Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Mai Văn Phấn (Luận văn thạc sĩ) - Lê Thị Ngọc Hà

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

 

 

 

 

 

 

 

 

Lê Thị Ngọc Hà

Người hướng dẫn khoa học: TS. Mai Thị Liên Giang

 

 

 

 

 

 

TS. Mai Thị Liên Giang (phải) & Ths. Lê Thị Ngọc Hà

 

 

 

 

 

DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ  MAI VĂN PHẤN

 

 

 

 

 

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGÀNH LÝ LUẬN VĂN HỌC

Thừa Thiên Huế, 2019

 

 

 

 

 

MỤC  LỤC

 

A. MỞ ĐẦU     

 

1. Lí do chọn đề tài      

2. Lịch sử vấn đề         

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu    

4. Hướng tiếp cận và Phương pháp nghiên cứu           

5. Đóng góp của luận văn        

6. Cấu trúc luận văn    

 

B. NỘI DUNG 

 

CHƯƠNG 1. KHÁI LƯỢC VỀ VĂN HỌC HẬU HIỆN ĐẠI VÀ THƠ MAI VĂN PHẤN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI THƠ VIỆT NAM SAU 1986      

 

1.1. Văn học hậu hiện đại, quá trình tiếp nhận và quan niệm   

 

1.1.1. Cách hiểu về văn học hậu hiện đại         

1.1.2. Quá trình tiếp nhận và quan niệm về văn học hậu hiện đại ở Việt Nam     

 

1.2. Thơ Mai Văn Phấn trong quá trình đổi mới thơ Việt Nam sau 1986

 

1.2.1. Những đổi mới của thơ Việt Nam sau 1986        

1.2.2. Thơ Mai Văn Phấn – nỗ lực cách tân theo hướng hậu hiện đại     

 

CHƯƠNG 2. DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ MAI VĂN PHẤN NHÌN TỪ CẢM QUAN VỀ HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG VÀ CON NGƯỜI          

 

2.1. Cảm quan về cuộc sống trong thơ Mai Văn Phấn           

 

2.1.1.  Hiện thực thế giới đa chiều       

2.1.2. Hiện thực thế giới phồn tạp, bất an        

2.1.3. Hiện thực thế giới phồn sinh, hóa sinh bất định  

 

2.2. Cảm quan về con người trong thơ Mai Văn Phấn           

 

2.2.1. Con người cô đơn

2.2.2. Con người vô bản sắc    

2.2.3. Con người khát khao     

 

2.3. Cảm quan về xã hội trong thơ Mai Văn Phấn    

 

2.3.1. Xã hội hiện thực 

2.3.2. Xã hội phi lí        

2.3.3. Xã hội trong tưởng tượng           

 

CHƯƠNG 3. DẤU ẤN HẬU HIỆN ĐẠI TRONG THƠ MAI VĂN PHẤN NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN    

 

3.1. Ngôn ngữ thơ Mai Văn Phấn      

 

3.1.1. Ngôn ngữ mơ hồ hóa

3.1.2. Ngôn ngữ tạo sinh         

 

3.2. Giọng điệu thơ Mai Văn Phấn    

 

3.2.1. Giọng điệu giễu nhại
        3.2.2. Giọng điệu vô âm sắc

3.3. Không gian – thời gian nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn

3.3.1. Không gian đa chiều

3.3.2. Thời gian phi tuyến tính

 

C. KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

 

 

 

A.  MỞ ĐẦU

 

 

