mình làm nên giá trị hiện sinh cho chính mình, tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của chính mình.

 

Trong công trình Giáo trình hướng tới thế kỷ XXI - Triết học phương Tây hiện đại của Lưu Phóng Đồng, tác giả đã trình bày khái luận về chủ nghĩa hiện sinh và phân tích tư tưởng của các nhà triết học hiện sinh như M. Heidegger, K. Jaspers, J.P. Sartre. Qua công trình tác giả nhấn mạnh những nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh. Đó là những mâu thuẫn xã hội và cuộc khủng hoảng của chế độ tư bản chủ nghĩa và hiện tượng tha hóa nghiêm trọng bắt đầu từ thế kỷ XX.

 

Thuộc vào loại tài liệu dịch quan trọng, có tính cách tổng kết khái quát hóa về chủ nghĩa hiện sinh, được công bố trở đi trở lại trên vài trang web lớn, có tác dụng giới thiệu, dẫn giải cập nhật đối với giới học thuật, có thể kể đến bài “Đôi nét về chủ nghĩa hiện sinh” của học giả Gordon E. Bigelow do Cao Hùng Lynh dịch, vừa được đăng lại trên Phebinhvanhoc.com.vn ngày 7/6/2021 [46]. Tác giả bài viết nói rõ ngay từ đầu mục đích bài viết: “Hoá ra, hiện sinh lại đóng một vai trò rất mực quan trọng đối với văn chương và nghệ thuật, đối với triết học và thần học, và ngày càng quan trọng hơn đối với các lãnh vực khoa học xã hội. Thế nên, nơi đây, tôi muốn cung cấp một điều gì đó được coi là hiển nhiên trong hầu hết các cuộc luận bàn về chủ nghĩa hiện sinh, một sự trình bày giản lược về các đặc điểm căn bản của chủ thuyết này. Đây quả thực là một hành động khinh suất, bởi vì có nhiều loại hiện sinh, và những gì người ta nói về loại này lại có thể không đúng với loại kia; tuy nhiên, vẫn có một lãnh vực đạt được sự đồng thuận, và đây chính là điểm chung mà tôi muốn trình bày” [46]. Tác giả đã tổng kết và lí giải 6 nét đặc trưng tổng quát của trào lưu hiện sinh: 1) Hiện sinh có trước  bản chất (existence precedes essence); 2) Lý trí luôn bất lực khi đề cập đến chiều sâu của đời sống con người; 3) Sự xung khắc với đấng tối cao hay niềm tin; 4) “Run sợ” và âu lo; 5) Đối diện với hư vô; 6) Lý tưởng tự do. Tác giả đề cập lại một lần nữa tinh thần của nhận thức về hiện sinh trong những lời hết sức cô đúc: “Sở dĩ được gọi là chủ nghĩa hiện sinh là vì chủ nghĩa này nhấn mạnh rằng đời sống nhân loại chỉ có thể hiểu được thông qua sự hiện sinh của cá nhân, tức là thông qua kinh nghiệm riêng biệt của anh ta về cuộc đời. Người ta sống, chứ không phải tồn tại, trong mỗi phút giây, và kinh nghiệm về cuộc sống của mỗi người luôn có tính chất độc đáo, khác biệt hoàn toàn với kinh nghiệm của mọi người, và chỉ có thể được hiểu đúng thông qua sự dấn thân của anh ta vào cuộc sống” [46].

 

Thấu hiểu điều trên là điều thực sự có ích cho việc tìm hiểu khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại. Luận giải của tác giả ở đoạn trên cho thấy chỉ có văn chương là biểu hiện, phản ánh tốt nhất, đáng tin nhất điều đó. Đó là lý do mà các chủ nghĩa hay triết thuyết khác có thể chỉ cần trình bày thẳng các biểu hiện tư tưởng, hoặc cùng nữa để cho sinh động - mượn văn chương. Trong lúc với chủ nghĩa hiện sinh thì bản thân văn chương nói chung, thơ ca nói riêng chính là sân vườn của chính triết thuyết này.

 

Trong diễn giải về đặc trưng thứ hai của hiện sinh, chúng ta thấy mối liên hệ tự nhiên, ý nghĩa tất yếu của mối liên hệ đó giữa tinh thần hiện sinh và nghệ thuật. Hiện sinh cho thấy lý trí luôn bất lực khi đề cập đến chiều sâu của đời sống con người: Chủ nghĩa hiện sinh trong thời đại chúng ta, đây là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của nó, nhất mực thống nhất phần “thấp kém”, phần phi lý trí của tinh thần, với phần “cao cả”. Nó khẳng định rằng con người phải được thừa nhận trong thực thể trọn vẹn của anh ta, chứ không phải trong một tình trạng phân chia nào đó, đồng thời nó cũng đòi hỏi rằng con người trọn vẹn không chỉ hàm chứa tri thức, mà còn cả những âu lo, tội lỗi và ước vọng quyền lực - những thứ làm biến đổi, và đôi khi, lấn át chính lý trí. Con người được nhìn thấy dưới quan niệm này là một con người, về cơ bản, hết sức mơ hồ, nếu không nói là huyền bí, đầy rẫy những vấn đề mâu thuẫn và căng thẳng tiềm ẩn, những vấn đề không thể giải quyết một cách đơn giản bằng tư duy”. Nó như đồng nghĩa với việc nêu cao một thông điệp cho rằng con người không thể chỉ sống nổi với triết học và khoa học, mà cơ bản là bằng văn chương, đặc biệt là văn chương hiện sinh.

 

Diễn giải về đặc trưng thứ ba của hiện sinh luận càng làm cho chúng ta thấy rõ hơn liên hệ tất yếu cũng như tính cách thời sự của những vấn đề văn chương hiện sinh ngày nay. Theo các nhà hiện sinh, “các thế lực chính của lịch sử, kể từ thời kỳ Phục hưng, đã không ngừng tách con người ra khỏi cuộc sống trần thế, buộc anh ta phải sống theo những tiêu chuẩn trừu tượng cao cả, tập thể hoá con người cá nhân, đưa Thượng đế ra khỏi thiên đàng và trái tim của con người. Con người hiện đại đang sống trong tình trạng xung khắc với Thượng đế, với thiên nhiên, với người khác và với chính mình. Sự xung khắc với Thượng đế được thể hiện qua tiếng kêu thống thiết của Nietzsche: “Thượng đế đã chết” một tiếng kêu âm vọng mãi trong những tác phẩm của các nhà hiện sinh, đặc biệt là các tác giả Pháp quốc. Đề tài về sự trống vắng tâm linh là một đề tài thường gặp trong văn chương của thế kỷ này” [46].

 

Nếu thay thế hai chữ “Thượng Đế” trong phân tích trên bằng từ niềm tin hay lý tưởng thì chúng ta cũng thấy một âm vọng tương tự trong văn học Việt Nam đương đại - Tín điều đã chết. Các nghệ sĩ ít nhiều đều cảm thấy “sự trống vắng tâm linh”. Hoặc để đúng hơn với thực tiễn văn học Việt Nam đương đại, ta có thể viết lại câu đó thành “sự trống vắng trong/của tâm linh”. Những đặc trưng cơ bản trên thế tất dẫn đến các cảm giác “Run sợ” - Âu lo (Worry), chạm trán với hư vô và khát vọng tự do. Hoàn toàn có thể nói, đó đều là những biểu hiện của khuynh hướng hiện sinh trong văn chương nói chung, thơ ca đương đại Việt Nam nói riêng.

 

Tác giả Goron E. Bigelow cũng đã kết lại bài viết với một ý hết sức sắc sảo và không kém phần ý vị. Chính kết luận này đã cổ vũ chúng tôi mạnh dạn đến với đề tài luận án, đặc biệt là thêm cơ sở lý luận cho việc triển khai chương 4 - Những đặc điểm chính của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại nhìn từ hình thức nghệ thuật. Có thể nói, “khi nào một người không mong tìm thấy tất cả những đặc điểm của chủ nghĩa hiện sinh như vừa được mô tả trong một nhà văn riêng biệt nào đó, thì khi ấy, anh ta sẽ biết rằng một số trong các lối thể hiện nổi bật nhất của chủ nghĩa hiện sinh trong văn chương và nghệ thuật thường đến với chúng ta một cách gián tiếp, thông qua các biểu tượng, hoặc thông qua những sự cách tân hình thức thể hiện truyền thống […]. Lối thể hiện như thế trong văn chương không nhất thiết có nghĩa rằng những tác giả ấy là lý thuyết gia của chủ nghĩa hiện sinh, hoặc họ đã biết nhiều đến các tác phẩm của những lý thuyết gia loại ấy […]. Một trong những điểm lôi cuốn, và cũng là một trong những điều nguy hiểm, của các đề tài hiện sinh là: mỗi khi người ta bắt đầu tìm kiếm chúng, thì chúng có mặt khắp mọi nơi. Nhưng nếu anh ta áp dụng chúng một cách dè dặt và hạn chế, thì lại phát giác ra rằng chúng soi sáng phần lớn nền văn chương đương đại, và đôi khi nền văn chương của quá khứ nữa” [46].

 

Như vậy, các công trình nghiên cứu đã cho thấy tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh về hiện hữu của con người. Hiện hữu có trước bản chất. Lí trí không thể lý giải hết được chiều sâu cuộc sống của con người. Con người luôn đối diện với cô đơn, âu lo vì con người luôn vươn tới tự do để khẳng định nhân vị.

 

Các nhà nghiên cứu cũng bàn về các phạm trù cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh như: Cái bản thể, buồn nôn, cô đơn, phi lý, dấn thân, dục tính... Nội dung cốt lõi của triết học hiện sinh được cho là biểu hiện ở sự coi trọng sự hiện diện của cá nhân, sự cảm thụ chủ quan, sự thể hiện tâm lý có tính chất phi lý của cá nhân hay là cái bản thể của con người. Các nhà hiện sinh quan niệm con người là một hữu thể đang tồn tại, đang sống đích thực và chỉ có con người mới hiện sinh. Hiện sinh quan tâm đến sự tồn tại tinh thần của nhân vị. Chỉ có đặt trong cảnh ngộ đau khổ, cô đơn, tuyệt vọng thì con người mới có thể trực tiếp, cảm nhận được sự tồn tại của chính mình chứ không thu nhận được bằng khoa học dựa trên lý tính. Chủ nghĩa hiện sinh khẳng định cái tôi bản thể gắn với sự tự do, tự do là bản chất của hiện sinh cá nhân. Mặt khác, chủ nghĩa hiện sinh quan niệm cuộc đời là phi lý, là buồn nôn. Cuộc đời con người là phi lý, hư vô. Albert Camus cho rằng tự con người không phải phi lý. Sự phi lý xuất hiện thông qua sự không tương thích giữa con người và thế giới mà họ sống. Sự phi lý còn xuất hiện bởi hành động của con người khi vươn tới tự do. Cuộc sống hiện sinh chứa đầy những cái vô nghĩa, phi lý mà Sartre gọi là “buồn nôn”.

 

Buồn nôn khi chỉ thấy cuộc sống lặp lại những cái chán nản, thừa thãi, phi lý của vạn vật. Nhân vật Roquentin của Camus có cảm giác xa lạ và khó chịu không chỉ với xung quanh mà cả với chính mình. Sự chán nản khó chịu của nhân vật chính là sự thức tỉnh” trước cái phi lý của hiện hữu, hàm chứa ý nghĩa phê phán thực trạng của xã hội tư sản. Buồn nôn khiến con người cần thiết phải tỉnh ngộ để nhận ra giá trị cuộc sống của chính mình. Và đó là nguyên nhân con người sống trong ưu tư lo âu. Tuy nhiên nó không mang ý nghĩa đấu tranh xã hội như trong văn học hiện thực. Văn học hiện sinh không phản ánh hiện thực mà chỉ suy ngẫm về hiện thực. Như vậy, sự buồn nôn của con người chính là sự ý thức về tình trạng đáng buồn, đáng âu lo trước thực  tại phi lý và cảm giác về sự vô vị của cuộc sống. Đó là “cái cảm giác buồn nôn chóng mặt khi nó chợt nhận ra cái thân phận đáng buồn của nó trong cái thế giới luôn xa lạ với nó” [127, tr. 294].

 

Đỗ Đức Hiểu lí giải “Buồn nôn là trạng thái trầm tư có phê phán và phủ định toàn diện để con người nhận thức được thế giới và bản thân mình” [55]. Thế giới cuộc sống của con người ngẫu nhiên xuất hiện và mọi cái lại ngẫu nhiên mất đi không lí giải được điểm bắt đầu và điểm kết thúc. Kể cả mỗi một con người cũng xuất hiện ngẫu nhiên và ngẫu nhiên kết thúc. Khi hiểu ra như vậy con người sẽ từ giã quá khứ, quẩn quanh bởi những sự tầm thường để thoát ra khỏi thực tại, vươn tới một cái gì cao hơn mình. Đó là một quá trình đoạn tuyệt từ bỏ quyết liệt để vượt qua và vươn tới phía trước. Chính sự bừng tỉnh về nhận thức đã khiến con người được lay động, được đánh thức nguồn năng lượng sống mạnh mẽ và khao khát vươn tới với tự do nhân vị để khẳng định mình. Buồn nôn chính là sự ưu tư khi con người cá nhân nhận ra sự phi lí, sự vô vị của cuộc sống hiện tại đòi hỏi một sự thay đổi, từ bỏ cuộc sống trong quá khứ dấn thân vào cuộc sống mới tích cực hơn. Vậy để thoát khỏi sự tha hóa (degeneration) buồn nôn buộc con người phải sống có ý thức như một nhân vị, phải đi tới hiện sinh trung thực. Điều đó lí giải được buồn nôn là thái độ triết học giúp con người vượt thoát khỏi sự tầm thường để vươn tới cuộc sống xứng đáng với con người.

 

Cùng với chủ đề buồn nôn là cảm thức về nỗi cô đơn và thân phận lưu đày. Triết học hiện sinh khẳng định tự do là nguồn gốc của âu lo, cô đơn. Con người hiện sinh âu lo vì biết rằng cuộc đời đầy bí ẩn còn nhiều điều chưa hiện ra rõ rệt. Cô đơn là một thái độ triết học mà con người không sợ hãi, không lẩn tránh, trái lại chịu đảm nhiệm bởi con người hiện sinh tự xác định do mình tạo ra sự cô đơn, tự mình tạo nên chính mình. Vì vậy, họ luôn sống trong sự mâu thuẫn trong bi kịch mang màu sắc bi quan [124, tr. 103]. Cũng theo Sartre, con người bị ném vào thế giới một cách phi lý và cô đơn: “Con người có ý thức về thân phận của nó trong thế giới. Con người bị ném vào trong thế giới như một cô đơn, không nơi nương tựa, nhưng con người có tự do, có dự định, dự định vươn tới, tự vượt lên nó, vượt qua bình diện sự vật để tự làm nên mình” [127, tr. 251].

 

Cuộc sống thực tại không đưa đến cho con người một chân lí nên con người luôn cảm thấy đau khổ. Khi đề cập nỗi cô đơn, con người hiện sinh thường nghĩ đến phạm trù cái chết (the death). Con người hiện sinh quan niệm cái chết gắn với nhân vị vì nếu cuộc sống là của riêng tôi thì cái chết cũng của riêng tôi, do tôi đảm nhận. Lo âu không chỉ là sự bất an tiêu cực mà còn là một sự hấp dẫn. Lo âu tuy khủng khiếp ghê sợ nhưng lại quyến rũ. Lo âu là bản chất của con người mở ra sự sáng tạo và là dấu hiệu của sự trung thực. Tuy nhiên cần phải hiểu cô đơn trong triết hiện sinh không chỉ hiểu theo quan niệm thường ngày cô đơn vì mình bị bỏ rơi, không được chia sẻ giãi bày, rơi vào trạng thái bế tắc hằn học. Nguyễn Tiến Dũng nhấn mạnh “Cô đơn không nên hiểu theo quan niệm thường ngày, đó là một thái độ triết học” [28, tr. 103]. Chính vì thế, người hiện sinh không lẩn tránh sự cô đơn mà là đảm nhiệm cô đơn. “Con người cô đơn vì tự mình làm nên mình, không sống theo một mẫu người nào cả. Con người cô đơn cho nên càng đau khổ, luôn sống trong tấn bi kịch của cuộc đời” [28, tr. 103]. Tuy nhiên, nỗi buồn hiện sinh khác với nỗi buồn bình thường ở chỗ “nỗi buồn hiện sinh không có nguyên nhân cụ thể như nỗi buồn thường nhật và mang tính vĩnh viễn” [113, tr. 37]. Đó là nỗi buồn của những con người nhận thức được giá trị cuộc sống bản thân, biết dấn thân vượt thoát khỏi cái cuộc đời tù túng và vô nghĩa bằng sự nỗ lực tự thân [113, tr. 37]. Triết học nhân bản xem cô đơn là một phương thức tồn tại của con người. Cô đơn hiện sinh được nghiệm ra trong mối quan hệ con người với con người, con người với chính nó. Nhận thức về cô đơn tức là nhận thức về tình trạng bản thân khi đang sống giữa cuộc đời. Cô đơn xuất hiện khi con người nhận ra sự độc đáo, bản thân mình là một giá trị, giá trị duy nhất và không thể lặp lại. Nỗi buồn lớn như dồn chứa trong khắp vũ trụ bao bọc bủa vây lấy con người. Con người hiện sinh khi càng ý thức được về thân phận mình càng thấm sâu nỗi cô đơn. Và chỉ mình con người tự đối diện với nỗi cô đơn không ai gánh vác thay điều đó cho con người.

