"Biến tấu con quạ", khi bóng đêm cất lời… (phê bình) - Lê Hồ Quang
"Biến tấu con quạ", khi bóng đêm cất lời…






Nhà phê bình VH, TS. Lê Hồ Quang





Lê Hồ Quang

 

 

Con quạ, không nghi ngờ gì nữa, là một biểu tượng đặc biệt - nó là một cổ mẫu (archetype) trong đời sống văn hóa nhân loại.

 

Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới [2], “con chim đen” này là một biểu tượng đa nghĩa. Một mặt, quạ là tượng trưng cho điềm dữ, là sứ giả cái chết, nỗi bất hạnh. Mặt khác, quạ là đại diện cho điều chưa biết tới, cõi Khác, thế giới thần linh. Nó còn được xem là con vật thiêng, kẻ tiên tri, tiên báo; tượng trưng cho sự sáng suốt. Ngoài ra, quạ còn là biểu tượng của nỗi cô đơn cao cả, siêu hình, thần bí… Trong văn học dân gian, con quạ (con ác) xuất hiện với bộ lông đen, thường đại diện cho cái xấu, các ác, sự chết chóc…  Trong văn học thành văn, quạ gắn với nhiều tác phẩm nổi tiếng như Con quạ của Edgar Allan Poe; Từ ô dạ đề (Lý Bạch), Đêm thu nghe tiếng quạ kêu (Quách Tấn), Nấm mộ (Bích Khê), Tiếng quạ trên sông Chu (Yến Lan)...

 

 Chắc chắn Mai Văn Phấn không xa lạ gì với ý nghĩa tượng trưng của quạ. Mục tiêu của ông cũng không dừng lại ở những nét nghĩa có tính ổn định của “mẫu gốc”. Điều này thể hiện ngay trên tên của bài thơ - Biến tấu con quạ. Nhất định con quạ của ông sẽ phải khác, dẫu từ “biến tấu” cho thấy một thái độ cân nhắc và chừng mực.

 

Với 101 dòng thơ, tập trung vào hình tượng quạ, Biến tấu con quạ chứa đựng nhiều lớp nghĩa đối lập. Ý nghĩa thứ nhất, khá quen thuộc - nó là sứ giả của cái chết: Tử khí kéo ngọn bấc đến đỉnh trời/ Con quạ rực sáng. Cái chết này bao trùm phạm vi khá rộng. Đó không chỉ là cái chết về mặt thân xác của một cá thể. Đó còn là sự “băng hoại” của nhiều giá trị đời sống, những thiết chế tín điều tưởng đặc định, bất tử, chi phối lịch sử, xã hội, chính trị, văn hóa, tôn giáo… Và đương nhiên, cả văn học nghệ thuật. Đó là cái chết của những giá trị tinh thần: Sau tiếng quạ kêu/ Ra đi không cưỡng được/ Gói bọc được mở ra/ Sự băng hoại không thể cất giấu… Con quạ là sự hủy diệt không khoan nhượng đối với mọi “xác chết”. Không xác chết nào thoát khỏi móng vuốt tàn bạo của nó:

 

Bổ nhào từ đỉnh cao

Bằng đôi cánh sắc

Lấy tâm điểm xác chết

Chém toác bầu không

Gió hấp tấp không kịp băng bó

 

Móc từ hốc mắt

những nhãn quan

Di ảnh là vật chứng

Mổ vào lưỡi

và kéo dài

Phơi dưới trời bài học khẩu ngữ

Bóc từng mảng thịt

Tháo rời tứ chi

Sổ tung lục phủ ngũ tạng

 