1. Lí do chọn đề tài

Hậu hiện đại đã trở thành hiện tượng mang tính toàn cầu, được bàn luận, tranh cãi rất nhiều và có ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn học. Với văn học, chủ nghĩa hậu hiện đại đã mở ra nhiều khả năng mới cho sáng tạo và tiếp nhận. Văn học Việt Nam sau 1975, nhất là từ 1986 
tới nay bước sang một giai đoạn phát triển mới so với trước đó, nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một khái niệm khả dĩ định danh văn học giai đoạn này. Từ sau thế kỉ XX, văn học thế giới chuyển qua giai đoạn hậu hiện đại. Văn học Việt Nam, tuy hơi muộn so với nhiều nước trên thế giới, nhưng không thể tránh khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại. Ở Việt Nam, thuật ngữ “hậu hiện đại” được nhắc tới ngày càng nhiều. Chưa thể khẳng định một cách chắc chắn rằng đã có một trào lưu văn học hậu hiện đại với đầy đủ ý nghĩa của khái niệm này trong văn học Việt Nam nhưng nếu xét ở lĩnh vực thơ, có thể tìm thấy những dấu hiệu ban đầutrong sáng tác của nhiều cây bút như: Bùi Giáng, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Vi Thùy Linh,…

 

Trong số các cây bút đương đại gây được nhiều chú ý, Mai Văn Phấn là một trong những gương mặt nổi bật và đã có những đóng góp đáng kể. Ngay từ các sáng tác đầu tay, tác giả đã có một cách viết khác so với các nhà thơ cùng thời. Mai Văn Phấn là một trong những hiện tượng văn học thu hút được sự quan tâm của đông đảo độc giả. Theo thống kê của tác giả Mai Thị Liên Giang: “đến nay, tháng 10. 2019, thơ ông đã được dịch ra hơn 30 ngôn ngữ và đang tiếp tục được dịch ra các ngôn ngữ khác nữa”. Thành công mà ông đạt được là minh chứng cho sự ảnh hưởng của xu hướng hậu hiện đại lan dần từ văn học thế giới đến văn học nước ta. Mai Văn Phấn đã góp phần làm thay đổi bộ mặt văn học, đưa văn học nước ta bước kịp với sự tiến bộ chung của văn học nhân loại.

 

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn chương hậu hiện đại Việt Nam cũng như về nhà thơ Mai Văn Phấn. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về dấu ấn hậu hiện đại trong thơ ông. Chính vì vậy chúng tôi đã chọn đề tài “Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Mai Văn Phấn”. Hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần khẳng định rõ hơn vị trí của nhà thơ Mai Văn Phấn trong hành trình thơ Việt.

 

2. Lịch sử vấn đề

 

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về dấu ấn hậu hiện đại nói chung. Tuy nhiên, những đề tài nghiên cứu về Mai Văn Phấn và đặc biệt là dấu ấn hậu hiện đại trong thơ ông còn rất ít. Đã có những bài báo, tạp chí nhắc đến dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Mai Văn Phấn nhưng chỉ nêu ra vấn đề chứ chưa phân tích một cách hệ thống. 

Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã mạnh dạn khẳng định rằng: “Nếu có nhà thơ nào đó đang lặng lẽ luôn tự đổi mới thơ mình và phá vỡ các nhịp điệu mòn cũ trong các thể nghiệm thơ hôm nay, theo tôi, người đó phải là Mai Văn Phấn. Từ trữ tình – cổ điển anh bay thẳng một mạch vào hậu hiện đại, rồi từ đó “lao” vào vòng xoáy đầy ấn tượng của thơ cách tân” [22; 420]. Bài  viết của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã khẳng định Mai Văn Phấn là một trong những gương mặt cách tân tiêu biểu của thơ Hậu hiện đại.

 

Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Ngọc Thiện trong bài “Xóa nhòa ranh giới giữa thơ ca và văn xuôi trong thơ văn xuôi của Mai Văn Phấn”  đã khẳng định: “Từ chữ đến lời, ngôn ngữ thơ và tư duy thơ văn xuôi của Mai Văn Phấn nhằm thể hiện một khát vọng quyền lực tối thượng của nhà thơ đi tìm một cấu trúc văn bản thơ mới lạ, với cách dụng ngữ riêng, in đậm cá tính sáng tạo nghệ thuật của tác giả, tích hợp đặc sắc, ưu thế của các thủ pháp: truyền thống, tượng trưng, siêu thực, hiện đại, hậu hiện đại. Văn bản thơ văn xuôi Mai Văn Phấn đầy tiềm năng nghĩa ẩn chứa trong đó, nó là một kết cấu vẫy gọi sự mở, sự khám phá của người đọc tri âm, đồng điệu, đồng cảm”[68]. Trong nhận định của mình, Nguyễn Ngọc Thiện đã cho rằng thơ Mai Văn Phấn bộc lộ tham vọng của nhà thơ đi tìm kiếm quyền lực tối thượng để tạo ra một cấu trúc văn bản mới lạ, sử dụng mọi cách sáng tạo ngay từ câu từ, con chữ. Ông sử dụng khá nhuần nhuyễn những đặc điểm nghệ thuật của thơ ca truyền thống, tượng trưng, siêu thực, hiện đại, hậu hiện đại. Thơ văn xuôi của Mai Văn Phấn ẩn chứa tiềm tàng những năng lực của sự gợi mở, khơi gợi sự tri âm, đồng điệu, đồng cảm của người đọc.

 

PGS.TS Hồ Thế Hà, trong bài viết Thơ tạo sinh nghĩa Mai Văn Phấn đã phân tích thơ của Mai Văn Phấn trên hai bình diện: thế giới hình tượng và khả năng tạo sinh nghĩa; bản thể chữ và khả năng tạo sinh nghĩa để làm rõ quan điểm của mình. Đồng thời ông khẳng định “Càng về sau, Mai Văn Phấn càng ý thức thể hiện tâm thức hậu hiện đại trong sáng tạo thông qua hệ ngôn từ và hình ảnh lạ đã làm cho thơ anh không dễ đọc, không dễ hiểu ngay tức thì. Và đó cũng chính là điều làm nên thi pháp riêng Mai Văn Phấn [16; 389].

 

Đặng Văn Sinh đã nhìn thấy một Mai Văn Phấn và khúc biến tấu “Hôm sau” với sự hòa hợp giữa nhiều phong cách: “tân cổ điển, hậu hiện đại, thậm chí cả siêu thực không loại trừ nhau mà luôn bổ sung cho nhau, hòa quyện vào nhau, chuyển hóa thành phẩm chất mới cả định tính lẫn định lượng” [62]. Cũng như những nhà nghiên cứu trên, Đặng Văn Sinh đã nhìn thấy trong sáng tác của Mai Văn Phấn phong cách hậu hiện đại. Tập thơ “Hôm sau” là  minh chứng rõ nhất cho nhận định này.

 

Nguyễn Hoàng Đức khi đề cập đến sự thay đổi bút pháp thơ Mai Văn Phấn đã viết: “Phải nói, anh đã thể nghiệm rất nhiều bút pháp thơ từ cổ điển đến các khuynh hướng thơ hiện đại thế kỉ XX và thơ văn xuôi. Tất cả đều được cày xới, chiêm nghiệm, chìm đắm đến nhuần nhị. Đọc thơ anh, có cảm giác bình thản như một nhạc công đã tu luyện thành thạo và dễ dàng biểu diễn những khúc nhạc khó nhẹ như lông hồng” [22; 35]. Nguyễn Hoàng Đức đã nghiên cứu sâu và chỉ rõ Mai Văn Phấn đã thử nghiệm  rất nhiều bút pháp sáng tác và đương nhiên không thể bỏ sót khuynh hướng thơ hậu hiện đại. Không chỉ thử nghiệm mà thơ hậu hiện đại của ông đã được cày xới, chiêm nghiệm, chìm đắm đến nhuần nhị.