 

Cô đơn hiện sinh mang yếu tố tích cực ở chỗ không làm con người trở nên yếu hèn ủy mị, ngược lại có sức mạnh giúp con người hiểu hơn về chính mình, đánh thức tiềm năng sáng tạo và bản lĩnh sống. Cô đơn được xem như một nghiệp dĩ của con người... Con người tự đảm nhiệm về mình cho nên cô đơn là một tất yếu. Tuy nhiên cô đơn hiện sinh chấp nhận sự tồn tại của người khác, của tha nhân và xem đó là điều kiện thiết yếu để nhận ra cô đơn bản thể. Bởi vì khi con người sống với người khác thì mới cảm nhận rõ hơn sự cô đơn của chính mình. “Ta cảm thấy cô đơn khi chỉ mình hiểu mình ở giữa những người khác. Vậy người khác là thiết yếu của cô đơn” [113, tr. 42]. Cô đơn theo quan niệm của Sartre luôn đặt con người trong mối quan hệ đa chiều. Con người hiện sinh nhận ra sự khác biệt với chính nó trong quá khứ, trong hiện tại và cả tương lai. Cái con người đang là trong hiện tại khác với cái con người trong quá khứ và tương lai sắp đến. Khi con người ý thức về sự cô đơn thì sẽ ý thức được trách nhiệm tạo nên chân lý cho mình. Chủ nghĩa hiện sinh xem cô đơn là điều kiện để con người vươn tới chân lý. Chân lý tạo ra trong quá trình chiêm nghiệm tự thân, không chịu ảnh hưởng của bất kỳ ai, bất kỳ điều gì. “Khi cô độc một mình, cá nhân mới có thể tiếp nhận, nhận biết và truyền đạt chân lý” [128, tr. 44]. Nỗi cô đơn đối với con người là tuyệt đối. Muôn đời con người luôn cảm thấy cô đơn. Cô đơn nảy sinh khi con người xung khắc với cuộc sống. Người cô đơn bị tách ra khỏi các mối quan hệ xã hội vốn lỏng lẻo.

 

Các nhà hiện sinh cho rằng “Cô đơn là điều kiện thể hiện bản chất đích thực của con người. Đó là vấn đề mấu chốt trong quan hệ của con người của chủ nghĩa hiện sinh” [113, tr. 25]. Con người hiện sinh không sợ cô đơn, không lảng tránh mà đảm nhiệm cô đơn, tự chịu trách nhiệm về sự cô đơn. Đó là phương thức tồn tại của con người. Cô đơn hiện rõ khi con người ý thức được giá trị của bản thân. “Một khi đã ý thức sâu xa về tính chất độc đáo hiện sinh của mình, con người tự cảm thấy cô đơn” [113, tr. 41]. Tiền đề cho sự cô đơn là khi con người nhận thức được sự độc đáo của bản thân. Nhà triết học M. Heidegger đã cho rằng con người tồn tại trong cuộc đời như những vật bị bỏ rơi, không hiểu gì về quá khứ, hiện tại không lí giải được và cũng mơ hồ về tương lai. Con người không được tự quyết cho số phận mình do vậy luôn đặt họ vào tình thế “vong thân” tức là bị đánh mất chính mình. Chính điều này khiến con người luôn cảm thấy lo lắng và bất an.

 

Cô đơn không phải là cô độc mà là khi ở giữa mọi người vẫn thấy mình cô đơn. Cô đơn ấy là tự tìm thấy sự khác biệt của mình giữa cuộc đời, ý thức được giá trị của bản thể. Con người cô đơn vì “Cuộc đời của đa số người là tầm thường, là buồn nôn” [40, tr. 41]. Điều đó khiến con người phải tỉnh ngộ và tự quyết, tự ý thức về bản thân mình là một nhân vị độc đáo. Và chỉ khi con người ý thức được về bản thân thì khi đó mới thực sự sống đúng với hiện sinh của mình. Cô đơn là bản chất người, cô đơn ngay cả khi ở giữa nhân quần, khi xung quanh con người có bao dáng vẻ và khuôn mặt của tha nhân. “Cô đơn được xem là định mệnh, là phức cảm tâm lý có sẵn từ trong tiềm thức nên nó gần như di truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [145 tr. 64]. Có khi con người đặt niềm tin vào một đấng siêu nhiên, một vị thần hộ mệnh che chở cho mình như đức Chúa. Nhưng khi họ nhận ra Chúa đã chết, họ càng thấm thía nỗi bơ vơ, lạc lõng. Đặc biệt, khi thời đại kĩ trị lên ngôi, con người cũng nhầm tưởng đó là chiếc đũa thần có thể giúp họ thoát nỗi cô đơn. Thực tế trong thời đại kĩ trị con người càng dễ dàng bỏ rơi nhau trong tất cả mọi mối quan hệ. Nỗi cô đơn khiến con người nhìn cuộc sống bi quan, bi thảm nhưng đồng thời cũng nhắc nhở đòi hỏi thức tỉnh con người luôn vươn tới những khát vọng tốt đẹp.

 

Những chủ đề trọng tâm trên đây của chủ nghĩa hiện sinh chính là cơ sở để luận án nhận diện và soi sáng những dấu ấn hiện sinh được biểu hiện trong tác phẩm thơ Việt Nam đương đại từ đó đi đến khẳng định sự hình thành, sự tồn tại của khuynh hướng hiện sinh trong đời sống thơ ca Việt Nam đương đại. Với văn học hiện sinh, cuộc sống con người được miêu tả như một thảm kịch, hư vô, vực thẳm mà con người luôn bị chơi vơi, lơ lửng, tựa như con người sa vào bế tắc, luôn có ý chí vùng vẫy để thoát ra bằng ý thức tự thân. Qua các cuộc chiến tranh, thân phận con người trở nên mong manh, thê thảm trước sự chết chóc, bần cùng. Mọi giá trị dường như bị đảo lộn, con người đánh mất đi bản ngã của chính mình, bị cuốn vào vòng quay của xã hội công nghiệp. Trong nhiều tác phẩm của văn học hiện sinh, những biểu hiện của con người tha hóa đã được các tác giả biểu đạt với nhiều thủ pháp nghệ thuật hiện đại, gửi gắm tới độc giả thông điệp về tâm trạng của những thế hệ con người sau chiến tranh với nhiều đổ vỡ, mất mát, luôn đặt vấn đề tồn tại, hiện sinh của con người trong xã hội tư bản công nghiệp. Không chỉ tồn tại và thịnh hành ở châu Âu, tư tưởng hiện sinh đã vươn xa, tạo ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống và trong văn học ở các nước châu Á, đặc biệt là ở Nhật Bản và Việt Nam, những nước chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Nho giáo phong kiến Trung Quốc. Ở miền Nam Việt Nam vào những thập niên 50 và 60 của thế kỉ trước, tư tưởng hiện sinh xuất hiện đã được đón nhận nồng nhiệt và cắm rễ sâu trong đời sống xã hội cũng như trong văn học. Tuy nhiên chưa có tác giả nào bàn về những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh tạo thành một khuynh hướng trong văn học hoặc thơ ca.

 

1.1.1.2. Những nghiên cứu về biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện đại

 

Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện ở Sài Gòn vào những năm năm mươi của thế kỷ XX. Mặc dù bắt nguồn từ phương Tây nhưng khi vào Việt Nam nó đã được cấu trúc lại bằng những yếu tố bản địa và xuất hiện ồ ạt ở miền Nam, được đón nhận nhiệt tình. Chủ nghĩa hiện sinh không chỉ xuất hiện trên sách báo với những tên tuổi như Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Thị Hoàng mà còn trở thành đề tài cho các công trình nghiên cứu của nhiều luận án tiến sĩ và cao học. Vì chủ đề được quan tâm của chủ nghĩa hiện sinh là nhìn nhận cuộc đời là hư vô, như một thảm kịch, số phận con người mong manh chơi vơi… do vậy, nó nhanh chóng tìm được tiếng nói chung với độc giả, nhất là thế hệ trẻ.

 

Tháng 5 năm 1956, Pháp rút quân và Mỹ vào thay chân đưa Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền, xã hội miền Nam bước vào cuộc biến động về mọi mặt. Chủ nghĩa hiện sinh đi vào miền Nam Việt Nam trong bối cảnh ồn ào phức tạp ấy do có sự phù hợp giữa các quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh về thân phận con người với tâm trạng bi quan hoang mang, khao khát tự do, khao khát nổi loạn để xua tan nỗi hoài nghi bi quan chán nản của con người trong chiến tranh. Chủ nghĩa hiện sinh đi vào miền Nam nước ta khi có những con người hoang mang trước những biến cố xã hội, nhìn đời với con mắt hồ nghi bi quan. Chiến tranh gây ra tổn thất, thảm kịch, đẩy con người vào sự bất an và họ thấy sự bi đát chán chường của chiến tranh. Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện và thịnh hành ở châu Âu nhưng đã có những phù hợp thực tại Việt  Nam. Khi con người Việt Nam trải qua những mất mát trong chiến tranh, họ cũng   rơi vào trạng thái bi quan những khủng hoảng muốn đi tìm một chỗ dựa tinh thần. Trong hoàn cảnh đen tối đó, họ đã nhanh chóng thích nghi với chủ nghĩa hiện sinh. Đặc biệt giới trẻ đã sùng bái chủ nghĩa hiện sinh bởi họ “ăn hiện sinh, ngủ hiện sinh” xem đó như là lẽ sống mới.

 

Ở miền Nam xuất hiện hàng loạt những bài nghiên cứu, các giáo sư giảng dạy các trường Đại học như Nguyễn Văn Trung, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm. Từ năm 1955, hàng loạt các tác phẩm văn học hiện sinh phương Tây cũng được dịch và giới thiệu ở Sài Gòn, nhiều nhất là tác phẩm của J.P. Sartre, A. Camus, F. Sagan, S.  Becket. Trong sáng tác văn học miền Nam lúc này “ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện  sinh thể hiện ở nhiều nơi trong đó rõ nhất là ở thơ và văn xuôi” [58, tr. 45].

 

Văn học Việt Nam giai đoạn chống Pháp và chống Mỹ với nguyên tắc phản ánh hiện thực và sáng tác xã hội chủ nghĩa không chấp nhận chủ nghĩa hiện sinh vì quan điểm sáng tác khác nhau. Văn học hiện thực được xem là tấm gương nhận thức và phản ánh hội. Ngược lại chủ nghĩa hiện sinh chỉ quan tâm thân phận của nhân con người. Chủ nghĩa hiện sinh quan tâm đến những chủ đề liên quan số kiếp con người, nhìn cuộc đời con người là phi lý, là cô đơn, là bi kịch hoàn toàn trái ngược cái nhìn lạc quan cách mạng, do vậy, văn học hiện sinh bị phê phán.

 

Sau năm 1986, trong điều kiện đất nước mở của, hội nhập nhưng con người phải đối mặt với mặt trái của cơ chế thị trường. Nhiều tệ nạn xã hội như tham ô, tham nhũng, thất nghiệp nghèo đói khiến con người hoang mang. Và đó là điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện trở lại. Tuy nhiên, các nhà văn nhà thơ Việt Nam không phải là những nhà tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh. Họ chỉ muốn đưa một số ý tưởng nào đó của chủ nghĩa hiện sinh vào tác phẩm. Nguyễn Tiến Dũng khẳng định “Họ chỉ là những nhà văn muốn đưa vào tác phẩm của mình một số ý tưởng nào đó của chủ nghĩa hiện sinh. Vì vậy ta khó có thể đòi hỏi họ phải có một hệ thống tư tưởng nào đó của chủ nghĩa hiện sinh.” (Chủ nghĩa hiện sinh, lịch sử và sự hiện diện của nó ở Việt Nam [28, tr. 155].

 

Nguyễn Tiến Dũng cũng cho rằng “vì lẽ đó cho nên có thể thấy hiện sinh ở tác phẩm này mà không có ở tác phẩm khác, thậm chí có những phương pháp sáng tác không giống nhau” [28, tr. 155].

 

Chiến tranh chống đế quốc Mỹ kết thúc, đất nước được thống nhất. Tâm trạng con người vừa có niềm vui chiến thắng vừa phải đối mặt những mất mát trong chiến tranh. Từ đó “con người có điều kiện nhìn nhận lại cuộc chiến và chính bản thân mình” [58 tr. 49]. Bối cảnh xã hội sau chiến tranh và thời kì đất nước bước vào hiện đại hóa dẫn đến sự xuất hiện của khuynh hướng hiện sinh và tư tưởng hiện sinh cũng được nhìn nhận đánh giá theo hướng khách quan, khoa học. Sự thay đổi hoàn cảnh xã hội kéo theo sự thay đổi về văn học. Sự thay đổi rõ nhất là ở quan niệm về con người hiện thực. Trước chiến tranh thân phận con người không được coi trọng. Sau chiến tranh, văn học quan tâm đến con người “như một thực thể độc đáo, đa chiều, không  chỉ có ý thức mà còn có vô thức, tiềm thức, không chỉ có khát vọng chung của tập thể mà còn có đời sống tình cảm riêng tư sâu kín” [58, tr. 52]. Yếu tố hiện sinh xuất hiện trong tiểu thuyết Việt Nam khi chạm tới vấn đề con người như một bản thể riêng biệt, như những hữu thể hiện tồn. Chẳng hạn tác phẩm Thời xa vắng đề cập đến bi kịch đánh mất mình của Giang Minh Sài...; tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh đề cập nỗi cô đơn lạc lõng không được là chính mình qua nhân vật Kiên. Dấu ấn hiện sinh thể hiện qua nỗi ưu tư trăn trở về bản thể, về thân phận con người qua các tác phẩm Một cõi nhân gian của Nguyễn Khải, Những đứa trẻ chết già của Nguyễn Bình Phương với những trăn trở về thời gian của đời người. Cuộc sống với vòng quay hỗn độn tất cả chỉ vận hành về sự chết. Đó chính là những ưu tư không bao giờ dứt về phận người mang tâm thức hiện sinh. Một ngày và một đời của Lê Văn Thảo với triết lí một đời thì thoáng qua, một ngày dài lê thê thể hiện sự phi lí của đời người. Quan niệm về con người về hiện thực, về tư duy nghệ thuật thay đổi tất yếu đòi hỏi văn chương cũng thay đổi. Và đó là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam bám rễ sâu trong sáng tác văn học và thơ ca đương đại. Trước năm 1975, các chủ đề của trào lưu hiện sinh như cô đơn, âu lo, hoang mang, nổi loạn… đều được thể hiện rõ trong văn xuôi hiện sinh ở miền Nam. Một mặt, chủ nghĩa hiện sinh được đông đảo bạn đọc Sài Gòn đón nhận vì đã phần nào nói lên tâm trạng của một bộ phận người dân miền Nam lúc bấy giờ đang hoang mang mất phương hướng. Mặt khác, tư tưởng hiện sinh còn là tiếng nói “bi quan, bế tắc sa đọa trong hoàn cảnh xã hội rối ren loạn lạc” [58, tr. 47]. Chủ nghĩa hiện sinh “nhận được sự quan tâm nghiên cứu phiên dịch và giới thiệu rộng rãi” [113, tr. 31]. Sau năm 1975, đặc biệt từ sau năm 1986 những biến đổi mạnh mẽ của đất nước sau chiến tranh đã đưa đến sự thay đổi về tư duy, về nhận thức, sự đi vào khám phá chiều sâu bên trong bản thể con người đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện trở lại của chủ nghĩa hiện sinh. Chủ nghĩa hiện sinh được tầng lớp trí thức miền Nam đón nhận. Hàng loạt tờ tạp chí được dịch thuật từ các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh ở nước ngoài. Tiếp đến là sự xuất hiện đội ngũ các nhà nghiên cứu và sáng tác văn học trong đó có thơ ca. Chủ nghĩa hiện sinh còn lan tỏa trong đời sống đặc biệt là bộ phận thanh niên không tìm được hướng đi và niềm tin với cuộc sống trong chiến tranh. Chủ nghĩa hiện sinh góp phần giúp cho tầng lớp trẻ thay đổi quan niệm sống định hướng cho họ về ý thức trách nhiệm với bản thân và xã hội.