Nhưng quạ còn có thể được hiểu như hiện thân của sự mặc khải. Hành động tiêu diệt, phá hủy, “sổ tung lục phủ ngũ tạng” của quạ nhằm thiết lập và kiến tạo một trật tự thế giới mới. Là kẻ hủy diệt, quạ đồng thời cũng là kẻ khai sinh thế giới. Từ “khai sinh” được lặp lại trong ba đoạn liên tục, nhấn mạnh những gì đã xuất hiện “sau tiếng quạ kêu”: Gói bọc được mở ra/ Sự băng hoại không thể cất giấu; Thầy lang đốt sách cuối vườn/ Tân dược trong kho đều quá hạn sử dụng… Sự thật đã phơi bày sau tiếng quạ kêu. Những sự thật tàn bạo, đau đớn, đáng căm phẫn. Bằng bút pháp siêu thực, Mai Văn Phấn đã khái quát về thực tạị nhân sinh như một trạng thái sống thường trực bị đe dọa: Con cá nhảy vào đám mây tự vẫn/ Buông ngang trời ngàn vạn lưỡi câu. Hình ảnh con cá nhảy vào mây đầy hư ảo không thể xóa cảm giác bi đát khi trùng trùng trong không gian bao la trời mây ấy vẫn là “ngàn vạn lưỡi câu” vây bủa, rình rập. Không gian càng rộng, hiểm họa càng lớn. Nhảy vào đám mây, rốt cục, chỉ là một cách trốn chạy cùng quẫn, một cách “tự vẫn”.  

 

Những hình ảnh phía sau tiếp tục đẩy tới những ám ảnh bi đát. Có điều, sắc thái bi đát và đe dọa ấy còn được nhân lên, một mặt, do tính chất “kinh dị” của hình ảnh mô tả, mặt khác, do tính “liên văn bản” với những sự kiện lịch sử, những huyền tích văn hóa (câu chuyện rắn trả thù, cái chết thảm khốc của Nguyễn Trãi và gia tộc, cái chết dữ dội của Cao Bá Quát, của rất nhiều kẻ sỹ trong lịch sử dân tộc và nhân loại…) - câu chuyện về bút, mực và số phận con người, rộng hơn, là câu chuyện của đời sống, của quá khứ nối liền hiện tại và không hề loại trừ tương lai:

 

Khai sinh

Mực đổ dưới chân và máu

vón cục ở yết hầu, phế quản

Viết một nét lên trang đầu

Thấm suốt cả ngàn trang sách

 

Từ góc nhìn này, mực không còn là mực, mực là máu. Không chỉ của một thân thể cá nhân, nó còn là dòng huyết mạch văn hóa của lịch sử đất nước, dân tộc, nhân loại. Bao oan khuất, bi thương đã được diễn tả qua hình ảnh sóng đôi mực/ máu. Như một tiếng thét vô thanh uất hận, dữ dội: Viết một nét lên trang đầu/ Thấm suốt cả ngàn trang sách. Ở nghĩa thứ hai, Biến tấu con quạ đặt ra vấn đề nhận thức về bi kịch của kẻ sỹ, nỗi đau oan khuất, đồng thời, cả sức mạnh và sứ mệnh của nghệ sỹ - trí thức, thông qua biểu tượng mực/ máu. (Biểu tượng máu rồi sẽ xuất hiện trở lại rất mãnh liệt và kinh dị trong trường ca Thời tái chế, tác phẩm mới nhất của Mai Văn Phấn, xuất bản 2019). Nó đem lại cơ hội nhận chân sự thật, những sự thật từng bị che giấu, chôn vùi. Đó chính là ý nghĩa, giá trị  "khai sinh" từ tiếng quạ. 

 

Sự xuất hiện dày đặc của bóng quạ trong không gian ngùn ngụt tử khí gợi liên tưởng đến Ngày tận thế đã được tiên báo trong sách Khải huyền của Ki Tô giáo với chiến tranh, dịch bệnh, nạn đói, thiên tai... Quạ là hiện thân của trận Đại hồng thủy, của cơn dịch bệnh toàn cầu đã và đang cuốn trôi, nhấn chìm nhân loại. Đó là tai ương do con người tự chuốc lấy bởi sự tối tăm, ngu muội, ác độc của chính mình. Quạ, trong trường hợp này, phải chăng là tượng trưng cho sự trừng phạt của Thiên Chúa với loài người, là đại diện của một sức mạnh thiêng liêng, tối thượng? Không gì có thể cản trở được sức mạnh hủy diệt đó:

 

Con quạ bay vào phòng

Một ngón tay yếu ớt giơ lên

Ý nói:

                 Đây là họng súng

                 Là lưỡi mác

                 Thậm chí cuốc thuổng

                 Thậm chí chính ngón tay rất cứng

Đúng hơn là đông cứng

Rồi băng đá

Rồi rữa tan.