Nhà thơ Inrasara thì cho rằng: “Chuyển động mạnh nhất ở Mai Văn Phấn trong những năm hậu đổi mới chính là ngôn ngữ. Hết còn thứ ngôn từ sang trọng và trịnh trọng. Ngôn ngữ thơ Phấn đã thôi còn trau chuốt tỉ mẫn, ngày càng hướng đến sự tự phát và ngẫu hứng. Từ đó, thơ anh cũng thôi đạo mạo với đóng thùng” [22; 73]. Nhà thơ Inrasara đã chỉ ra được sự cách tân thơ ca của Mai Văn Phấn những năm hậu đổi mới và phương diện cách tân mãnh liệt nhất trong thơ ông đó chính là ngôn ngữ, bỏ qua thứ ngôn ngữ trong văn chương cổ điển, hiện đại, tiến gần hơn đến văn chương hậu hiện đại.

 

Tác giả Lê Hồ Quang, trong bài Đặc trưng thế giới nghệ thuật trong thơ Mai Văn Phấn, nhận định: “Thơ Mai Văn Phấn là một sự chuyển động liên tục với những tìm tòi thi pháp đa dạng. Một khi quan niệm sáng tạo là nhằm hướng đến “sự khác hẳn, biệt lập (đôi khi đối lập) với cái đã được định giá”, tác giả không ngại tìm kiếm và dung nạp những cách nghĩ, cách viết mới, hiện đại, tạo nên sự giãn nở liên tục và khá rộng rãi trong biên độ sáng tạo” [59; 1]. Và “ thế giới thơ ông dù biến đổi hết sức đa dạng song vẫn rất nhất quán ở tinh thần vận động hướng về cái mới, không hoàn tất, khép kín mà ngược lại, sẵn sàng “mời gọi” những diễn dịch đa chiều” [59; 3]. Tác giả Lê Hồ Quang đã chỉ rõ thơ Mai Văn Phấn là một chuyển động không ngừng và sự vận động ấy luôn đi theo hướng đổi mới, hiện đại.

 

Tác giả Hoàng Thị Huế trong bài viết “Ánh xạ  từ biểu tượng cái tôi trong thơ của một số nhà thơ Việt đương đại” cũng đã đưa ra nhận định: “Sau đổi mới, thơ ca đương đại đã có bước ngoặt lớn trong tư duy sáng tác, trong cái nhìn thế giới, con người, không gian, thời gian, chi phối sự lựa chọn phương thức trữ tình mới mẻ với một giọng điệu riêng và khác lạ, đặc biệt là sự góp mặt của các gương mặt thơ Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh… “Dắt ta về” và “ Ra đi” từ những gì được xem là thân thuộc, đứng vững trên nền truyền thống để vươn mình xa tới hiện đại, hậu hiện đại là một xác tín để truy nguyên những cội nguồn vô thức nhân loại, dân tộc trong thơ ca Việt thời kỳ đổi mới” [19]. Bằng cái nhìn tinh tế, khách quan tác giả Hoàng Thị Huế đã chỉ ra được những thay đổi theo hướng hậu hiện đại trong thơ của các nhà thơ Việt Nam đương đại mà Mai Văn Phấn là một ví dụ điển hình.

 

Và gần đây tác giả Mai Thị Liên Giang khi phân tích yếu tố cảm thức thời gian trong thơ Mai Văn Phấn từ tinh thần của hậu hiện đại đã có những nhận định: “Thế kỷ 20 với xu hướng phương Tây hóa toàn cầu đã ảnh hưởng đến châu Á, trong đó có Việt Nam. Song song với văn hóa là sự phát triển của khoa học tự nhiên và công nghệ, các mô hình xã hội dân chủ, quyền con người, những hệ hình tư tưởng mới của châu Âu... có tác động mạnh mẽ đến các trí thức Việt Nam. Các vấn đề về tôn giáo như Ki-tô giáo, đạo Phật... góp phần xóa nhòa ranh giới Đông Tây xét về mặt tâm linh. Theo đó, quan niệm về thời gian sống chết của con người, của vũ trụ trong tác phẩm nghệ thuật vì vậy cũng dần mất ranh giới. Đồng thời, quá trình dung hợp các xu hướng nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại đến Việt Nam có ảnh hưởng từ nội dung đến hình thức thơ Mai Văn Phấn.”