 

Ảnh hưởng này tuy rầm rộ ở đô thị miền Nam sau năm 1975 nhưng hoàn toàn vắng bóng trong văn học miền Bắc. Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong giai đoạn này nằm trong một ngữ cảnh văn hóa mới khác ngữ cảnh trước năm 1975. Sau năm 1986, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới. Hoàn cảnh lịch sử xã hội thay đổi kéo theo thay đổi về nhận thức tư duy, đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự tái xuất của chủ nghĩa hiện sinh. Năm 1986, nghị quyết Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu sự đổi mới về tư duy của Đảng và toàn xã hội. “Đây được xem là bước ngoặt quan trọng tác động một cách toàn diện đến ngữ cảnh sáng tạo của văn nghệ sĩ” [145, tr. 31]. Người nghệ sĩ được cởi trói điều kiện để sáng tạo với những tiếng nói mang dấu ấn riêng. Mặt khác, với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, chối bỏ lối viết minh họa và ca ngợi một chiều văn học mới, sáng tạo lại hiện thực trăn trở nhiều vấn đề cụ thể thiết thực trong đời sống xã hội. Nếu như trước đây văn học chỉ quan tâm đến chiều kích sử thi, ca ngợi chiến công, thì giờ đây, văn học hướng về những vấn đề thế sự, quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề đạo đức, nhân cách, lẽ sống, những góc khuất. Thậm chí văn học mạnh dạn đề cập đến những vấn đề trước đây văn học né tránh như vẻ đẹp phồn thực hay vấn đề dục tính với màu sắc nhân văn. Sau năm 1975, tư duy văn học đã thay đổi khi các nhà văn đi sâu tìm hiểu, suy ngẫm trăn trở về tính phi lý, sự vô nghĩa, đơn điệu tẻ nhạt của cuộc sống khi con người không được sống là chính mình.

 

Các công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh xuất phát từ nhiều góc độ. Có nhà phê bình phê phán văn học hiện sinh, cho rằng chủ nghĩa hiện sinh nói về sự mất niềm tin của con người, thậm chí còn cho là sự suy đồi của văn nghệ và chủ nghĩa hiện sinh là tư tưởng của giai cấp tư sản không đem lại niềm tin, niềm hi vọng vào cuộc sống thực tại. Nhà phê bình Đỗ Đức Hiểu (2000) cho rằng chủ nghĩa hiện sinh đượm màu bi quan yếm thế, sản sinh ra những con người có lối sống yếu ớt bạc nhược về tinh thần: “Quẩn quanh với thế giới đóng kín, văn học hiện sinh chủ nghĩa sản sinh ra được những con người khắc khoải, dở sống dở chết, những con người bừng bừng thức dậy với những cơn mê sảng dữ dội, những kí ức huyễn hoặc, những ám ảnh khủng khiếp, những hình bóng mơ hồ mà nó gọi là “thế giới thứ hai”, “xao xuyến náo động làm chấn động con người và vũ trụ” [55, tr. 13-14]. Tác giả chỉ trích khá gay gắt, thậm chí đã áp đặt gọi đó là tư tưởng phản động, thần bí, “Chỉ là những ảo ảnh lừa dối. Triết học hiện sinh là một triết học thần bí, một triết học linh thần hóa con người và tự nhiên” [55, tr. 12]. Nguyễn Thị Bích Phụng (2013) trong bài viết “Cảm thức hiện sinh trong tập thơ Hoa giấu mặt của Mai Văn Phấn” đã khẳng định: “Cảm thức hiện sinh là những cảm giác mang tính trực cảm có ý thức và vô thức trước sự vật hiện tượng, trước quy luật tạo hóa tự nhiên, trước muôn màu biến ảo của cõi ta bà, cả những bất cập lệch chuẩn của giá trị đạo đức trong hiện thực đời sống” [114]. Có thể thấy, nhiều người đã không ngần ngại phản đối tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh. Các tác giả cho rằng đó là chủ nghĩa mang đến cho con người cái nhìn bi quan về cuộc sống, tư tưởng gieo vào lòng người cảm giác bi quan, thất vọng về cuộc sống của chính mình.

 

Bên cạnh đó cũng có những quan điểm bình tĩnh khách quan khi tiếp cận tư tưởng chủ nghĩa hiện sinh. Huỳnh Như Phương với Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam đã có một cái nhìn khái quát về sự hiện diện và ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam. Ông đã đánh giá cách nhìn nhận của các tác giả về chủ nghĩa hiện sinh. Bên cạnh Trần Thái Đỉnh có một văn phong mạch lạc sáng rõ và dễ tiếp nhận, tác giả Lê Tôn Nghiêm diễn đạt những vấn đề triết học chuyên sâu khá nặng nề. Lê Tôn Nghiêm dành những lời lẽ nồng nhiệt cho hai ông tổ hiện sinh là Kiekegaard và Nietzche...

 

Nhìn chung các nhà nghiên cứu xem chủ nghĩa hiện sinh là biểu hiện cho sự vận động của văn hóa văn học dân tộc. Họ cho rằng chủ nghĩa hiện sinh đề cập những nỗi buồn, những phản ứng trước thực tại của tri thức và nghệ sĩ. Họ khẳng định chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản vì nó quan tâm đến số phận con người. Chủ nghĩa hiện sinh là những truy vấn của tồn tại người, Với những câu hỏi ta là ai? Ta đến với cuộc đời để làm gì? Không những thế, nó còn giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự chuyển biến văn hóa của thời đại. Đỗ Minh Hợp (2016) cho rằng “Việc phân tích chủ nghĩa hiện sinh còn cho phép chúng ta hiểu rõ hơn những chuyển biến văn hóa ở thế kỉ XX, những chuyển biến vẫn đang có tác động mạnh mẽ tới đời sống tinh thần của con người phương Tây hiện đại” [62].

 

Thời kì đổi mới, con người phải đối mặt với những nỗi đau phần nào xuất phát từ sự phát triển có tính chất bùng nổ của khoa học kĩ thuật.

 

Thơ Việt Nam đương đại có sự bùng nổ về số lượng, đến với người đọc bằng nhiều con đường, nhiều hình thức như thơ in, thơ đăng báo, thơ trên sóng phát thanh truyền hình, thơ trên mạng internet, thơ in trên bưu ảnh, thơ lịch, thơ chép tay... Đặc biệt, thơ đương đại mở rộng nội dung phản ánh “từ bề nổi, bề sâu, bề xa, từ cao siêu đến trần thế, tâm hồn và xác thịt, từ hiện thực xã hội đến tâm linh, từ khát vọng, lý tưởng, bổn phận đến tình cảm riêng tư...” [150, tr. 2]. Từ năm 1988, thơ ca đổi mới mạnh mẽ, đặc biệt vào những năm 1993 -1994, với sự ra đời của hàng loạt tập thơ  cách tân theo hướng hiện đại chủ nghĩa. Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như Đêm mặt trời mọc (Nguyễn Quốc Chánh, Nxb Trẻ, 1990), Khí hậu đồ vật (Nguyễn Quốc Chánh, Nxb Trẻ, 1997), Sự mất ngủ của lửa (Nguyễn Quang Thiều, Nxb Lao động, 1992), Ô mai (Đặng Đình Hưng, Nxb Hội Nhà văn, 1993), Bóng chữ (Lê Đạt, Nxb Hội Nhà văn, 1994), Người đi tìm mặt (Hoàng Hưng, Nxb Văn hóa-Thông tin, 1994), Về Kinh Bắc (Hoàng Cầm, Nxb Văn học, 1994), Cầu nguyện ban mai (Mai Văn Phấn, Nxb Hải Phòng, 1997).

 

Nhiều công trình luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ khoa học và các bài báo đề cập đến tâm thức hiện sinh hoặc cảm thức hiện sinh trong văn học nói chung, trong thơ nói riêng. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như “Người đàn bà qua hai mùa tóc và tâm thức hiện sinh trong thơ Ánh Hồng” (Trần Hoài Anh - Tạp chí Sắc màu thời gian số 7/2015), “Cảm thức hiện sinh trong thơ Lưu Quang Vũ” (Trần Hoài Anh - Tạp chí Khoa học thời đại), “Cảm thức hiện sinh trong tập thơ Hoa giấu mặt của Mai Văn Phấn” (Nguyễn Thị Bích Phụng - Tạp chí khoa học Văn hóa và Du lịch, số 13/9/2013), Huỳnh Thị Kiều Diễm với Dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi Giáng (Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Đà Nẵng, năm 2013), Cảm thức hiện sinh trong thơ Cát Du (Trần Hoài Anh). Gần đây nhất là Trần Khánh Phong với Tâm thức hiện sinh trong Thơ mới (Luận án tiến sĩ Ngữ văn, năm 2018). Dương Thị Lan với Quan niệm về con người trong triết học hiện sinh của Albert Camus (Luận văn thạc sĩ triết học, năm 2016). Hay tác giả Hải Bằng với nghiên cứu Tư tưởng lãng mạn, hiện sinh, siêu thực trong thơ Việt Bằng. Các công trình, bài viết, đã cho thấy sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả về chủ nghĩa hiện sinh. Tuy nhiên chưa có tác giả nào nghiên cứu về khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại một cách đầy đủ và hệ thống.

 

Trong sự chuyển mình của văn học Việt Nam, thơ giữ một vị trí hết sức quan trọng. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra, thơ hôm nay có một xu thế đang ngày càng được khẳng định và mở rộng. Hàng loạt các cây bút trẻ đang nỗ lực thể hiện mình trên con đường riêng đến với thi ca đồng thời góp phần tạo nên xu hướng cách tân mạnh mẽ cho thơ đương đại. Theo thống kê từ luận án của Đặng Thu Thủy (2009), nhiều thế hệ lứa tuổi như Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tạo, Xuân Quỳnh, Đoàn Thị Lam Luyến, Trương Nam Hương, Trương Đăng Dung, Mã Giang Lân, Phan Hoàng, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Phong Việt, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Việt Chiến, Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Vi Thùy Linh, Phan Thị Vàng Anh, Từ Huy, Đỗ Doãn Phương, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Lữ Thị Mai, Phan Huyền Thư, Đinh Thị Như Thúy, Nguyễn Phan Quế Mai, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Lê Thị Mai, Nhụy Nguyên... đã có những tác phẩm mang tư tưởng hiện sinh và đã tạo nên một khuynh hướng sáng tác trong thơ Việt một diện mạo mới với những sự cách tân táo bạo về tư duy, về nội dung và thể loại [150].

 

Cùng với sự thay đổi của xã hội và thực tại đời sống, sau năm 1986, nhiều tác giả đã có sự nhìn nhận thấu đáo hơn về chủ nghĩa hiện sinh. Một số công trình luận văn, luận án đã tìm và đánh giá lại văn học đô thị miền Nam trong đó có thơ ca. Từ năm 1977, Nguyễn Văn Dân trong công trình Văn học phi lí đã đề cập đến dấu ấn của văn học hiện sinh trong văn học Việt Nam. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều nhà nghiên cứu đã quan tâm hơn đến sự có mặt của chủ nghĩa hiện sinh như Nguyễn Tiến Dũng, Thái Phan Vàng Anh, Nguyễn Thành Thi... Các nhà văn Việt Nam chưa phải là những tư tưởng gia của chủ nghĩa hiện sinh song họ lại muốn đưa vào tác phẩm của mình một số ý tưởng nào đó của chủ nghĩa hiện sinh, vì vậy chưa thể đòi hỏi họ phải có một hệ thống tư tưởng đồng kết [28, tr. 155]. Mặc dầu vậy, để chọn một lý thuyết triết học và mỹ học có ảnh hưởng rộng lớn đến lý luận và sáng tác của văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975, nhiều nhà nghiên cứu không ngần ngại chọn chủ nghĩa hiện sinh. Đó là triết học về con người, đặt vị trí quan trọng nhất là “tính độc đáo, tuyệt đối của con người” [113, tr. 23].

 

1.1.2. Về nghiên cứu tư tưởng hiện sinh và khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

 

1.1.2.1. Những nghiên cứu về cảm hứng và tư tưởng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

 

Những dấu ấn của hiện sinh thực sự đã xuất hiện ở thơ ca Việt Nam từ rất sớm. Có thể tìm thấy những biểu hiện hiện sinh ở sáng tác của các tác giả trung đại Việt Nam như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát... Các tác giả này ít nhiều đã thể hiện ý thức về cái tôi cá nhân qua cá tính với những sự bứt phá, nổi loạn để khẳng định mình. Nguyễn Du khái quát kiếp người qua những câu thơ đầy ưu tư: “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Hồ Xuân Hương nổi loạn để nói lên khát vọng tình yêu, hạnh phúc đầy nhân bản: “Gan nghĩa giãi ra cùng nhật nguyệt/ Khối tình cọ mãi với non sông”. Con người là trung tâm của vũ trụ, mang trong mình nỗi buồn lớn lao bao trùm cả không gian, thời gian. Cái tôi của Nguyễn Công Trứ là cái tôi “ngông”, ngất ngưởng, đó là cái tôi muốn được sống đúng là mình trong lòng xã hội phong kiến đầy định kiến khắt khe nghiệt ngã. Đó cũng là khát vọng được khẳng định nhân vị “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”.

 

Đến thời kỳ Thơ mới, tâm thức hiện sinh thể hiện rõ nét hơn. Cảm quan nỗi buồn trong Thơ mới được bày tỏ qua tác phẩm của những tác giả như Chế Lan Viên, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Nguyễn Bính... qua sự suy tư của thi nhân về ý nghĩa tồn tại của kiếp người. Nhà thơ Chế Lan Viên cảm nhận sự cô đơn vô nghĩa của cuộc đời: “Với tôi tất cả như vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau”. Ông từng đi tìm câu hỏi trước vũ trụ “Ta đứng trước cõi Ta khôn hiểu thấu/Như không sao hiểu được nghĩa Thời gian” (Cõi Ta- Chế Lan Viên). Nhà thơ Huy Cận cảm nhận nỗi cô đơn mênh mang rợn ngợp trước không gian mênh mang của vũ trụ: “Một chiếc linh hồn nhỏ/ Mang mang thiên cổ sầu”. “Buồn vạn lớp trên mái nhà rợn sóng”. Đó là nỗi sầu dưới đáy hồn nhân thế. Thơ Hàn Mặc quằn quại đau thương trong sự giằng xé giữa linh hồn và xác phàm: Hồn là ai? Là ai? Tôi chẳng biết! Hồn là ai? Là ai? Tôi không biết. Nhà thơ Thế Lữ cũng với nỗi sầu buồn không lí giải : Tiếng đưa hiu hắt bên  lòng/ Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn. Nhà thơ Nguyễn Bính với nỗi cô đơn trước không gian “Sầu nghiêng theo cánh chim lìa tổ/ Biết lạc về đâu lòng hỡi lòng”. Xuân Diệu thì luôn cảm thấy vũ trụ cao vút, chi có con người là cô đơn tuyệt đối “Ta lên cao như một ý siêu phàm/Nhìn vũ trụ muốn tranh phần cao vọt/ Chỉ riêng ta đứng mãi/ Ở nơi đây không dấu vết loài người” …Tuy nhiên, người đọc mới chỉ cảm nhận được nỗi buồn thế thái nhân tình, nỗi buồn thiên cổ qua tác phẩm chứ chưa quan tâm, có cái nhìn hệ thống về nỗi buồn như một biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh. Có rất ít công trình chuyên sâu về chủ nghĩa hiện sinh hoặc vận dụng tư tưởng hiện sinh vào nghiên cứu văn học.