 

Con quạ của Mai Văn Phấn không phải là một biểu trưng bị ép khô với những lớp nghĩa mặc định. Nó hiện ra với tính cách của loài chim dữ, với các hoạt động cơ thể liên tục, mạnh mẽ, chẳng hạn cổ họng kêu; cánh bổ nhào, bay, xõa; chân, móng móc, bóc, sổ tung; mỏ mổ, kéo, khoét… Và cả những hành động phức tạp hơn, không chỉ của động vật, ví dụ, thảng thốt kêu, mơ. (Xin lưu ý, chi tiết “con quạ mơ” được nhắc tới hai lần và đều là những giấc mơ đa nghĩa: Con quạ mơ/ Mọi cái chết đều được sắp đặt; con quạ mơ mỗi mẩu thức ăn đang nén chặt trong diều đều biến thành qua trứng).

 

Trên nền bối cảnh tăm tối và ngùn ngụt tử khí, chân dung loài ác điểu trở nên đặc biệt nổi bật: CON QUẠ RỰC SÁNG. Quạ là tâm điểm của thế giới. “Bóng quạ” cùng “bóng đêm” và “bóng đen” “ập tới” chiếm lĩnh thế giới. Không gian bao trùm bởi những linh cảm sợ hãi chết chóc: Bóng mình/ không cất tiếng/ Sợ biến thành gà con. Trong nhập nhoạng tranh tối tranh sáng, những giả trị thực ảo, giả thật lẫn lộn, người cũng có khi “khoác áo đen, mặt nạ đen, đập cánh tay vào hai bên sườn”, “bay là là mặt đất”. Và con quạ, trong giấc mơ hung hiểm của nó, cũng mơ mỗi mẩu thức ăn biến thành quạ. Cái ác nhân lên, cái chết và nỗi kinh hoàng bội trương trong bóng tối tử khí. Bị đẩy đứng trước bờ vực cái chết thảm khốc, trong sự tận diệt, con người buộc phải chấp nhận sự trả giá, ngay cả những cái giá cao nhất, kinh hoàng và đau đớn nhất: “Đây là dòng cuối cùng trong một bản di chúc: “Bắt đầu lễ Thiên táng lúc xuất hiện bóng quạ”. Thiên táng (còn gọi là Điểu táng) là một tục lệ mai táng lâu đời và kì bí của người Tây Tạng. Khi có người qua đời, thi thể của họ sẽ được đưa lên núi để làm mồi cho các loại chim dữ. Hình ảnh đầy tính biểu tượng này tô đậm thêm tính chất dị thường, bí ẩn của “bản di chúc” nhân loại, đồng thời (có lẽ), nhấn mạnh tính chất chuyển hóa, tuần hoàn của vòng sống tự nhiên. Trong đó, sự sống và cái chết, ánh sáng và bóng tối… dường như chỉ cách nhau trong tấc gang. Đi qua cánh cửa của bóng tối và cái chết là cách duy nhất để nhân loại có thể trỗi dậy: Sau những loạt đạn không sát thương, khói hương căng thành bảng, viết con chữ đầu tiên của bài học mới.

 

Nhưng tác giả không đề nghị với chúng ta một kết thúc lạc quan dễ dãi. Một phần, có lẽ bởi vì ông tôn trọng tính diễn trình như một “đặc thù” của Biến tấu con quạ. Nó vẫn là cái đang là, đang diễn ra. Bởi vậy, ở kết thúc, “bóng đêm chui dần vào bụng quạ”, thân xác con người từng phần chui vào bụng quạ, nhưng linh hồn “chúng ta” vẫn chưa thể rời bỏ bóng tối. Bởi bóng tối vẫn ở trong “chúng ta”. Và con người vẫn nằm trong sự tăm tối, mù lòa tự thân: “Bật que diêm rồi, vẫn nhớ ngọn bấc còn rất xa. Vung tay lên, nói to một mình trong bóng tối”. Đúng lúc ta ngỡ đã nắm chắc mọi ý nghĩa của quạ, đúng hơn, của Biến tấu con quạ, biểu tượng bỗng tuột khỏi tay ta, ôm chặt niềm bí ẩn tự thân vào nó.