 

Như vậy, nhìn chung các bài phê bình báo chí hay các công trình nghiên cứu về nhà thơ Mai Văn Phấn cho thấy giới độc giả cũng như  giới phê bình nghiên cứu đã ghi nhận những cống hiến của ông cho thơ ca Việt Nam đương đại. Khẳng định những thành quả nhà thơ đạt được chính là những nỗ lực không mệt mỏi trong hành trình sáng tác của họ với mong muốn đem đến cho diện mạo thơ dân tộc những hương vị mới. Mặc dù đã có sự quan tâm nhiều của độc giả như vậy nhưng để khám phá hết những giá trị tiềm ẩn trong thế giới thơ của thi sĩ này không hề đơn giản. Có thể nói, đến thời điểm này (tháng 7/2019) vấn đề dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Mai Văn Phấn vẫn chưa được nghiên cứu có hệ thống trên toàn bộ các tập thơ của ông. Với đề tài này chúng tôi muốn giúp người đọc tiếp cận với một kiểu văn bản thơ khá đặc biệt đáng được quan tâm trong nền thơ ca Việt Nam đương đại. Các công trình nghiên cứu là những gợi ý quý báu giúp chúng tôi thực hiện đề tài này.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 

3.1. Đối tượng nghiên cứu

 

Trong quá trình thực hiện luận văn, người viết tập trung khảo sát những tập thơ sau của nhà thơ Mai Văn Phấn:

 

- Cầu nguyện ban mai  (2003 ), NXB Hội Nhà văn VN.

Vách nước (2003), NXB Hội Nhà văn VN.

Hôm sau (2009), NXB Hội Nhà văn VN.

và đột nhiên gió thổi  (2009), NXB Văn học VN.

Bầu trời không mái che (2010), NXB Hội Nhà văn VN.

hoa giấu mặt (2012), NXB Hội Nhà văn VN.

Vừa sinh ra ở đó (2013), NXB Văn học VN.

thả (2015), NXB Hội Nhà văn VN.

Lặng yên cho nước chảy (2018), NXB Hội Nhà văn VN.

Tĩnh lặng (2018), NXB Hội Nhà văn VN.

Thời tái chế (2018), NXB Hội Nhà văn VN.

 

Ngoài ra, chúng tôi có sử dụng một số tập thơ của các nhà thơ khác cùng thế hệ với Mai Văn Phấn để so sánh, từ đó chỉ ra đặc trưng riêng trong thơ ông.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

 

Phạm vi nghiên cứu của luận văn chính là “Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Mai Văn Phấn” trên hai bình diện: cảm quan hậu hiện đại về cuộc sống, con người, xã hội và dấu ấn hậu hiện đại nhìn từ phương thức biểu hiện

4. Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

 

Hướng tiếp cận: Vận dụng lí thuyết văn học hậu hiện đại trong nghiên cứu để tìm điểm gặp gỡ của dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Mai Văn Phấn.

 

Phương pháp nghiên cứu:

 

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Xem xét cụ thể các vấn đề về nội dung và nghệ thuật để làm rõ dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Mai Văn PhấnĐồng thời đưa ra những đánh giá, nhận xét khoa học về giá trị nghệ thuật thơ Mai Văn Phấn đối với thơ ca Việt Nam đương đại.

 

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh với các tác giả khác cùng thời, trước, sau và trong chính các tác phẩm của Mai Văn Phấn để thấy được sự khác biệt của các tác phẩm viết theo lối hậu hiện đại và đóng góp riêng của tác giả.

 

 

- Phương pháp cấu trúc, hệ thống: Đặt tác phẩm trong hệ thống của khuynh hướng hậu hiện đại để đánh giá khái quát hiện tượng.