 

Nhìn chung, nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại còn rất lẻ tẻ. Đề cập đến vấn đề này phần lớn có ở các bài báo hoặc các đề tài luận văn thạc sĩ như đã được luận án nói đến. Chẳng hạn các bài báo “Tâm thức hiện sinh trong thơ Cát Du” (Trần Hoài Anh), “Cảm thức hiện sinh trong thơ Lưu Quang Vũ” (Trần Hoài Anh), “Thời gian và phận người trong thơ Trương Đăng Dung” (Nguyễn Đăng Điệp), “Cảm thức hiện sinh” trong tập thơ Hoa giấu mặt của Mai Văn Phấn” của Nguyễn Thị Bích Phụng, luận văn thạc sĩ “Dấu ấn hiện sinh trong thơ Bùi Giáng” của Huỳnh Thị Kiều Diễm, “Triết lý hiện sinh trong thơ Lê Khánh Mai” của Lê Thùy Nhung... Đáng chú ý là bài “Khuynh hướng hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam thời kỳ đổi mới” của Trần Hoài Anh (Tạp chí sông Hương, số 320, tr. 10-15) đã khẳng định “ảnh hưởng của tư tưởng hiện sinh đã tạo thành một khuynh hướng sáng tác trong thơ của nhiều tác giả thuộc các thế hệ cầm bút khác nhau” [11].

 

Có thể thấy trong đội ngũ đông đảo các nhà thơ Việt Nam đương đại, đã xuất hiện hàng loạt cây bút mà tác phẩm của họ in đậm dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh. Luận án quan tâm khảo sát tác phẩm của các tác giả như Mai Văn Phấn, Nguyễn Quang Thiều, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh, Phạm Thị Ngọc Liên, Trương Đăng Dung, Inrasara, Phan Huyền Thư, Đoàn Thị Lam Luyến...

 

1.1.2.2. Những nghiên cứu về khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

 

Trước hết, xin được nói rõ hai từ khuynh hướng trong khuynh hướng hiện sinh (tên đề tài luận án là “khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại”). “Khuynh hướng” là một từ Hán Việt, xuất hiện và được dùng rộng rãi trong ngữ vựng tiếng Việt từ những thập niên đầu của thế kỉ 20. Vì vậy, người quan tâm từ vựng Việt ngữ đã sớm có thể tra thấy từ này trong Giản yếu Hán Việt Từ điển của Đào Duy Anh (1932). Trong tính cách là một từ điển giản yếu, định nghĩa mục từ này của từ điển Đào Duy Anh rất vắn tắt: “khuynh hướng: Xu hướng về, xoay theo” [2, tr. 224]. Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) một mặt chú ý tới tính cách từ vựng Hán Việt (kèm thêm chữ Hán) mặt khác cập nhật văn cảnh mới nên đã thực hiện một sự chú giải khá đầy đủ và cô đọng mục từ này như sau: “khuynh hướng 傾 向 : Sự thiên về một phía nào đó trong hoạt động, trong quá trình phát triển. Ví dụ: Dòng văn học theo khuynh hướng hiện thực phê phán; khuynh hướng gia tăng dân số thế giới [111, tr. 804]. Từ điển này đồng thời cũng xem từ xu hướng là từ đồng nghĩa của từ khuynh hướng. Chúng đồng nghĩa ở cấp độ nghĩa từ vựng, nhưng một khi đã trở thành thuật ngữ - khái niệm học thuật thì sự phân biệt cách dùng chúng là rất rõ rang (dĩ nhiên ngay cả khi đã trở thành thuật ngữ thì việc quan tâm tới nét nghĩa từ vựng cơ bản vẫn là điều cần thiết cho việc lý giải nội hàm nghĩa thuật ngữ). Đó cũng chính là lý do vì sao mà chúng tôi không quản dài dòng trích dẫn cụ thể các cuốn từ điển. Thực vậy, nét nghĩa từ vựng cơ bản “sự thiên về một phía nào đó trong hoạt động, trong quá trình phát triển” vẫn là được dùng làm cốt lõi nội hàm nghĩa khi nó kết hợp với từ “văn học” (hay “văn chương”) để cấu tạo thuật ngữ “khuynh hướng văn học”.

 

Các khái niệm trên dùng để chỉ những hiện tượng của quá trình văn học. Khuynh hướng, trào lưu là những “cộng đồng” các hiện tượng văn học được liên kết lại trên cơ sở một sự thống nhất tương đối về các định hướng thẩm mĩ - tư tưởng và về các nguyên tắc thể hiện nghệ thuật. Trong mĩ học, nghệ thuật học, nghiên cứu văn học còn chưa có sự thống nhất về tương quan phối thuộc giữa hai khái niệm này. Một số nhà nghiên cứu muốn coi trào lưu là phạm trù rộng hơn, dung chứa nhiều khuynh hướng. Quan niệm được dùng phổ biến hơn thì coi khuynh hướng là phạm trù rộng, dung chứa nhiều trào lưu. Theo 150 thuật ngữ văn học hai khái niệm còn được dùng theo nghĩa rộng như là đồng nghĩa với nhau; “trào lưu” đôi khi được đồng nhất với “trường phái”, “nhóm phái”; khuynh hướng đôi khi được đồng nhất với “phương pháp sáng tác” hoặc “phong cách”. Diễn giải của công trình 150 thuật ngữ văn học và diễn giải của Từ điển văn học nói chúng gần gũi về nội dung: “Khuynh hướng trào lưu là những cộng đồng các hiện tượng văn học được liên kết lại trên cơ sở một sự thống nhất tương đối về các định hướng thẩm mĩ tư tưởng và các nguyên tắc thể hiện nghệ thuật”. Như vậy, khái niệm khuynh hướng văn học hay trào lưu văn học dùng để chỉ những hiện tượng của một quá trình văn học mang những nét thống nhất tương đối về tư tưởng về các nguyên tắc thể hiện cũng như quan niệm thẩm mĩ.

 

Lại Nguyên Ân nhận thấy những “hiện tượng của quá trình văn học”, “cộng đồng các hiện tượng văn học được liên kết lại trên cơ sở một sự thống nhất tương đối về các định hướng thẩm mĩ - tư tưởng và về các nguyên tắc thể hiện nghệ thuật”. Khuynh hướng đôi khi được đồng nhất với trào lưu [17, tr 176]. Một số nhà nghiên cứu muốn coi trào lưu là phạm trù rộng hơn, dung chứa nhiều khuynh hướng. Quan niệm phổ biến cho rằng khuynh hướng dung chứa nhiều trào lưu. Chúng tôi đã tìm hiểu đề tài “khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại” trên nền tảng nhận thức rằng: “Có thể xem lịch sử văn học dưới dạng khái quát như lịch sử các khuynh hướng, bởi vì chúng đánh dấu tiến trình chiếm lĩnh thế giới bằng ngôn từ nghệ thuật, đánh dấu tiến bộ nghệ thuật trong văn học” [17, tr. 178]. Và cũng vì đã xác định “khoảng” thời gian là “đương đại” nên hơn bất cứ lúc nào chúng tôi thấy càng phải lưu tâm hơn đến nhận định của Lại Nguyên Ân nhấn mạnh “Khuynh hướng văn học mang tính chất mở chứ không khép kín”. Một điều cũng nên nói rõ là tuy đặt chung trong một mục từ (khuynh hướng, trao lưu văn học) nhưng thực tế diễn giải chủ yếu là để nói về “khuynh hướng”. Thêm nữa, như đã nói ở mục 2.1.2 (Vấn đề phân loại các khuynh hướng thơ Việt Nam đương đại), thực tế cho thấy các tác giả không phải bao giờ cũng sáng tác với một ý thức phân minh rằng mình “thuộc về” khuynh hướng nào. Những khái quát định danh hóa “tên gọi khuynh hướng” là việc về sau của các nhà lý luận hay văn học sử. Sự thực các tác giả đâu cứ phải luôn bận tâm về “khuynh hướng” khi viết bài thơ. Việc mạnh dạn sử dụng cụm từ “khuynh hướng hiện sinh” như là một thuật ngữ giúp giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án của chúng tôi xuất phát từ một nhận thức như thế.

 

Chủ nghĩa hiện sinh dù biểu đạt trong và bằng văn chương thì điều đó vẫn được nói đến như là một triết thuyết. Nói cách khác, đó là một tư tưởng. Nếu không còn dẫn dụng từ điển thuật ngữ mà phải lấy ví dụ từ thực tiễn nghiên cứu, chúng tôi cũng tìm thấy chí ít một vài ý kiến giới thuyết thuật ngữ “khuynh hướng văn học” của các nhà nghiên cứu nói chung - giới thuyết giúp chúng tôi thêm dữ liệu đi đến định hình nội hàm cụm “khuynh hướng hiện sinh” sử dụng ở bản luận án này. Trong trường hợp này, chúng tôi xin dẫn giới thuyết của tác giả công trình “Khuynh hướng hiện thực trào lộng trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”. Theo tác giả này, khuynh hướng văn học “là một xu thế tư tưởng bắt nguồn từ cuộc sống bao giờ cũng toát ra một cách tự nhiên từ sự miêu tả sinh động của đời sống chứ không phải qua những lời lý thuyết khô khan, hoặc những tư tưởng trừu tượng” [71 tr. 9-10].

 

Chúng tôi hiểu khuynh hướng xuất hiện là khi các nhà văn cùng có chúng quan điểm sáng tác, hệ tư tưởng trong việc cảm nhận lý giải đối tượng, thực tại. Nó có cơ sở về mặt triết học và mĩ học. Khuynh hướng là sự gặp gỡ nhau, có sự tương đồng, thậm chí gặp gỡ nhau trong mục đích khám phá và biểu đạt thực tại nhân sinh bằng nghệ thuật của nhóm hay quần thể tác giả. Khuynh hướng là chỉ sự nghiêng về một hướng nào đó, đi tìm một hướng nào đó. Khuynh hướng chỉ “sự gần gũi trong cách hiểu của các nhà văn đối với các vấn đề của đời sống, bởi sự giống nhau về các tình thế xã hội, thời đại, văn hóa, nghệ thuật” [145, tr. 9]. Thực ra, liên quan đến đề tài hiện sinh trong văn chương ta cũng bắt gặp không ít những công trình hay bài viết đề xuất cách nói “cảm thức hiện sinh trong sáng tác/tác phẩm…”. Nhưng chúng tôi trước sau đồng ý với quan điểm cho rằng cảm thức hiện sinh chỉ “Là sự thể hiện những sắc thái hiện sinh trong quá trình sáng tác của nhà văn một cách cảm tính (không chủ ý)” [145, tr. 3].

 

Các khuynh hướng nghệ thuật hiểu theo nghĩa rộng đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử. Nguyễn Tiến Dũng đã nhắc lại những mốc thời gian đáng chú ý cho thấy dấu ấn chủ nghĩa hiện sinh đã hiện hữu từ lâu. Từ trong triết lý Phật Giáo qua câu nói của Phật Thích Ca “Thiên thượng địa hạ duy ngã độc tôn”. Trong quá trình tu hành đắc đạo Đức Phật đã ngộ ra bốn chân lý tối cao về cuộc đời con người “Sinh-Lão-Bệnh- Tử”. Ở phương Tây, người ta nhắc đến câu nói nổi tiếng của Sokrates “con người hãy tự nhận thức chính mình”. Thời trung đại, thánh Augustin đã khẳng định “hãy đi sâu vào bản thân, chân lý nằm trong nội tâm con người”. Kế sau, tính hiện sinh đã tiềm ẩn trong tác phẩm Các suy tư của triết gia người Pháp Pascal, trong tiểu thuyết Tội ác và trừng phạt của nhà văn hào Nga Dostoievsky... Khuynh hướng hiện sinh mà chúng tôi đề cập là tư tưởng hiện sinh theo nghĩa hẹp gắn với tên tuổi của triết gia Đan Mạch - Kierkegaard (1813-1885), triết học hiện sinh vô thần của Sartre, chủ nghĩa hiện sinh hữu thần theo quan điểm của Albert Camus. Điểm gặp gỡ ở các nhà hiện sinh này là ở chỗ khẳng định chủ nghĩa hiện sinh là sản phẩm của thời đại. Đó là thời kỳ lịch sử có nhiều biến động lo âu khắc khoải về con người trở thành nỗi lo âu thường trực của các nhà văn. Nhà văn trăn trở quan tâm đến thực tại đang diễn ra.

 

Luận án quan tâm đến ảnh hưởng của tư tưởng hiện sinh từ các triết gia nêu trên đến thơ Việt Nam đương đại. Thực tiễn sáng tác thơ ca Việt Nam đương đại cho thấy các tác giả ít nhiều đều có ý thức tự giác trong việc biểu hiện hiện sinh. Có thể nói khuynh hướng hiện sinh bao hàm nhiều tác giả mà tác phẩm của họ có những biểu hiện, những sắc thái của chủ nghĩa hiện sinh. Như vậy, khái niệm khuynh hướng hiện sinh rộng hơn khái niệm cảm thức hiện sinh.

 

Nhìn về giai đoạn “trước đương đại” ở miền Nam, có thể thấy, chủ nghĩa hiện sinh đã len lỏi và có ảnh hưởng đối với lý luận và sáng tác văn học đô thị miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954 - 1975. Nhiều tác giả nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh ở đô thị miền Nam như Trần Hoài Anh với “Lý luận - phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954 - 1975”; Nguyễn Thị Việt Nga với “Sự hiện diện của triết học và văn học hiện sinh ở đô thị miền Nam 1954 -1975”; Huỳnh Như Phương với “Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954 -1975”... Trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt leo thang, tâm trạng người dân lo âu chán chường, chủ nghĩa hiện sinh đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho người dân đô thị miền Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Theo thống kê của Võ Phiến trong cuốn Văn học miền Nam, riêng ở Sài Gòn đã có cả ngàn nhà in, 150 nhà xuất bản. Đời sống văn học phát triển phong phú, đa dạng, đáp ứng đủ mọi cung bậc cảm thụ, thưởng thức văn chương của mọi tầng lớp độc giả. Văn học dịch phát triển, thị phần sách, theo Võ Phiến, năm 1970 chiếm đến 60% và đến năm 1972 đã lên đến 80% toàn bộ đầu sách xuất bản miền Nam. Những tác giả được dịch nhiều nhất là J.P. Sartre, A. Camus, F. Sagan, P. Buck,…Ngoài ra còn có nhiều bài báo, tạp chí bàn về chủ nghĩa hiện sinh như “Khái niệm về chủ nghĩa hiện sinh” (Sáng tạo số 28/ 1959) của Quang Ninh; “Vị trí của trào lưu hiện sinh trong lịch sử triết lý” (Đại học số 18/1960); “Bộ mặt thật của triết học hiện sinh” (Bách khoa số 114/1961); “Những đề tài chính của triết học hiện sinh” (Bách khoa số 115/1961) của Trần Hương Tử; “Chủ nghĩa hiện sinh” (Báo Mai số 30/1961) của Bùi Giáng và Hoàng Minh Tuynh...

 

Từ trước năm 1960, chủ nghĩa hiện sinh đã rất nhanh nhạy được giảng dạy và đề cập đến trong giảng đường và các trường Đại học như Văn khoa Sài Gòn, Huế, Vạn Hạnh, Đà Lạt... Nhiều cuộc tọa đàm nói chuyện về chủ nghĩa hiện sinh được tổ chức và lôi cuốn sự chú ý của đông đảo trí thức. Các tác giả như Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Sa, Quang Minh, Thạch Chương, Trần Văn Toàn, Cô Liêu, Nguyễn Anh Linh…đã đăng nhiều bài viết rải rác trên sách báo, tạp chí giới thiệu về chủ nghĩa hiện sinh. Các tác giả có cái nhìn thiện cảm với chủ nghĩa hiện sinh. Họ xem đây là một  chủ thuyết phù hợp với tâm thức với hoàn cảnh sống của con người thời hiện đại. Và tầm ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh chỉ thực sự mạnh mẽ sâu rộng từ sau 1960. Từ đây, nhiều công trình nghiên cứu giới thiệu về chủ nghĩa hiện sinh được xuất bản thành sách. Chẳng hạn như Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương (1970), Đâu là căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lý từ Kant đến Heidegger (1970), Những vấn đề triết học hiện đại (1971), Bùi Giáng với Tư tưởng hiện đại (1974) …Các tác giả đã khẳng định rằng ảnh hưởng rõ nét nhất của chủ nghĩa hiện sinh vào văn học miền Nam giai đoạn 1954 -1975 gặt hái được nhiều thành công nhất ở thể loại thơ ca, ở các chủ đề như nỗi buồn, thân phận, kiếp người... Các tác giả tiêu biểu cho thơ ca mang khuynh hướng hiện sinh là Bùi Giáng, Nguyễn Sa, Đình Hùng, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Du Tử Lê, Nhã Ca, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Đức Sơn..., trong đó Du Tử Lê là một ngòi bút thơ tài hoa.