 

Biến tấu con quạ cho thấy năng lực bao quát và chuyển tải các vấn đề “nóng”, phức tạp của đời sống thế sự thành ngôn ngữ hình tượng của Mai Văn Phấn. Tác phẩm cũng thể hiện khát vọng đổi mới xã hội mạnh mẽ. Từ một góc độ nhất định, con quạ mang dáng dấp của Kẻ Phá Hủy Vĩ Đại, một hình tượng thể hiện khá đậm nét phẩm tính lãng mạn. Phá hủy trật tự cũ để kiến tạo trật tự mới là điều cần thiết trong đời sống xã hội cũng như đời sống cá nhân, trong hoạt động hiện thực cũng như trong hành động sáng tạo, nhưng bản thân điều này luôn gây đau đớn, kinh hoàng, luôn đòi hỏi nhiều sức mạnh và sự can đảm. Tác phẩm mang tầm vóc của một trường ca (hiểu theo nghĩa tác phẩm có khả năng chuyển tải những vấn đề lịch sử - thời đại lớn, chứ không chỉ dừng lại ở độ dài của số lượng câu chữ) và không bị đóng kín trong một “kết thúc đẹp, trọn vẹn” (là điều Mai Văn Phấn vẫn mắc phải ngay trong các tác phẩm dài hơi viết về đề tài thế sự như trường ca Người cùng thời trước đó hoặc Thời tái chế sau này).

 

Trên trục chủ đề “biến tấu con quạ”, với hình tượng trung tâm, xuyên suốt là loài chim đen, mạch thơ phăng mạnh với nhiều tầng liên tưởng dày rậm, bất ngờ. Tác giả thường chú ý đến tính hoạt cảnh trong liên tưởng hơn là những chi tiết riêng lẻ, đứt gãy. Đọc riêng từng đoạn nhỏ (được ngăn cách bởi dấu hoa thị), ta vẫn nhận ra tính độc lập tương đối của chúng, với những tìm tòi chi tiết, hình ảnh riêng, gây ấn tượng lạ lẫm. Chẳng hạn đoạn thơ văn xuôi đầy siêu thực này:

 

Những đau khổ tột cùng ngoái nhìn đời sống tưởng chừng đã chết. Áo khoác kêu thất thanh khi đi qua bàn tủ. Máy điện thoại im lìm ngủ. Chiếc kẹp ghim mở miệng cố giấu đi móng vuốt. Cán chổi móc vào tay người lao công, kéo chị ta về bên hố rác. Vành mũ trên đầu kêu thảng thốt, rồi cúi xuống rỉa hết mặt nhân viên bảo vệ. Không ai mở cổng. Nhiều người vẫn tìm được lối đi vào.

 

Đấy là một bức tranh đời sống nghịch dị. Ở đó, mọi trật tự bị đảo lộn. Ở đó, bóng tối, cái ác, sự tàn bạo chiếm hữu. Thế giới bị xô lệch, đảo ngược, với những hình hài ma quái méo mó, vật vờ, gợi nhớ đến thế giới đồ vật kỳ dị trong tranh Salvador Dali. Và cảm giác thống khổ cuồng nộ kìm nén chực vỡ tung gợi nhớ bức Tiếng thét của Edvard Munch. Điều đáng nói là thế giới kỳ dị ấy lại cũng rất gần với thế giới hiện thực mà chúng ta đang sống. Nhưng thay vì thứ ngôn ngữ tỉnh táo và sáng tỏ của lí trí, Mai Văn Phấn đã chọn lựa một ngôn ngữ đặc biệt - ngôn ngữ của vô thức, trực giác, tâm linh. Đó là ngôn ngữ của giấc mơ. Có thể hình dung Biến tấu con quạ như một giấc mơ, đầy những hình thù, ảo giác lạ lùng, kì dị, đầy ám ảnh. Trong giấc mơ ấy, quạ là biểu tượng trung tâm, kết nối với hàng loạt chi tiết, hình ảnh, biểu tượng, tạo nên “bè đệm hiện sinh” siêu thực của nó - thế giới của bóng đêm, chết chóc, sự hủy diệt.