 

- Ngoài các phương pháp chủ đạo trên, người viết còn sử dụng một số phương pháp hỗ trợ như: phương pháp phân tích văn học, phương pháp nghiên cứu tác giả, phương pháp nghiên cứu lịch sử…

 

5. Đóng góp của luận văn

 

- Tìm hiểu về dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Mai Văn Phấn góp phần làm rõ thêm đặc sắc thơ ông.

 

-  Khẳng định những thành tựu nghệ thuật, cách thức sáng tác, phong cách sáng tác và đóng góp quan trọng của ông trong nền văn học Việt Nam đương đại.

6. Cấu trúc luận văn

 

Ngoài phần MỞ ĐẦU, KẾT LUẬN và PHỤ LỤC, phần NỘI DUNG CHÍNH của luận văn được chia thành ba chương:

 

Chương 1: Khái lược về văn học hậu hiện đại và thơ Mai Văn Phấn trong quá trình đổi mới thơ Việt Nam sau 1986

 

Chương 2: Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Mai Văn Phấn nhìn từ cảm quan về hiện thực đời sống và con người

 

Chương 3: Dấu ấn hậu hiện đại trong thơ Mai Văn Phấn nhìn từ phương thức biểu hiện

 

 

 

 

 

B. NỘI DUNG

 




CHƯƠNG 1

 

KHÁI LƯỢC VỀ VĂN HỌC HẬU HIỆN ĐẠI VÀ THƠ MAI VĂN PHẤN

TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI THƠ VIỆT NAM SAU 1986

 