 

Việc nghiên cứu về khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại, có thể thấy, số lượng rất khiêm tốn. Chưa có những công trình nghiên cứu chuyên sâu ngoài sự đề cập đến chủ nghĩa hiện sinh trên các bài báo, hay các luận văn thạc sĩ. Trong số đó có bài báo của Trần Hoài Anh quan tâm nhiều hơn đến vấn đề khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại thông qua bàn luận về “khuynh hướng hiện sinh trong thơ nữ Việt Nam thời kỳ đổi mới”. Qua bài báo ông khẳng định “Khảo sát thơ nữ Việt Nam từ sau năm 1986 đến nay chúng tôi nhận thấy ảnh hưởng của tư tưởng hiện sinh đã tạo thành một khuynh hướng sáng tác trong thơ của nhiều tác giả thuộc các thế hệ cầm bút khác nhau: Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Lê Thị Mây, Lâm Thị Mĩ Dạ, Dư Thị Hoàn, Đinh Thị Thu Vân, Đoàn Thị Lam Luyến, Bùi Kim Anh, Thảo Phương, Thúy Nga, Phạm Thị Ngọc Liên, Ánh Hồng, Ly Hoàng Ly, Cát Du, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Đinh Thị Như Thúy, Đoàn Ngọc Thu, Nguyễn Thị Đạo Tỉnh, Nguyệt Phạm, Khương Hà, Phương Lan, Thanh Xuân, Ngô Thị Hạnh Nguyễn Ngọc Minh Châu, Chiêu Anh Nguyễn, Bùi Tuyết Nhung, Đào Phong Lan, Phạm Phong Lan, Lê Thùy Vân, Trần Lê Sơn Ý, Đinh Thu Thủy...” [11].

 

Thơ Việt Nam đương đại

 

Theo Từ điển Tiếng Việt (2006), đương đại “thuộc về thời đại hiện nay”. Thơ đương đại “là khái niệm cụ thể hóa về mặt thời gian của thơ hiện đại từ thời điểm đổi mới (1986) đến nay, gồm những tác phẩm thơ ca của các cây bút làm thơ người Việt cả trong nước và ngoài nước” [152, tr. 15]. Trần Mạnh Tiến cho rằng khơi nguồn thơ đương đại từ cuối những năm 1980 của thế kỷ XX: “Từ năm 1986 đến năm 2000 là thời kì đầu đổi mới. Trong khoảng trên 10 năm đầu thế kỷ XXI là thời đoạn tập trung các nhân tố mới hình thành và phát triển thơ đương đại”. Ông quan niệm “Thơ đương đại là nói đến toàn bộ các tác phẩm thơ ra đời trong thời kì đổi mới trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến nay mang dấu ấn riêng, chứ không chỉ bàn đến thời điểm xuất hiện nhà thơ hay tuổi tác người làm thơ trong thời gian đó” [152, tr. 27]. Ông khẳng định chưa bao giờ thơ ca dân tộc có sự phát triển quy mô rộng lớn đến như vậy. Đó là thời kỳ có sự đa dạng về lực lượng, về quy mô sáng tác và quan niệm nghệ thuật về đề tài, chủ đề, cảm hứng tư tưởng, thể loại, ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu, bút pháp thể thơ. Với cái nhìn bao quát, ông cho rằng thời gian 30 năm phát triển thơ đương đại trở thành “một trào lưu sáng tác sôi nổi, một sân chơi rộng rãi chưa từng có”. Tính rộng rãi biểu hiện qua các chủ đề mà các nhà thơ đề cập. Các chủ đề như “chiến tranh, lịch sử, tình yêu, tình bạn, tình đồng đội, gia đình, thiên nhiên, lao động, sản xuất, nghề nghiệp, hòa bình, môi trường, biên giới, hải đảo, nhà trường, nông thôn, miền núi, thành thị, nước ngoài, quá khứ, hiện tại, về thế giới tâm linh vô thức và huyền ảo, về bản năng tính dục, những trạng thái tâm hồn, những trăn trở về thế sự, những ước vọng, cái đẹp, cái thiện, cái ác và cái xấu, cái nghịch lí ở đời, những miền quê xa lạ, những cảm xúc đời thường... đều xuất hiện trong thơ”. Đó là thời kỳ đánh dấu sự đổi mới của lịch sử dân tộc cũng như sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy sáng tác và quan niệm thẩm mĩ của người viết và người đọc. Thơ đương đại vẫn đang trên hành trình khám phá nhưng “đã có những sắc màu và phẩm chất của một thời đại mới” [152, tr. 32].

 

1.2. Cơ sở lý thuyết của đề tài

 

11.2.1. Chủ nghĩa hiện sinh

 

Đề tài luận án là Khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại, do đó, cơ sở lý thuyết của đề tài, trước hết, là lý thuyết của chủ nghĩa hiện sinh. Cùng với chủ nghĩa hiện sinh, một số lý thuyết khác như phân tâm học, liên văn bản, cũng được chúng tôi xem là nền tảng quan trọng để làm “điểm tựa” cho luận án. Qua việc tổng thuật lịch sử nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh, có thể thấy, để hiểu một cách hệ thống về “chủ nghĩa” này là việc không đơn giản. Tựu trung lại, chủ nghĩa hiện sinh là khuynh hướng triết học được hình thành trước Chiến tranh thế giới lần thứ I, phổ biến vào những năm sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, quan tâm nhiều nhất đến vấn đề cá nhân và quan hệ của nó với thế giới. Đời sống con người chỉ có thể được hiểu thông qua sự hiện sinh của cá nhân, nghĩa là là thông qua kinh nghiệm, trải nghiệm, sự dấn thân của mỗi người về/vào cuộc đời. Mỗi con người tự tạo ra thế giới riêng, “cuộc đời cá nhân” và hiện sinh tồn tại thế giới riêng ấy.

 

Sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh là một hiện tượng xã hội tất yếu, bởi sau những nghiên cứu về nguồn gốc vũ trụ, về nhận thức, thì vấn đề thân phận con người, vấn đề mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa tự do và tất yếu... rất cần được quan tâm. Đó là những vấn đề thiết thân, thực tế, “hiện sinh” với con người hiện đại. Chủ nghĩa hiện sinh đã đưa ra một số quan niệm, khái niệm có tính chất căn cốt như hiện hữu có trước bản chất, tính chủ thể, tính tự do, sự phi lí, tha nhân..., chúng đều hướng đến việc nhấn mạnh con người cá nhân, con người với tư cách là chủ thể tư duy, chủ thể hành động, cảm nhận và sống, đặc biệt là đặc trưng tính chủ thể. Tính chủ thể thể hiện ở việc con người có khả năng hồi tưởng, nghĩ, dự tính, có đời sống nội tâm, có ý thức phản tư, tự quy chiếu. Vì là chủ thể nên con người có sự chủ động. Khi đã ý thức được tính chủ thể thì các lực lượng siêu nhiên không còn có thể gây ra sự sợ hãi hay uy hiếp con người. Con người hiện sinh không sống theo những quan niệm trừu tượng, vô căn cứ mà quan tâm vào ý nghĩa đích thực, bản chất của mỗi sự vật, hiện tượng.

 

Chủ nghĩa hiện sinh nhận thấy sự bất lực của lí trí trong việc khám phá chiều sâu đời sống con người. Lí trí không có sức mạnh thần thánh như đã từng được quan niệm trong chủ nghĩa duy lí của Descartes từ thế kỉ XVII. Nó vẫn có những bất toàn, những giới hạn. Hơn nữa, trong đời sống con người cũng có nhiều vùng “phi lí trí”, lí trí khó có thể thâm nhập. Vì thế, sự hoài nghi, cái ngẫu nhiên, ngẫu hứng, cái hỗn độn được nhấn mạnh. Cái vô nghĩa, đơn điệu của đời sống cũng là một sản phẩm của cái phi lí. Đó là lí do tại sao trong sáng tác của văn học hiện sinh, nhiều nhà văn thường diễn tả tập trung cái nghịch lí, sự bí ẩn không dễ gì giải thích.

 

Trong văn học, sự “hiện diện” của chủ nghĩa hiện sinh được thể hiện khá đa dạng với những đậm - nhạt khác nhau ở các tác phẩm cụ thể. Hình tượng con người cô đơn, con người nổi loạn, con người lo âu phổ biến, thể hiện hình tượng thân phận con người hiện đại. Cùng với đó, cấu trúc không gian, thời gian, các motif, biểu tượng cũng thể hiện tinh thần hiện sinh. Chủ nghĩa hiện sinh đã đáp ứng nỗi ưu tư của con người và khát khao tự khẳng định gương mặt tinh thần của chính nó, những nét độc đáo, riêng biệt của nó so với các khuynh hướng, trào lưu khác.

 

1.2.2. Một số lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh trong văn học

 

Lý thuyết phân tâm học

 

Lý thuyết phân tâm học nghiên cứu về thế giới bên trong con người, nhằm tìm ra lời giải cho những biểu hiện ra bên ngoài của khách quan, thể hiện qua hành vi của con người mà biểu hiện của loại hành vi đó là những hoạt động gây ảnh hưởng đến những giá trị của đạo đức và xã hội. Người sáng lập ra lý thuyết này là S. Freud, một bác sĩ tâm thần học người Áo. Học thuyết Freud ra đời trong bối cảnh văn hóa xã hội phương Tây cuối thế kỷ XIX đang lâm vào khủng hoảng, hoang mang mất phương hướng trước thời đại khoa học kĩ thuật phát triển buộc họ chuyển sang tìm hiểu về thế giới nội tâm con người. Ưu thế của phân tâm học là đã đưa đến những phát hiện mới về con người chứa đựng những hiểu biết mang tính triết học sâu sắc về tồn tại người trong thế giới hiện đại. Trong quan niệm của Freud, đời sống tâm lý hàng ngày diễn ra ở con người không phải chủ yếu do ý thức mà do vô thức điều khiển. Vô thức được cho là nơi chứa đựng tầng sâu thẳm nhất của tâm thần con người. Đó là nơi dung chứa phần bản năng, tình cảm và dục vọng của con người. Con người là một bản thể phức tạp. Nếu chỉ xem xét con người như một sinh thể có ý thức và hoàn toàn duy lý sẽ dẫn đến một cái nhìn thiếu toàn diện về con người. Tri thức về phân tâm học giúp con người hiểu hơn về chính con người, điều này rất gần với tư tưởng cốt lõi của chủ nghĩa hiện sinh quan tâm đến thân phận con người trong đời sống thực tại. Luận án vận dụng mối liên hệ của phân tâm học với chủ nghĩa hiện sinh để lí giải rõ hơn về các phạm trù hiện sinh trong thơ ca đương đại. Rất nhiều phạm trù của phân tâm học như “vô thức” (unconscious), “mặc cảm”, “tính dục” (sexuality), “cái tôi” (ego), “cái siêu tôi” (super ego) đều có mối quan hệ chặt chẽ và được thể hiện trong quá trình sáng tạo văn học.

 

Cảm thức nghệ thuật theo quan niệm của S. Freud là sự biểu hiện của những ham muốn vô thức. Điều đó trở thành tiền đề lí luận để nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh trong thơ ca đương đại. Thậm chí, như ta biết, chính đại biểu lớn của chủ nghĩa hiện sinh Jean-Paul Sartre đã đề xuất thuật ngữ “phân tâm học hiện sinh” (existential psychoanalysis) để chỉ một hình thức của phân tâm học, có nhiệm vụ chính yếu là “khảo sát” lịch sử một cá nhân nhằm “phát hiện ra bản tính của sự lựa chọn nền tảng độc nhất của anh ta về chính anh ta và dự phóng nền tảng rút ra từ đó”. Tức là Sartre đồng ý với Freud khi cho rằng nền tảng sáng lập rằng tính nhân vị đã được hình thành tự tuổi thơ. Nhưng ông không đồng ý rằng các động cơ và ham muốn nền tảng đó là bất biến và quyết định một lần cho suốt đời. Nếu Freud coi ham muốn tính dục là thứ giúp soi sáng các hành động và ứng xử phức tạp và ham muốn gốc đó tác động gần như là đồng nhất thì Sartre cho rằng nền tảng đó không phải là bất biến, trải nghiệm sinh trong đời (tiểu sử và kinh nghiệm sống) làm thay đổi và hòa trộn “kiến tạo lại” nền tảng bản năng đó. Chính Sartre đã thực hành vận dụng phương pháp phân tâm học hiện sinh vào các tác phẩm phân tích tiểu sử nhà văn cụ thể như các chuyên luận Beaudelaire (1946), Saint Genet (1952).

 

Lý thuyết liên văn bản

 

Lý thuyết liên văn bản là hệ thống những diễn ngôn về văn bản trong sự cố gắng soi tỏ các vấn đề của văn bản. Với lý thuyết liên văn bản, ta có thêm công cụ hiểu sâu về mọi thuộc tính bản thể của một văn bản văn học nói chung, một văn bản thơ ca nói riêng. Lý thuyết liên văn bản tạo điều kiện tìm ra cách tiếp cận phù hợp đáng tin cậy đối với những sáng tác mang tâm thức của thời đại mới và chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại như các tác phẩm mang dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh. Vì chủ nghĩa hiện sinh vốn được xem là một trong những triết học khó hiểu bậc nhất do vậy sử dụng lý thuyết liên văn bản sẽ góp phần giải mã những quan niệm trái chiều, những quan niệm trừu tượng, mới mẻ và có phần xa lạ. Theo lý thuyết liên văn bản hiện đại thì vòng đời của tác phẩm được hoàn tất là nhờ có bạn đọc. Tác phẩm của nhà văn luôn chịu sự chi phối của quy luật các mối liên hệ: đời sống - tác giả - văn bản - người đọc. Người đọc sẽ đóng vai trò định giá làm cho tác phẩm được hoàn thành. Tác phẩm có giá trị hay không chính là phụ thuộc tầm đón nhận của bạn đọc. Tầm đón là một khái niệm do K. Mannheim (1893-1947) - nhà triết học xã hội học người Đức nêu ra, sau đó được Hans Robert Jauss (1921-1997) vận dụng vào văn học. Lý thuyết liên văn bản nhấn mạnh tính kết nối giữa các văn bản. Với một văn bản, ở đó, người ta có thể “nhìn” được sự khúc xạ của vô vàn văn bản trước đó hoặc cùng thời. Ở Việt Nam, kể từ những năm 1971 cho đến nay, có nhiều tên tuổi đã có công lan tỏa thuyết liên văn bản vào đời sống văn học như Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử, Phương Lựu, Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào, Trương Đăng Dung, Lã Nguyên, Nguyễn Hưng Quốc, Phùng Văn Tửu, Nguyễn Văn Dân, Hoàng Phong Tuấn...

 

Trước một vấn đề mới mẻ gây nhiều quan điểm trái chiều như chủ nghĩa hiện sinh thì lý thuyết liên văn bản sẽ giúp làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng. Chẳng hạn hiện tượng thơ Lê Đạt, thơ Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Bùi Giáng, Cát Du... khi vừa xuất hiện đã gây nên làn sóng bàn luận. Lý thuyết liên văn bản góp phần hóa giải những quan niệm trái chiều để hướng đến nhìn nhận công bằng về tác phẩm và ghi nhận sự đóng góp của các nhà thơ đương đại trong việc tiếp thu và sáng tạo những tinh hoa của văn học thế giới.

 

Lý thuyết về nghiên cứu loại hình - thể loại và khuynh hướng thơ

 

Thơ ca là khái niệm chỉ các sáng tác văn học có vần điệu, có đặc điểm ngắn gọn, súc tích nhiều ý cô đọng. Thơ thường dùng như hình thức biểu cảm xúc trữ tình hoặc tình cảm xúc động trước hiện tượng xảy ra trong cuộc sống. Thơ tồn tại như một thể loại văn học, là tất cả những gì thuộc tình cảm và lý trí chịu sự chi phối của cảm xúc rung động đa dạng của con người.