 

Là một hình tượng quen thuộc trong văn hóa, văn học, quạ có nguy cơ trở nên công thức và cạn nghĩa, trơ nghĩa - nó bị kí hiệu hóa. Mai Văn Phấn đã “đổ đầy” những cảm giác tâm linh vào quạ (khái niệm tâm linh ở đây cần được hiểu theo nghĩa rộng, nó “bao hàm cả ý thức và vô thức, cô đúc các sản phẩm tôn giáo và đạo đức, sáng tạo và thẩm mĩ của con người, nhuốm màu mọi hoạt động trí tuệ, tưởng tượng, xúc cảm của cá nhân, đối lập, với tư cách là nguyên lí sáng tạo, với bản chất sinh vật” [4] ), và biến nó thành một biểu tượng thơ. Biến tấu con quạ là một tác phẩm của thời hiện tại, đồng thời vẫn lưu giữ chiều sâu và vẻ đẹp bí ẩn từ cội nguồn nguyên thủy của nó: 

 

Con quạ khật khừ xuyên đêm

Thảng thốt kêu

 

Lần đầu tiên tiếng động ra đi không vọng lại

 

Tái sử dụng cổ mẫu, Mai Văn Phấn tự đặt ra cho mình một thách thức phải vượt qua - thách thức về sự lặp lại. Biến tấu con quạ, do đó, vừa là một nỗ lực làm khác, làm mới của nhà thơ, đồng thời, là cách để ông “liên văn bản” với một sức mạnh bí ẩn và lớn lao hơn trong tâm thức sáng tạo - sức mạnh "vô thức tập thể". Bóng đêm là quạ và quạ là bóng đêm. Khi bóng đêm cất lời, nói theo cách của C. G. Jung, “nó khơi dậy trong ta một giọng nói to hơn giọng nói của chính ta… giải phóng trong ta tất cả những sức mạnh cứu vớt vốn từ xưa đã giúp cho loại người tránh thoát được mọi tai họa và thậm chí nén chịu được qua cái đêm dài nhất” [5]. Ra đời từ hai mươi năm trước, Biến tấu con quạ, lạ lùng thay, dường như  được viết cho/ viết về nhân loại trong những ngày này, khi Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với bệnh dịch toàn cầu mang tên Covid 19. Bệnh tật, cái chết, sự ám ảnh lây nhiễm và chết chóc đang rình rập khắp nơi. Thơ Mai Văn Phấn nói chung, Biến tấu con quạ nói riêng, đã “can dự” vào đời sống hôm nay theo một cách khác thường, có tính “tiên tri”, điều mà có lẽ chính tác giả của nó cũng không ngờ tới!

 

Vinh, 15/4/2020

L.H.Q

 

 

_________________

[1] Mai Văn Phấn (2003), Vách nước, NXB Hải Phòng.                                                                   

 [2] .Jean Chevalier, Alain Gheerbrant(2016), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, nhiều người dịch,  Nxb Đà Nẵng, Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nộitr. 750 -751

 [3]Jean Chevalier, Alain Gheerbrant(2016), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, nhiều người dịch,  Nxb Đà Nẵng, Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nộitr. 751.

 [4]Jean Chevalier, Alain Gheerbrant(2016), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, nhiều người dịch,  Nxb Đà Nẵng, Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nộitr. XXIV.

 [5] S. Freud, C.G.Jung, G.Bauchelard, G.Tucci, V. Dunes (2000), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Đỗ Lai Thúy biên soạn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.82.

 

 

 

Tranh của họa sĩ Silja Erg

 

 

 

 

BIẾN TẤU CON QUẠ

 

             

Mai Văn Phấn

 

 

Tử khí kéo ngọn bấc tới đỉnh trời

Con quạ rực sáng.

 

 

*

 

Khai sinh

Sau tiếng quạ kêu

Ra đi không cưỡng lại

Gói bọc được mở ra

Sự băng hoại không thể cất giấu

Thày lang đốt sách cuối vườn

Tân dược trong kho đều quá hạn sử dụng

Những phù thủy chịu hình phạt

Miệng bị đóng bởi những móc sắt

 

Khai sinh

Khi quả chuông rơi xuống bất ngờ

Chụp lên đầu người bõ già

Con cá nhảy vào đám mây tự vẫn

Buông ngang trời ngàn vạn lưỡi câu

 

Khai sinh

Mực đổ dưới chân và máu

vón cục ở yết hầu, phế quản

Viết một nét lên trang đầu

thấm suốt cả ngàn trang sách.

 

 

*

 

Bổ nhào từ đỉnh cao

Bằng đôi cánh sắc

Lấy tâm điểm xác chết

Chém toác bầu không

Gió hấp tấp không kịp băng bó.

 

 

*

 

Móc từ hốc mắt

những nhãn quan

Di ảnh là vật chứng

Mổ vào lưỡi

và kéo dài

Phơi dưới trời bài học khẩu ngữ

Bóc từng mảng thịt

Tháo rời tứ chi

Sổ tung lục phủ ngũ tạng

 

Hộp sọ vừa được dựng lên

Rêu đã phủ đầy

Không viết nổi những dòng bi ký.

 

 

*

 

Con quạ mơ

Mọi cái chết đều được sắp đặt

 

Sau tiếng quạ kêu

Ai đã tự nguyện nằm xuống.

 

 

*

 

Con quạ bay vào phòng

Một ngón tay giơ lên yếu ớt

Ý nói:

           Đây là họng súng

           Là lưỡi mác

           Thậm chí cuốc thuổng

           Thậm chí chính ngón tay rất cứng

Đúng hơn là đông cứng

Rồi băng đá

Rồi rữa tan.

 

 

*

 

Đừng đến gần bóng râm

Chúng là con quạ

Xõa cánh lúc hoàng hôn, rạng đông

 

Nanh vuốt bám gió

Xay nghiền lá khô

Bẻ những cành vượt

 

Nhà thơ trú trong bóng râm

Từng con chữ bị khoét mất mắt.

 

 

*

 

Trông

Sự vật

Trừng trừng

Bởi chớp mắt

Bóng quạ

Ập tới.

 

Bóng mình

Không cất tiếng

Sợ biến thành gà con.

 

 

*

 

Một số người trỗi dậy từ đám đông, khoác áo đen, mang mặt nạ đen. Vừa chạy, họ vừa đập cánh tay vào hai bên sườn. Đầu cố ngước lên. Bóng đen bay là là mặt đất.

 

 

*

 

Đậu trên chạc cây trong trạng thái bội thực và ngủ gật, con quạ mơ mỗi mẩu thức ăn đang nén chặt trong diều biến thành quả trứng. Đàn quạ con lũ lượt chui khỏi ngũ quan, lập tức sà xuống săn mồi theo bản năng của loài ăn thịt.

 

 

*

 

Những đau khổ tột cùng ngoái nhìn đời sống tưởng chừng đã chết. Áo khoác kêu thất thanh khi đi qua bàn tủ. Máy điện thoại im lìm ngủ. Chiếc kẹp ghim mở miệng cố giấu đi móng vuốt. Cán chổi móc vào tay người lao công, kéo chị ta về bên hố rác. Vành mũ trên đầu kêu thảng thốt, rồi cúi xuống rỉa hết mặt nhân viên bảo vệ. Không ai mở cổng. Nhiều người vẫn tìm được lối đi vào.

 

 

*

 

Những linh hồn thoát xác tìm cách quay về chiến đấu với loài quạ dữ. Sau những loạt đạn không gây sát thương, khói hương căng thành bảng, viết con chữ đầu tiên của bài học mới.

 

 

*

 

Đây là dòng cuối cùng trong một bản di chúc:

“Bắt đầu lễ Thiên táng lúc xuất hiện bóng quạ”.

 

 

*

 

Bóng đêm chui dần vào bụng quạ.

 

Cả chúng ta nữa, đang cồn cào cùng dòng sông đói khát. Những giọt nước đục tìm cách lọt qua khe vải. Mặt nước khổng lồ ghìm nén xao động, mong giữ lại bóng người. Bật que diêm rồi, vẫn nhớ ngọn bấc còn rất xa. Vung tay lên, nói to một mình trong bóng tối.

 

Con quạ khật khừ xuyên đêm

Thảng thốt kêu

 

Lần đầu tiên tiếng động ra đi không vọng lại.

 

 

(Rút từ tập thơ “Vách nước”, NXB Hải Phòng, 2003)

 

 

 

 

 

(Nguồn: Blog Lê Hồ Quang)










Tranh của Rafal Olbinski, Ba Lan









 

 

 

BÀI KHÁC
1 2 3 4 


























Thiết kế bởi VNPT | Quản trị