 

Loại hình học chú ý đến những đặc trưng mang tính quy luật chi phối sự hình thành, phát triển của một hiện tượng hay một nhóm hiện tượng văn học. Nghiên cứu loại hình để chỉ ra một cộng đồng thẩm mĩ trong thơ. Nghiên cứu loại hình dựa trên một hệ tiêu chí xác định sự tương đồng có tính quy luật giữa các hiện tượng thơ, nghĩa là nghiên cứu trên một hệ quy chiếu xếp chồng những tác phẩm thơ để tìm ra những trùng hợp nhất định làm nên tính tương đồng để từ đó nắm bắt được những quy luật, xác định được những nguyên tắc chi phối việc hình thành và phát triển của tác phẩm. Nguyễn Thanh Tâm nhấn mạnh “Tư duy loại hình đem đến cho chúng ta cái nhìn mạch lạc về đối tượng” và “Lịch sử loại hình không tách rời lịch sử phát triển của tư duy, văn học và nghệ thuật” [134, tr. 32]. Lý thuyết loại hình giúp truy tìm quy luật và sự hình thành vận động của các hiện tượng văn học, thơ ca “Lý thuyết loại hình trong nghiên cứu văn học mang tham vọng truy tìm quy luật bất biến, hằng định chi phối sự hình thành, vận động và phát triển của các hiện tượng văn học, chỉ ra tính nhất dạng trong phong phú, lý giải cơ sở tồn tại và hiệu quả thẩm mỹ của các hiện tượng văn học đó” [134, tr. 32].

 

Trong thời đại toàn cầu hoá, con người có sự thay đổi về tư duy, quan niệm thẩm mỹ, từ đó cũng hình thành kiểu thi sĩ, kiểu sáng tác, kiểu tư duy sáng tạo mới. Trong bối cảnh đương đại, người ta nhận ra những thay đổi thực sự quan trọng trong quan niệm của các nhà thơ về chất thơ. Thơ đi sâu khám phá đời sống nội tâm chủ quan của con người cá nhân cá thể. Thơ đương đại có sự thay đổi về chất thơ và cách thức biểu hiện. Đó là tiếng nói đa thanh, phức điệu. Nhà thơ được “cởi trói”, được tự do trong sáng tạo, được sống đúng với cái tôi cá thể. Thơ hôm nay biểu hiện sự hòa hợp giữa ý thức và vô thức, cái cá thể, bản thể, đạo đức, bản năng. Chính quan niệm mới về chất thơ trong cuộc sống mới đã kéo theo sự thay đổi trong cách biểu đạt. Cách sử dụng ngôn ngữ, giọng điệu, hình ảnh, biểu tượng, cấu trúc cú pháp đã có sự đổi khác phù hợp với việc biểu hiện tính hiện sinh khai thác chiều sâu bản thể con người với những tầng sâu, phần chìm trong sâu thẳm tâm hồn con người với những âu lo khắc khoải, những khát vọng vươn lên để khẳng định nhân vị con người. Thơ là hình thức nghệ thuật dùng ngôn từ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới hình thức logic nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh khơi gọi xúc cảm thẩm mĩ nơi người đọc, người nghe.

 

Lý thuyết về nghiên cứu các khuynh hướng thơ

 

Các khuynh hướng văn học và thơ ca luôn vận động và phát triển. Một khuynh hướng văn học hay khuynh hướng thơ ca xuất hiện là sự tổng hợp của những yếu tố nội sinh và ngoại sinh. Tính khuynh hướng là điều kiện cần thiết để có tính tư tưởng và tính nghệ thuật cao trong sáng tác. Nó biểu hiện không những quan điểm và thái độ nhìn nhận đúng đắn các hiện tượng đời sống được miêu tả, mà còn ở sự nhận thức được chiều sâu của các hiện tượng ấy, miêu tả được sự vận động và xu thế phát triển tất yếu của cuộc sống. Tính khuynh hướng là một xu thế tư tưởng bắt nguồn từ cuộc sống, từ đấu tranh xã hội. Nhà văn phải nhạy bén cảm nhận được bước đi của thời đại, nhìn ra chiều hướng phát triển của lịch sử theo quy luật thì mới có thể sáng tác được những tác phẩm giàu tính khuynh hướng.

 

Khuynh hướng là những hiện tượng cùng gặp gỡ nhau, có nét tương đồng, thậm chí gặp gỡ nhau trong mục đích đi tìm con người có trong từng tác giả. Khuynh hướng là nghiêng về một hướng nào đó, đi tìm một hướng nào đó. Tính khuynh hướng trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng toát ra một cách tự nhiên từ sự miêu tả sinh động đời sống chứ không phải qua những lý thuyết khô khan hoặc những tư tưởng trìu tượng. Khuynh hướng xuất hiện có cơ sở xã hội chứ không phải là từ ý đồ sáng tác mang tính chủ quan của nhà văn. Qua khuynh hướng sáng tác cho thấy quá trình vận động và phát triển của văn học nói chung thơ ca nói riêng. Có nhiều khuynh hướng thơ. Chẳng hạn, khuynh hướng thơ truyền thống, khuynh hướng thơ hiện đại, khuynh hướng thơ trữ tình, khuynh hướng thơ tự sự...

 

Một số khái niệm, phạm trù của lý thuyết thi pháp học hiện đại.

 

Trước hết, cần nói đến khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người. Quan niệm nghệ thuật về con người, theo Trần Đình Sử, là một loại nội dung, cái lí, cái logic của sự miêu tả về con người, tức là nội dung của riêng hình thức, nó trả lời câu hỏi vì sao nhà văn lại miêu tả con người như thế, chọn chi tiết như thế. Đây không phải là vấn đề quan niệm về nhân vật cụ thể mà là quan niệm về con người nói chung, như một phạm trù khái quát, từ đó mà miêu tả nhân vật cụ thể. Như vậy, khi nói tới “quan niệm nghệ thuật về con người”, quan niệm ấy phải mang ý nghĩa phổ quát. Đồng thời, chính nó cũng có sự vận động, biến đổi. Chính sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người cho thấy sự vận động và cách tân của văn học. Với các thể loại văn học khác nhau, quan niệm nghệ thuật về con người cũng có những điểm khác nhau căn bản. Đi vào sáng tác của mỗi nhà văn, rõ ràng, quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện rõ nét dấu ấn cá nhân của người nghệ sĩ, cho thấy những phát hiện bất ngờ, độc đáo của anh ta so với các nhà văn khác.

 

Thứ hai, khái niệm thời gian nghệ thuật. Thời gian nghệ thuật hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể. Trong văn học nghệ thuật, sự miêu tả, trần thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian. Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức; sự sống, cái chết, gặp gỡ chia tay, … tạo nên nhịp điệu trong tác phẩm. Thời gian nghệ thuật gắn liền với tổ chức bên trong của hình tượng nghệ thuật. Thời gian nghệ thuật thể đảo ngược, quay về quá khứ, bay tới tương lai, thể dồn nén thời gian dài trong chốc lát, thể kéo dài cái chốc lát thành vô tận. Thời gian nghệ thuật là  một phương thức giúp con người tự cảm thấy sự tồn tại, sự có mặt của mình trong thế giới. Mặt khác thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người trong từng thời kỳ lịch sử, từng giai đoạn phát triển. Trong thế giới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật xuất hiện như một hệ quy chiếu đều được giấu kín để miêu tả đời sống trong tác phẩm, cho thấy đặc điểm duy của tác giả. Phạm trù thời gian nghệ thuật cung cấp một sở để phân tích cấu trúc bên trong của hình tượng văn học, cũng như nghiên cứu loại hình các hiện tượng nghệ thuật trong lịch sử.

 

Thứ ba, khái niệm không gian nghệ thuật. Là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự miêu tả trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong trường nhìn nhất định. Không gian nghệ thuật gắn với sự cảm thụ về không gian của chủ thể nên mang tính chủ  quan. Ngoài không gian vật thể còn có không gian tâm tưởng. Không gian nghệ thuật có thể mang tính địa điểm, tính phân giới dùng để hình hóa các phạm trù thời gian như các cách nói bước đường đời, con đường cách mạng. …Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học mà còn cho thấy quan niệm của nhà văn, người nghệ sĩ về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn, thời đại văn học. Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của hình tượng nghệ thuật.

 

Thứ tư là khái niệm cấu trúc tác phẩm. Là tổ chức nội tại, mối quan hệ qua lại của các yếu tố của tác phẩm mà sự biến đổi một yếu tố nào trong đó sẽ kéo theo sự biến đổi các yếu tố khác. Cấu trúc của tác phẩm văn học được hiểu như là mối quan hệ qua lại của các kí hiệu thẩm mĩ đặc thù, bởi tác phẩm là một thông báo bằng ngôn ngữ đặc biệt. Muốn hiểu tác phẩm cần đặt các yếu tố vào trong cấu trúc của nó. Toàn bộ các yếu tố như nội dung, tư tưởng, chủ đề, kết cấu, ngôn ngữ, biểu tượng đều tham gia vào cấu trúc của tác phẩm tạo ra một hình thái về mối quan hệ thẩm mĩ giữa chủ thể và thế giới. Sự lặp lại một cách bền vững các yếu tố trong cấu trúc cho phép nghĩ đến các mẫu gốc của tư duy nghệ thuật. Cấu trúc tác phẩm của thơ đương đại Việt Nam vừa cho thấy sự tuân thủ nghiêm ngặt về đặc trưng loại thể đồng thời cũng cho thấy những khoảng không gian sáng tạo của các tác giả.

 

Mỗi một tác phẩm văn học là một chỉnh thể gồm hàng loạt các yếu tố như chủ đề, tư tưởng, kết cấu, ngôn ngữ, nhân vật, hình tượng, cốt truyện. Sự kết hợp các yếu tố này tạo cho tác phẩm tính chỉnh thể mang tính thống nhất hữu cơ giữa nội dung thẩm mĩ và hình thức nghệ thuật. Tác phẩm văn học được hiểu như một quá trình vận động sáng tạo và tiếp nhận, phản ánh sự tương tác từ tác giả đến độc giả và từ độc giả tác động trở lại chính tác giả văn học. Vòng đời của tác phẩm vận động nhờ sự cảm thụ của độc giả. Độc giả là người nghiên cứu phê bình, lý giải làm phát sinh những phán đoán, đánh giá về nội dung thẩm mĩ của tác phẩm. Tác phẩm văn học được hiểu như một quá trình đồng sáng tạo và tiếp nhận. Cách thức tổ chức tác phẩm bị chi phối bởi thể loại văn học, cá tính sáng tạo của nhà văn, cách thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm...

 

 

 

Tiểu kết chương 1

 

Chủ nghĩa hiện sinh là trào lưu triết học xuất hiện ở phương Tây trong bối cảnh cuộc khủng hoảng của chiến tranh. Đến cuối Chiến tranh thế giới lần thứ II, nó trở thành một phong trào được biết đến rộng rãi. Có nhiều công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh của các học giả uy tín trên thế giới và trong nước. Tại Việt Nam, có thể kể đến Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Tiến Dũng, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Văn Trung, Phạm Văn Sĩ, Ngô Kim Châu... Các công trình nghiên cứu đã đưa đến cho người đọc một cái nhìn khá rõ nét về chủ nghĩa hiện sinh và sự hiện diện của nó ở Việt Nam. Dấu ấn hiện sinh thể hiện rõ nét, phong phú là từ những năm 1955-1975 ở miền Nam, khi có sự soi chiếu của triết học - mĩ học hiện sinh. Từ sau năm 1986, trong bối cảnh xã hội với những điều kiện lịch sử mới, chủ nghĩa hiện sinh đã tái xuất hiện và có ảnh hưởng sâu rộng trong thơ ca và đời sống xã hội. Khuynh hướng hiện sinh chịu sự ảnh hưởng bởi tư tưởng của các nhà triết học hiện sinh vô thần và hữu thần như Heidegger, Jean-Paul Sartre, Albert Camus. Chính vì quan tâm đến cuộc đấu tranh thầm lặng của mỗi cá nhân trước sự vô nghĩa của cuộc sống, chủ nghĩa hiện sinh có sự phù hợp với hoàn cảnh xã hội và con người Việt Nam khi vừa thoát ra khỏi những  năm tháng chiến tranh triền miên. Khi mới xuất hiện ở Việt Nam, chủ nghĩa hiện sinh được nhìn nhận bởi nhiều quan điểm trái chiều. Có quan niệm cho rằng đó là tư tưởng bi quan, bế tắc. Thậm chí có người còn cho rằng, đó là tư tưởng “mang tính phản động”. Càng về sau, chủ nghĩa hiện sinh càng khẳng định được vị thế và tầm quan trọng trong văn học nói chung và thơ Việt Nam đương đại nói riêng. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản. Điều khác biệt ở triết học hiện sinh so với triết học truyền thống là nó quan tâm đến thân phận con người trong thực tại, không đi tìm lẽ huyền bí xa xôi nào mà quan tâm vào chính bản thể con người với các chủ đề như cái bản thể, nỗi cô đơn, sự phi lý, buồn nôn, tự do, dục tính, cái chết. Thơ Việt Nam đương đại có sáng tác mang đậm dấu ấn các chủ đề của chủ nghĩa hiện sinh. Từ những điểm tương đồng trong tư tưởng, tư duy sáng tác, các nhà thơ đương đại đã tạo ra một khuynh hướng hiện sinh trong thơ, đưa đến những đóng góp đáng ghi nhận cho nền thơ ca dân tộc.

 

 

 

 Chương 2

 NHẬN DIỆN KHUYNH HƯỚNG HIỆN SINH TRONG THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

 

2.1. Bức tranh toàn cảnh thơ Việt Nam đương đại và việc phân loại các khuynh hướng thơ

 

2.1.1. Bức tranh toàn cảnh thơ Việt Nam đương đại

 

Nghị quyết đại hội VI của Đảng vào tháng 12 năm 1986 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng tạo ra cho dân tộc và văn học một bước ngoặt mới sau một thời kỳ dài sống trong sự tù túng, bế tắc. Sau năm 1975, con người Việt Nam bước ra khỏi chiến tranh phải đối mặt với tàn dư của cuộc chiến như đói nghèo, lạc hậu. Cùng với đó, trên thế giới có sự khủng hoảng sụp đổ của hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa và Liên bang Xô viết. Cơ cấu quản lý quan liêu bao cấp đã khiến con người mất hết quyền tự do, tự chủ. Quyết định đổi mới về tư duy, quyết định “mở cửa”, xóa bỏ cơ chế quản lý quan liêu bao cấp đã có sự tác động thay đổi mạnh mẽ về đời sống chính trị xã hội đem lại cho đất nước một không khí dân chủ mới. Đất nước ta bước vào hội nhập quốc tế trở về với cuộc sống đời thường. Giới nghệ sĩ có điều kiện nhìn nhận lại, suy tư trăn trở, chăm lo cho cuộc sống của chính bản thân mình. Giới trí thức có điều kiện tự do tìm tòi sáng tạo. Họ được cởi trói tinh thần và tự do sáng tạo, tự do nói lên những cung bậc cảm xúc thật đầy thăng hoa của người nghệ sĩ. “Chưa bao giờ chúng ta chứng kiến con người Việt Nam mở rộng tất cả các chiều kích như lúc này” [Dẫn theo 150, tr. 22].

 

Sự xuất hiện cơ chế kinh tế thị trường cũng tác động sâu sắc đến đời sống xã hội và thơ ca. Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà trong đó người mua người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hóa dịch vụ trên thị trường. Mô hình này vừa có ưu điểm vừa có những mặt tồn tại. Về ưu điểm, nó kích thích nhu cầu sản xuất tiêu thụ hàng hóa, tạo ra động lực sản xuất và tính cạnh tranh về lợi nhuận, thúc đẩy năng suất lao động. Nó khích lệ cá nhân lao động, sáng tạo để tăng năng suất lao động. Mô hình kinh tế thị trường mở rộng giao thương hàng hóa, tạo thị trường lao động, tìm kiếm việc làm cho con người. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng mang những mặt trái ảnh hưởng đến đời sống xã hội. Cơ chế phân bố nguồn lực trong nền kinh tế thị trường có thể dẫn tới bất bình đẳng trong xã hội và quan niệm. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa hơn tạo nên sự phân chia giai cấp, tạo sự bất ổn trong xã hội. Trong một số tình huống, vì quá đề cao nền kinh tế thị trường, thiếu sự điều tiết của nhà nước sẽ tạo hội cho sự ích kỷ cá nhân, vì lợi ích cá nhân mà vô cảm với cộng đồng. Con người mải mê chạy theo lợi nhuận vật chất, bất chấp cả những giá trị đạo đức, từ đó dẫn đến con người luôn cảm thấy cô đơn trong tinh thần. Chính đặc điểm của nền kinh tế thị trường cũng tác động đến hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Một bộ phận chạy theo lợi nhuận viết tác phẩm để câu khách, không chú trọng việc kiến tạo những sáng tạo có giá trị trường tồn.

 

Cùng với mô hình kinh tế thị trường, sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật cũng là một yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống và văn học nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng. Khoa học kĩ thuật phát triển, nhất là sự bùng nổ của ngành công nghệ thông tin kết nối internet đã tạo ra một thế giới phẳng. Một kho tư liệu khổng lồ khiến con người bị cuốn theo và việc xử lí, “gạn đục khơi trong” lượng thông tin khiến cho một bộ phận tiếp nhận một cách thái quá, lệch lạc. Trong xu thế hội nhập đa dạng thông tin nghe nhìn, thơ được cho là bị mất nơi trú ẩn đòi hỏi phải có sự thay đổi nhanh chóng... Tất cả những yếu tố trên đã tác động đến đời sống, nhận thức của con người Việt Nam. Hoàn cảnh xã hội thay đổi đòi hỏi các nhà thơ cần có sự thay đổi sâu xa trong tư duy, quan niệm thẩm mĩ để thích ứng với thời đại.

 

Trong bài viết “Thơ Việt Nam sau 1975 - một cái nhìn toàn cảnh”, Nguyễn Đăng Điệp đã có cái nhìn bao quát và những bàn luận đánh giá trung thực, khách  quan, cụ thể về bức tranh chung của thơ Việt Nam đương đại trên nhiều phương diện. Cách phân chia thơ đương đại theo trục thời gian như thơ giai đoạn 1975-1985, thơ giai đoạn sau năm 1986, đã đưa đến cho người đọc một cái nhìn cụ thể hơn về sự vận động của thơ Việt Nam đương đại. Thơ giai đoạn 1975-1985 được cho là giai đoạn chuyển đổi về tư duy nghệ thuật. Từ chỗ là những ca sĩ ngợi ca đất nước và nhân dân bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn, giờ đây, các nhà thơ chuyển sang cái nhìn phi sử thi thể hiện tinh thần dân chủ sâu sắc. Ở giai đoạn này, “Cảm hứng nhân bản và sự thức tỉnh cá nhân đã trở thành nét riêng và cảm hứng chủ đạo của văn học và thơ ca sau 1975” [37, tr. 59]. Về sự vận động của tư duy thơ giai đoạn này, Nguyễn Đăng Điệp nhấn mạnh hai mạch chính. Mạch thứ nhất là cảm hứng sử thi vẫn được tiếp nối. Nhưng các nhà thơ có cái nhìn đa chiều về chiến tranh. Bên cạnh ngợi ca tôn vinh, thơ ca còn quan tâm đến số phận, những bi kịch mất mát của cá nhân con người. Mạch thứ hai, thơ ca những năm 1975-1980 quan tâm nhiều đến cuộc sống đời thường. “Chưa bao giờ nhà thơ thấy nhiều bi kịch đến thế”. Các nhà thơ quan tâm nhiều đến những mặt trái của đời sống, những thay đổi các bậc thang giá trị, những vô lý bất công. Thơ giai đoạn sau năm 1986 với tinh thần “Đổi mới” góp phần xác lập một quan niệm mới về nghệ thuật. Nguyễn Đăng Điệp cho rằng với tinh thần đổi mới, sự ảnh hưởng của  cơ chế thị trường đã tác động đến sự thay đổi về tư duy nghệ thuật của thơ ca giai đoạn này. Và thơ ca Việt Nam giai đoạn sau năm 1986 có ba quan điểm về sự đổi mới. Đó là ý thức nhìn cuộc đời bằng cái nhìn tỉnh táo, thơ hiện ra như một hình thức tra vấn về lịch sử. Thực chất đó là cái nhìn “giàu chất suy tư” về cuộc sống. Tiếp theo là nỗ lực khám phá sự phong phú của cái tôi ẩn giấu, phơi bày những bi kịch nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn quá ổn định... Đặc điểm thứ ba, thơ như một ngôn ngữ. Thơ bắt đầu xuất hiện những giọng thơ lạ, đậm màu sắc phương Tây, hiện đại.

 

Thơ Việt Nam nói chung và thơ Việt Nam đương đại nói riêng luôn vận động đổi mới để tồn tại và phát triển. Nói về sự đổi mới của thơ đương đại là nói sự đổi mới trong hệ hình tư duy, trong cảm xúc và trong cách thức thể hiện. Thơ Việt Nam đương đại vận động trong bối cảnh hội nhập với thơ ca thế giới đưa đến sự xuất hiện nhiều khuynh hướng cách tân thơ. Sáng tạo thơ là sáng tạo chữ. Các tác giả như Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, Dương Tường... là những người đã làm nên thành quả từ quan niệm mới này. Thơ Việt Nam đương đại có xu hướng cách tân thể thơ, ngôn ngữ. Nhiều tác giả được xếp vào hàng ngũ những nhà thơ thực hiện thiên chức thơ thời kỳ đổi mới, đó là “cuộc vật lộn tiếp diễn của sáng tạo và tiếp nhận” (Vi Thùy Linh). Đó là Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Inrasara, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Văn Cẩm Hải, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Thiên Ngân, Lê Khánh Mai...

 

Nhận định về thơ sau năm 1975, Nguyễn Đăng Điệp nhấn mạnh điểm nổi bật của thơ Việt Nam sau năm 1975 “đa dạng về phong cách, phong phú về giọng điệu”. Có nhà thơ vẫn tiếp tục phát triển nền tảng thi ca dân tộc, cũng có những nhà thơ có sự cách tân theo kiểu phương Tây với cách viết tỉnh táo, giấu kín cảm xúc. Ở thời kỳ này, mỗi nhà thơ có cách thể hiện và cái nhìn nghệ thuật riêng của mình. Quá trình vận động của các tác giả cho thấy những điểm gần gũi, sự gặp gỡ về tư duy, quan niệm thẩm mĩ, cách nghĩ, cách thể hiện. Và chính “Sự gần gũi về quan niệm và phong cách giữa một số nhà thơ có thể hình thành một xu hướng, một phái nhóm” [37, tr. 57]. Cảm hứng chủ đạo và nền tảng của thơ đương đại sau 1975 là cảm hứng nhân bản và sự thức tỉnh cá nhân. Sự đổi mới thơ đương đại có những biểu hiện như: Ý thức nhìn cuộc đời bằng cái nhìn tỉnh táo, thơ ca hiện ra như một hình thức tra vấn không ngừng về lịch sử. Nhưng đó không phải là những suy tư về cái tôi cá nhân riêng lẻ mà là sự bộc lộ “năng lực cảm nhận chiều sâu thế giới của nghệ sĩ”.

 

Trong chuyên luận Thơ Việt Nam hiện đại, tiến trình và hiện tượng, Nguyễn Đăng Điệp thực hiện một sự phân loại các xu hướng thơ Việt sau 1975 như sau: 1) Xu hướng viết về chiến tranh qua những khúc ca bi tráng về số phận của dân tộc; 2) Xu hướng trở về với cái tôi cá nhân, những lo âu của đời sống thường nhật; 3) Xu hướng đi sâu vào những vùng mờ tâm linh, đậm chất tượng trưng, siêu thực; 4) Xu hướng hiện đại (và hậu hiện đại) [37]. Về xu hướng thứ nhất - xu hướng viết về chiến tranh qua những khúc ca bi tráng. Với xu hướng này, các nhà thơ đã có độ lùi cần thiết để có cái nhìn toàn diện hơn về chiến tranh. Chiến tranh trở về trong kí ức với những lý giải tỉnh táo hơn. Chiến tranh không chỉ là khúc ca hào hùng, là sự ngợi ca lý tưởng một chiều mà còn là những mất mát đau thương, sự phi lý. Xu hướng thứ hai trở về với cái tôi cá nhân, những âu lo của đời sống thường nhật. Nguyễn Đăng Điệp viết “đây là xu hướng nổi bật nhất trong thơ sau 1975”. Nhà thơ chuyển từ giọng điệu ngợi ca sang giọng điệu thấm nhuốm nỗi buồn nhân sinh. Nhiều nhà thơ công khai nói về nỗi buồn gắn chặt với một thực tại mới với một cảm quan nghệ thuật mới. Theo Nguyễn Đăng Điệp, “nét nổi bật của xu hướng này là các nhà thơ rung động trước những biến thái tinh tế, sâu kín, nhiều khi ngỡ như thật mong manh”. Nỗi buồn thể hiện trên nhiều cấp độ. Đó là nỗi buồn vì sự sụp đổ thần tượng vốn được tôn thờ và chỗ dựa tưởng chừng kiên cố. Nỗi buồn vì cái tôi bản thể, cái tôi cá nhân bị lãng quên. Đó còn là nỗi niềm suy tư về tình cảm riêng tư. Để diễn tả nỗi buồn nhân sinh, các nhà thơ sử dụng giọng điệu tự thú, tự bạch. Xu hướng thứ ba đi sâu vào những vùng mờ tâm linh đậm chất tượng trưng siêu thực. Thơ ca sau năm 1975 vận động theo nhiều hướng. Nhưng chủ trương đào sâu vào bản thể tâm linh là một trong những hướng đi được nhiều người tìm đến. Nét nổi bật của xu hướng này là “nỗ lực đào sâu vào cái tôi ẩn giấu, cố gắng phát hiện chiều sâu tâm linh của con người” [37, tr. 68]. Các nhà thơ chú trọng “khai thác sự đa chiều của cái tôi”, khai thác “cấu trúc của cái tôi trong quan hệ với chính nó”. Sau cùng cần phải nói đến xu hướng thứ tư - xu hướng thơ hiện đại và hậu hiện đại. “Xu hướng này thể hiện rõ nhất trong sáng tác của nhiều cây bút trưởng thành sau 1975 như Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Inrasara, Trần Tiến Dũng, Phan Huyền Thư, Mai Văn Phấn, Vi Thùy Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh. … [37]. Cùng với việc chỉ ra các xu hướng nổi bật nêu trên, Nguyễn Đăng Điệp còn cho thấy sự biến đổi về thể loại thơ đương đại. Sự biến đổi đầu tiên là ở sự “nới lỏng” các thể loại thơ truyền thống. So với truyền thống, thơ đương đại sử dụng nhiều thể thơ tự do và thơ văn xuôi. Tác giả chỉ rõ thơ tự do được sử dụng áp đảo do “đây là thể thơ cho phép nhà thơ triển khai tự do hơn những phức hợp cảm xúc cá nhân”. Sử dụng thơ tự do thể hiện sự giao thoa thể loại, trong đó đáng kể nhất là ảnh hưởng của chất văn xuôi vào thi ca. Và một lý do nữa là khi sử dụng thể thơ tự do và thơ văn xuôi khiến cho giọng điệu thơ trở nên thô ráp hơn, nhịp điệu thơ mang nhiều bất ngờ hơn. Nguyễn Đăng Điệp cũng chỉ ra những động hình ngôn ngữ trong thơ đương đại “ngôn ngữ thơ sau 1975 trở nên trúc trắc, ngôn ngữ thơ phong phú, giọng điệu thơ đa dạng hơn” [37, tr. 77]. Trong ngôn ngữ thơ đương đại có các kiểu ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ thơ giàu chất tượng trưng, ngôn ngữ thân thể và những “trò chơi” ngôn ngữ.

 

Cùng với Nguyễn Đăng Điệp, Trần Mạnh Tiến trong công trình nghiên cứu “Thơ Việt trên hành trình đổi mới” đã có sự đánh giá thỏa đáng về thơ Việt Nam đương đại. Ông khẳng định “Từ thời điểm đổi mới trở đi, thơ đương đại ngày càng thể hiện rõ quan niệm nghệ thuật mới bằng cảm hứng sáng tác, cái tôi trữ tình, những hình tượng, giọng điệu, ngôn từ mới, phản ánh tính chất đa thanh phức điệu của cuộc sống muôn màu muôn vẻ” [152, tr. 19]. Theo ông, “khi bước vào thời kỳ đổi mới các quan niệm thẩm mĩ, đạo đức tín ngưỡng, các thể loại văn học, các loại hình nghệ thuật khác trong và ngoài nước đều chuyển động theo trào lưu văn hóa mới, tác động đến tâm hồn tư tưởng nhà thơ và bạn đọc” [152, tr. 21]. Mặc dù thơ đương đại Việt Nam chưa có tác phẩm nào làm chấn động tâm can hàng triệu con người, chưa có những đỉnh cao nhưng “cái hay của thơ Việt Nam đương đại thường là những mảnh hiện thực mới, những nét tâm tư và một số lối diễn ngôn mới lạ” [152, tr. 23]. Đồng quan điểm với Nguyễn Đăng Điệp, Trần Mạnh Tiến cũng nhấn mạnh sự thay đổi trong tư duy thơ đương đại Việt Nam, đó là “nhà thơ đi tìm tiếng nói riêng và công chúng bạn đọc cũng quan tâm đến cái tôi trữ tình của nhà thơ”. Thơ thời kỳ Đổi mới tiếp cận và lí giải hiện thực theo hướng khai thác đời sống nội tâm bên trong, đi tìm hiện thực sâu kín của phận đời, phận người. Nhà thơ Mai Văn Phấn quan niệm lý tưởng thi ca của sự cách tân nhằm gọi đúng bản chất của sự vật trong nhịp điệu đời sống hiện đại.

 

Khi viết “Một số vấn đề trong thơ đương đại’, Lưu Khánh Thơ cũng nhận định rằng: “Thơ đề cập đến mọi khía cạnh của đời sống, gắn bó với mỗi cá nhân, mỗi số phận. Thơ bắt nhịp cuộc sống mới đa chiều, phức tạp hơn” [146]. Trong bài viết “Thơ Việt từ hiện đại đến hậu hiện đại”, Inrasara đã cho rằng: “Cảm thức chủ yếu của hậu hiện đại là lối cảm nhận về thế giới như là một hỗn độn, vô nghĩa, bất khả nhận thức, nơi mọi bảng giá trị đều đổ vỡ, mọi định hướng ý nghĩa đều vô ích”. Trong bài viết “Thơ Việt ba mươi năm đổi mới”, Hồ Thế đã cái nhìn xuyên suốt về văn học nói chung thơ Việt Nam đương đại nói riêng. Khi đề cập đến thơ, ông nhấn mạnh: “Thơ ca đã nhanh chóng chuyển mình để đáp ứng nhu cầu phản ánh những hiện thực mới của đất nước con người trong tính chân thật, cụ thể tính nhân văn, nhân ái, đa dạng sinh động”. Theo đánh giá của ông Hồ Thế Hà, sự đổi mới đầu tiên lực lượng sáng tác. Đó là đội ngũ sáng tác đa dạng, đa thanh, đa phong cách, đa thi pháp...

 

Chính tổng số thi pháp đó đã làm nên “một thời đại thi ca Việt”. Tiếp sau lực lượng sáng tác ông đề cập đến quan niệm nghệ thuật về con người và hiện thực mới “cái nhìn nghệ thuật mới cho thơ giai đoạn này”. Mốc Đổi mới do Đảng khởi xướng đã thực sự tạo thành bệ phóng, thành cú hích cho mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có văn học. Nhà thơ nhìn lịch sử và dân tộc, Tổ quốc, quê hương, con người trong tinh thần nhân văn mới để không ngừng phát huy những giá trị văn hóa trầm tích trong quá khứ để nó có cơ hội tái hiện trong tâm thức của con người hiện đại. Kế đến, thơ quay về với muôn mặt đời thường và bộn bề xuôi ngược để yêu thương và căm giận, để đồng cảm và sẻ chia, để tự thoại và tự thú. Cũng theo ông Hồ Thế Hà, hoàn cảnh xã hội thay đổi, con người cũng có sự thay đổi trong nhu cầu thể hiện về cá tính, tính dục, tâm linh trở nên gấp gáp và nhiều khi như một mode thời thượng. Ông nhấn mạnh vai trò của các nhà thơ thế hệ 6X, 7X như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Quyền, Đặng Thân. Khuynh hướng thi ca mới từ các lý thuyết văn học nước ngoài trên cái nền văn hóa và ngôn ngữ Việt. Đó là trường hợp Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng, Hoàng Vũ Thuật. Đây là những nhà thơ đóng vai trò chủ đạo trong việc luôn làm mới thi ca cùng các thế hệ trẻ. Và, theo ông, sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về nhân vật trữ tình trong thơ sớm muộn gì cũng kéo theo sự thay đổi ngôn ngữ thơ. Giọng thơ tự thú, tự bạch trở thành nhu cầu chính của nhà thơ. Ngôn ngữ trong thơ Việt Nam đương đại là ngôn ngữ đa thanh, đa giọng điệu. Cùng với ngôn ngữ là thể loại thơ cũng rất đa dạng. Bên cạnh các thể thơ truyền thống có các thể thơ tự do, thơ văn xuôi, thơ không vần, thơ mini…như một nhu cầu cần thiết để thể hiện nội dung đời sống và các trạng thái cảm xúc đặc biệt của mình. Ông Hồ Thế Hà còn chỉ ra sự đổi mới của thơ Việt Nam hiện đại trên phương diện khuynh hướng “Một nền thơ phát triển và diễn ra trong điều kiện bình thường của lịch sử xã hội thì việc xuất hiện nhiều khuynh hướng, trào lưu, trường phái là cần thiết và hợp quy luật.” Nó thể hiện sự kiếm tìm dân chủ và khát vọng đổi mới trong học thuật sáng tạo để tạo ra sự đa dạng cho cả nền thơ đa dạng trong bút pháp của từng chủ thể sáng tạo. Những khuynh hướng được ông chia thành ba loại: Khuynh hướng nghiêng về thi pháp truyền thống, Khuynh hướng nghiêng về thi pháp hiện đại. Khuynh hướng nghiêng về thi pháp hiện đại-hậu hiện đại. Mà chủ thể chính là các nhà thơ trẻ trưởng thành sau 1975 như Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Đặng Thân, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Inrasara, Nguyễn Bình Phương, Ly Hoàng Ly, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Hữu Hồng Minh, nhóm thơ Ngựa biển, Vụt hiện, Dự báo phi thời tiết...

 

Nhìn chung, bức tranh toàn cảnh thơ 30 năm đã khẳng định nỗ lực sau một chặng đường dài. Đồng thời bối cảnh lịch sử của thời đại mới đòi hỏi các nhà thơ không thể nhìn cuộc sống như trước đây mà buộc họ phải thay đổi sâu sắc về tư duy nghệ thuật. Một trong những sự thay đổi đó là các nhà thơ đương đại đã tiếp nhận những luồng tư tưởng mới mẻ hiện đại của thế giới trong đó có sự tiếp thu ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh. Việc xuất hiện hàng loạt tác giả mà tác phẩm của họ in đậm dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh đã góp phần hình thành nên một khuynh hướng thơ đánh dấu sự hiện diện của tư tưởng chủ nghĩa hiện sinh trong thơ Việt đương đại và là tác nhân trực tiếp tạo sự đa dạng phong phú phức tạp trong đời sống thơ ca dân tộc nói riêng, văn học nghệ thuật nói chung.

 

2.1.2. Vấn đề phân loại các khuynh hướng thơ Việt Nam đương đại

 

Xuất phát từ những hệ thống và mục đích nghiên cứu khác nhau, cách phân loại sẽ khác nhau. Theo chúng tôi, từ sau năm 1986 trở đi, thơ Việt Nam chia theo thi pháp thể loại có thơ cách luật, thơ tự do, thơ văn xuôi, thơ tân hình thức, thơ truyền thống. Phân loại theo đối tượng nhận thức của thi ca gồm có: thơ chính trị, thơ xã hội, thơ điền viên, thơ làng quê …Ở luận án này, do hạn định phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào sự phân loại khuynh hướng thơ Việt Nam đương đại theo tiêu chí cảm hứng sáng tác chủ đạo. Đề tài chúng tôi quan tâm, phân loại theo cảm hứng tư tưởng sáng tạo và tập trung sự phân tích chủ yếu vào khuynh hướng cảm hứng hiện sinh. Cảm hứng sáng tạo là tình cảm mãnh liệt, một ham muốn tinh thần tích cực, là tư tưởng bão hòa cảm xúc của nhà văn được thể hiện cụ thể, sinh động trong hình tượng nghệ thuật của tác phẩm. Đó là những vấn đề thuộc về thân phận con người khiến cho người nghệ sĩ trăn trở, khắc khoải suy tư. Biểu hiện của cảm hứng tư tưởng thể hiện qua việc khẳng định hoặc phủ định đối với những điều được nhà văn nhà thơ miêu tả. Nghệ thuật vận dụng quy luật riêng của tình cảm nên khi tác giả đứng về thiên hướng nào thì sẽ có cảm xúc mãnh liệt về vấn đề đó. Chính điều đó khiến cho tác phẩm có tính khuynh hướng. Nhà văn Nga Shchedrin (1826-1889) cho rằng: “Ngẫu nhiên, rời rạc, nguội lạnh, nhạt nhẽo, đó là đặc trưng lớn nhất của tác phẩm không có tính khuynh hướng”.

 

Cụm từ “cảm hứng và tư tưởng sáng tạo” ở đây gợi ta nhớ đến cụm từ “tư duy thơ”. Trong ngữ vựng phổ thông cách dùng phân biệt giữa “tư tưởng”, “tư duy” với “cảm hứng”, “tình cảm” là một thực tế. Nhưng trong sáng tác thơ ca nói riêng, văn chương nói chung ranh giới giữa tư tưởng và tình cảm không phải là một đường vạch sẵn hay là giải phân cách không thể vượt lẫn. Nói cách khác, tư duy sáng tạo thơ là một tư duy bão hòa cảm hứng tình cảm sáng tạo. Và cách dùng “tư duy thơ” như một tiêu chí để phân loại các xu hướng sáng tác thơ là cách làm của tác giả Giáo trình tư duy thơ hiện đại Việt Nam. Trong phần 3 chương 8 sách này, tác giả chia thơ ca từ sau 1986 thành các xu hướng như sau:

 

1) Xu hướng đối thoại dân chủ và cảm hứng phê phán;

 

2) Xu hướng chối bỏ các thể thơ truyền thống;

 

3) Xu hướng duy trì các thể thơ truyền thống;

 

4) Thế tục hóa và dung tục hóa biểu tượng thi ca;

 

5) Đổi mới về chức năng xã hội và xu hướng thơ chơi [139, tr. 423-596].

 

Phân loại khuynh hướng sáng tác thơ ca dựa trên cảm hứng tư tưởng sáng tạo cũng có thể đưa đến một hình dung đáng chú ý. Nói chung, phân loại này thích hợp với cách quan sát lịch đại: xem xét sự nối tiếp và chiếm thế chủ đạo của cảm hứng sáng tác nổi trội trong một lưu vực các dòng chảy của một nền thi ca. Nhìn từ góc độ này, ta có thể thực hiện một mô tả đại lược như sau. Khuynh hướng cảm hứng sử thi thơ trữ tình công dân trước năm 1975 thiên về ngợi ca tôn vinh vẫn còn một dư vọng nhất định trên thi đàn. Rồi thơ ca bắt đầu chứng kiến cuộc chuyển đổi từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng đời tư thế sự. Nói như chứng nhân và cũng là người trong cuộc - nhà thơ Phạm Tiến Duật - thì đó là “Thơ từ vị trí cái ta chuyển sang cái tôi, từ sự hướng ngoại chuyển sang hướng nội” (“Thơ và sự phát triển”, báo Văn Nghệ, số 10, 11/3/1989). Bước vào thời hậu chiến, con người công dân trở về với tồn tại đời thường với chằng chéo quan hệ thế sự, số phận cá thể nổi lên thay thế cho đội hình và tập thể. Các nhà thơ lắng lòng lại với thế giới nội cảm và những trải nghiệm riêng tư của mình. Những “niềm riêng” sống dậy, chiều sâu trữ tình được kích động, thơ trở về và lan tỏa với kinh nghiệm thuần túy cá thể. Có thể kể đến những thành tựu tiêu biểu của cảm hứng đời tư thế sự như: Bóng chữ của Lê Đạt, Những cánh hoa tiên tri của Đỗ Minh Tuấn, Nguyễn Quang Thiều với Sự mất ngủ của lửa, Vọng trắng của Trần Anh Thái, Một chấm xanh của Phùng Khắc Bắc, Những con ngựa đêm của Nguyễn Việt Chiến, Củi lửa của Dương Kiều Minh và Cầu nguyện ban mai của Mai Văn Phấn… Hoàn toàn có thể mượn trích dẫn sau đây từ bài viết của nhà thơ đồng thời là nhà phê bình Vũ Quần Phương để tổng kết về khuynh hướng cảm hứng đời tư thế sự trong sáng tác thơ Việt Nam đương đại lúc đó: “Khu vực trữ tình cá thể vốn ít được khai thác trước kia, ny được nói tới nhiều. Nỗi buồn từng bị coi là một nhược điểm có tính thẩm mĩ, một thiếu sót về đạo đức cách mạng, giờ đây có phần được thơ nâng niu. Nhiều nỗi éo le thế sự được thơ biết tới. Dung lượng sự đời của thơ nhờ vậy lớn hơn, thấm thía, từng trải hơn, gửi gắm nhiều kinh nghiệm sống” [119].

 

Nhưng thơ ca với cảm hứng thế sự đời tư chưa phải là thơ ca hiện sinh thực sự. Thơ cảm hứng thế sự đời tư dĩ nhiên cũng nói đến thế giới nội cảm tâm linh, nhưng rốt cuộc đó vẫn là một khuynh hướng lấy tâm linh làm đề tài, hay nói cách khác “phản ánh” tâm linh. Cảm thức hiện sinh trong thơ cho thấy nhà thơ đi sâu vào thế giới tâm linh để nói đúng mình hơn. Nó ném đặt con người chủ thể vào chính trong cảm nhận sâu thẳm của ta về hữu hạn và vô hạn, khoảnh khắc và muôn đời nhân sinh. Bản thân hình tượng thơ chứa đủ cả ảo và thực, cả phi lý và hữu lý. Tinh thần của cảm hứng hiện sinh trong sáng tác thơ ca đương đại có lẽ chính là cái tinh thần toát lên từ diễn giải sau đây: “Existentialism, có người gọi là thuyết Hiện sinh, có người gọi thuyết Sinh tồn hoặc chủ nghĩa Hiện hữu. Chữ gốc La Tinh: Esse, có nghĩa (tự nhiên, đương nhiên, bẩm sinh) + (sinh vật, con người, sự sống, sự tồn tại). Vậy thì căn bản của Existentalism là Đang Sống và Phải Sống. Đang sống gần với Hiện sinh. Phải sống gần với Sinh tồn. Nói một cách dễ hiểu là “kinh nghiệm đang sống cái phải sống và kinh nghiệm phải sống cái đang sống” là nền tảng của cảm nhận hiện sinh trong lãnh vực sáng tác”, “Sáng tác không còn quan tâm về chủ thuyết mà chỉ cưu mang kinh nghiệm đang sống cái phải sống và phải sống cái đang sống” [166]. Theo nghĩa đó, những câu thơ sau có thể được xem là biểu hiện cụ thể của khuynh hướng cảm hứng hiện sinh của thơ ca đương đại Việt Nam: “Khát vọng rủi ro khát vọng chẳng thành tên/ Cuộc sống ngẫu nhiên/ Đời người may rủi/ Bị dẫn dắt để bất ngờ lầm lỗi/ Vinh quang ngắn ngủi đến nhường kia” (Tuyết Nga).

 

Ở đây cần nhắc lại một lần nữa - khi nói đến khuynh hướng hiện sinh trong thơ ca đương đại là nói đến một cảm hứng sáng tác đã và đang trở nên phổ biến trên thi đàn chứ không phải nói đến một sự minh họa cho triết thuyết cụ thể bằng thơ ca. Tình hình vẫn đúng như diễn giải của tác giả bài viết vừa trích dẫn trên: “Những con đường triết học ngổn ngang và những đại lộ tôn giáo một chiều đều dẫn về hai câu hỏi: Người đến từ đâu? Và về nơi nào? Then chốt là cánh cửa sự chết. Chết là một sự kiện quan trọng. Vì phải chết mà con người phải chọn lựa thái độ sống. Hiện sinh chọn sống ý thức về cái đang sống và phải sống. Vô số thơ văn nhận diện sự chết để đối phó sự phi lý của sống, cùng một lúc "tiêu hóa" chất phi lý để làm đời sống hay đẹp hơn "một cách phi lý". Thơ hiện sinh để chủ nghĩa Hiện Sinh lại trong thư viện và tiếp tục cưu mang chất sống phi lý vào tâm tình hàng ngày” [163]. Quả thật “Hiện sinh chọn sống  ý thức về cái đang sống và phải sống”, điều mà như biểu đạt hình tượng ngôn từ trong Kinh cầu trong mưa với nhiều sắc thái như sau:

 

Hai hàng cây âm thầm

Nhớ một làn môi đỏ

Một cung mưa rất trầm

Nhớ hai người qua phố

Trôi trên hai nấm mộ

Một nghìn năm mông lung

Một nỗi khát vô cùng

Khô trên hai phiến đá

Gõ hai đầu âm dương

Một kinh cầu vô vọng

Gửi hai cành hoa trắng

Về một màu khói hương

Hai cánh chim bay về

Một tinh cầu đã tắt

Hai ánh sao sa mạc

Tan thành một cơn mưa

Trên tài hoa nhầu nát

Trên trần gian khói sương

Trên mặt người biến sắc

Mưa in dấu vô thường

(Hoàng Phủ Ngọc Tường - Kinh cầu trong mưa)

 

Như vậy, trong thơ có sự phân biệt thơ cảm hứng thế sự đời tư với thơ cảm hứng hiện sinh. Dĩ nhiên đó không phải là một sự phân biệt phải thực hiện đến mức cực đoan triệt để hoàn toàn. Bởi vì suy cho cùng đã là thơ - kết quả của xung động tư tưởng tình cảm đến độ. Khuynh hướng cảm hứng thế sự đời tư cũng như khuynh hướng hiện sinh cả hai đều hướng đến thế giới nội cảm đầy biến chuyển, đa cung bậc. Chỉ có điều nội cảm tâm tư trong khuynh hướng thơ cảm hứng thế sự đời tư trước sau vẫn hiển hiện lên như là đối tượng của một sự trữ tình. Nói cách khác những tình tự, xúc cảm hay nói khái quát hơn - thế giới nội tâm con người vẫn có tính cách là một thực tại của sự phản ánh thơ. Nhà thơ hướng về nó, viết về nó, đồng hóa nó vào trong một chủ thể trữ tình. Chủ thể trữ tình đó nói chung cũng là đang bộc lộ mình, bộc lộ cảm xúc suy tư của mình về/trước “thế sự - đời tư”. Khuynh hướng thơ cảm hứng thế sự đời tư rốt cuộc vẫn là ở trong tư thế “viết về…” những tâm trạng, nỗi niềm khởi dấy lên từ tiếp xúc kiểu “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Đó dù sao vẫn là một lối tức cảnh sinh tình của những cái Tôi thay vì tức cảnh sinh tình ngâm vịnh của cái Ta thơ ca trung đại xưa. Ngược lại, khuynh hướng thơ hiện sinh quan tâm chính “kinh nghiệm đang sống cái phải sống và kinh nghiệm phải sống cái đang sống”. Thơ hiện sinh không để nói về “điều trông thấy” mà chủ yếu nói chính cái “đau đớn lòng”. Nó không nói về (đề tài) ngoại vật - thế sự hay phản ánh (nội tâm nhưng như là một đối tượng được vẽ lại) mà tự nó là một tiếng nói - tiếng nói của đang sống - phải sống (hiện hữu sống và hiện hữu để đi đến mất đi). Thơ hiện sinh không hình dung cái tâm linh như một sự thể được nhìn nhận trở lại mà nó chính là bản thân cái tâm linh đang tự biết mình. Cái tâm linh chẳng hạn như ở thơ Nguyễn Thiên Ngân cất lời Có những ngày (bài thơ trong tập thơ Mình phải sống như mùa hè năm ấy, Nxb Văn học, 2012; Nxb Văn hoá - Văn nghệ tái bản, 2019) đề cập đến tồn tại sống của chính nó:

 

Có những ngày chỉ muốn lao xuống vực sâu
Muốn đi vào rừng
Muốn nuốt mặt trời cho thủng bụng
Muốn đạp con trăng non cho rách chân chảy máu,
Muốn len lỏi vào bụi sao cho toác mặt sứt đầu
Muốn mình đau thật là đau
Chứng này gọi là tâm thần tự hoại
Có những ngày ôi