1.1. Văn học hậu hiện đại, quá trình tiếp nhận và quan niệm

1.1.1 Cách hiểu về văn học hậu hiện đại

Danh từ “postmodern”(hậu hiện đại) hay “postmodernism” (chủ nghĩa hậu hiện đại) theo Ihab Hassan được Federico de Onis đưa vào văn bản lần đầu vào thập niên 1930 để chỉ sự ảnh hưởng đối kháng với chủ nghĩa hiện đại. Danh từ này được sử dụng một cách phổ biến vào thập niên 1960 tại New York. Sau này đã được xuất hiện trong cuộc tranh luận triết học năm 1979 ở phương Tây cùng với sự ra đời cuốn La condition postmodern (Hoàn cảnh hậu hiện đại) của Jean-François Lyotard một triết gia Pháp. Nó đã thực sự trở thành một làn sóng có sức cộng hưởng và lan tỏa mạnh mẽ trên toàn thế giới. Khái niệm Hậu hiện đại ra đời khi mà các chủ thuyết hiện đại đã trở nên già cỗi, đã trở thành những đại tự sự. Lyotard xác định: “Hậu hiện đại là sự hoài nghi đối với các siêu tự sự. Nó hiển nhiên là kết quả của sự tiến bộ của các khoa học; nhưng sự tiến bộ này đến lượt nó lại là tiền giả định sự hoài nghi đó. Tương ứng với sự già cỗi của cơ chế siêu tự sự trong việc hợp thức hóa là sự khủng hoảng của nền triết học siêu hình học, cũng như sự khủng hoảng của thiết chế đại học phụ thuộc vào nó. Chức năng tự sự mất đi các hình thức mang chức năng: các anh hùng lớn, các hiểm họa lớn, các chuyến hải hành lớn và mục đích lớn. Nó tan ra thành từng mảng các yếu tố ngôn ngữ mang tính tự sự, nhưng cũng là tính sở thị, tính chỉ thị, tính miêu tả, v.v… và mỗi thứ đó mang chở theo mình những trị số dụng hành (valences pragmatiques) sui generis (đặc thù). Mỗi người chúng ta sống ở ngã tư đường hay nơi giao nhau của nhiều yếu tố đó. Chúng ta không nhất thiết tạo nên những kết hợp ngôn ngữ ổn định, và những thuộc tính của những kết hợp mà chúng ta tạo nên không nhất thiết là có thể tương thông với nhau được ”[21; 243]. Năm 1971, Ihab Hassan coi chủ nghĩa hậu hiện đại là một thứ chủ nghĩa hiện đại muộn, mang tính phi lý tính, phi xác định, hỗn loạn, nhưng cũng mang tính nhập cuộc. Năm 1995, Baudrillard xem văn hoá hậu hiện đại là thế giới của những“vật ngụy tạo”Năm 1996, Fredric Jameson cho rằng:“sự tha hoá của chủ thể” trong chủ nghĩa hiện đại đã được thay thế bằng “sự phân mảnh của chủ thể” trong chủ nghĩa hậu hiện đại ở giai đoạn Chủ nghĩa Tư bản muộnU. Eco xem hậu hiện đại “Là một phạm trù tinh thần, hoặc tốt hơn, một Kunstwollen - một phương thức thao tác”. Năm 2000, Derrida - “Giải trung tâm”. W. Fokkema lại cho rằng: “Kết thúc đại tự sự”. L. P.Evstigneva và R. Evstigneev quan niệm đặc trưng của xã hội hậu hiện đại là tính đối thoại, còn đặc trưng của xã hội công nghiệp hiện đại là độc thoại. Lipovetsky cho rằng hậu hiện đại là“Sự quay trở về với nguồn gốc của con người”. Michel Foucault xem hậu hiện đại là “Khảo cổ tri thức”... Theo từ điển thuật ngữ triết học Hành trình cùng triết học do Ted Honderich chủ biên, hậu hiện đại là: “Thuật ngữ “sự tương đồng gia đình” được triển khai theo đủ loại bối cảnh… dành cho những sự vật dường như có liên quan, nếu có, bằng một sự đa dạng về phong cách thông thường và một ước muốn mơ hồ được thực hiện với các chủ định của nền văn hoá mang tính hiện đại cao… Chủ nghĩa hậu hiện đại cùng chia sẻ một điều gì đó với sự phê phán các giá trị của thời đại Ánh Sáng và các viện dẫn về chân lý được lập ra bởi các nhà tư tưởng chủ trương thuyết phục theo kiểu thành viên công xã tự do…”[41, 822]. Chủ nghĩa hậu hiện đại là một khái niệm mở bởi việc xác định nội hàm và thời điểm ra đời của nó thì dường như luôn phụ thuộc vào ý đồ chủ quan của mỗi một nhà nghiên cứu. Nơi khởi xuất và phát triển mạnh của chủ nghĩa hậu hiện đại là ở Mỹ. Nhưng lí thuyết cơ bản về chủ nghĩa hậu hiện đại thì lại được các học giả Pháp dựng nên. Sau đó, không chỉ các nước Tây Âu sử dụng mà cả Nga, Trung Quốc, Nhật Bản,… những trung tâm kinh tế, xã hội lớn cũng sử dụng thuật ngữ này. Điều đó cho thấy, bất kì một quốc gia có nền kinh tế, nền khoa học kĩ thuật phát triển nào cũng đều không xa lạ với chủ nghĩa hậu hiện đại. Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, dẫu những nước có nền kinh tế, khoa học kĩ thuật chưa cao nhưng vẫn phải chịu sự tác động, vẫn chấp nhận sự xuất hiện và tồn tại của nó. Thế giới hiện nay là thế giới của kỉ nguyên hậu hiện đại. Tùy vào đặc điểm riêng của từng quốc gia mà chủ nghĩa hậu hiện đại có những sắc thái khác nhau. Theo Phương Lựu, chủ nghĩa hậu hiện đại là “một trào lưu văn hóa kết tinh những đặc trưng của xã hội hậu hiện đại” [25; 323]. Nhưng để biết Chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời từ lúc nào chúng ta cần đối sánh với chủ nghĩa hiện đại. “Thế chiến I đã lôi cuốn hơn 30 nước vào vòng khói lửa, hàng chục triệu người tử vong. Thế chiến II lại càng kinh hoàng, số người chết gấp nhiều lần. Người ta bất giác kêu lên: “Thượng đế chết rồi”, biết bao lí trí, đạo đức và niềm tin kết tinh từ hàng ngàn đời của nhân loại hầu như tiêu biến. Bản tính của nhân loại bị hoài nghi, con người đầy lo âu trước vận mệnh và tiền đề của mình. Mặt khác, khoa học phát triển nhanh, đời sống vật chất càng nâng cao, kéo theo đời sống tinh thần nghèo nàn: Máy tính, người máy do con người tạo ra, trở lại khống chế con người làm họ mất đi tính chủ thể. Con người nhiều khi phải tự hỏi: “Ta là ai? Từ đâu đến? Rồi sẽ đi về đâu?” [25;325]. Theo Lê Huy Bắc: “Chủ nghĩa hậu hiện đại đề xuất nhiệm vụ đi tìm bản nguyên của con người và vũ trụ, đi tìm nền tảng của nhận thức và của cả cách thức tri nhận thế giới, qua đó hòng cắt nghĩa đâu là tự do, hạnh phúc đích thực của con người. Mục đích tối hậu của nó một mặt thúc đẩy tri thức nhân loại tiến thêm, dùng khoa học, kĩ thuật làm nền tảng cho hành động, một mặt khách quan hóa cái nhìn về cuộc đời, giải phóng con người ra khỏi những định chế đã trở nên lỗi thời, kìm hãm bước tiến của nhân loại. Vì lẽ đó, không ít nhà nghiên cứu cho rằng chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời vào những giai đoạn khủng hoảng của lịch sử loài người và tất nhiên nó không phải là sản phẩm của thế kỉ hai mươi mà là của nhiều thế kỉ trước…” [2;21]. Chủ nghĩa hậu hiện đại cũng mang trong nó hai nhiệm vụ quen thuộc của bất kì nền triết học nào, xóa bỏ (hoặc kế thừa) và dựng xây. Xóa bỏ những chân lí phổ quát đã lỗi thời, không phải những chân lí mới mà là những giải pháp khoa học để tiếp cận chân lí, chủ nghĩa hậu hiện đại rất quyết liệt trong việc phê phán  những đại tự sự và bản thân nó không bao giờ muốn biến mình thành đại tự sự. Một “mã kép” được hình thành ngay chính trong nền tảng triết học hậu hiện đại. Nhìn tổng thể, triết học hậu hiện đại cơ bản là sự phục sinh, “làm mới” những tư tưởng hư vô của Friedrich Nietzsche, tư tưởng biện chứng của Carl Marx, tư tưởng phân tâm học về vô thức của Sigmund Freud, tư tưởng về bản thể của Martin Heidegger,… nhưng các triết gia hậu hiện đại gần như hòa tan các tư tưởng đó trong cái nhìn văn hóa – xã hội của  mình. Phản đối nguyên tắc mã hóa hiện thực theo cái nhìn của kí hiệu học, vốn được xem là biểu hiện của cái toàn trị, khép kín, các nhà hậu hiện đại đề xuất tư tưởng “đả mã”, có nghĩa đả phá việc mã hóa thuần túy chứ không  phải là giải mã để tìm ra những nét nghĩa được ẩn sau mã đó như cách làm thông thường bấy lâu. Chủ nghĩa hậu hiện đại xem trọng con người cá nhân, con người bản thể. Ở phương diện này, các nhà hậu hiện đại kế thừa tư tưởng của nhà triết học Martin Heidegger (1889 – 1976). “Họ lấy cái “tôi” làm tâm điểm cho mọi luận giải triết học. Nhưng cái “tôi” đó không phải là cái “tôi” nguyên vẹn, mà  là một cái “tôi” vỡ tan thành nhiều mảnh. Những mảnh này liên tục đối thoại nhau trong đó đối thoại thường trực là giữa cái tôi giá trị và cái tôi giải giá trị của cái tôi đó” [2; 16].

 

Tinh thần của chủ nghĩa hậu hiện đại từ khi xuất hiện đã có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển ở nhiều lĩnh vực văn hóa, xã hội và nghệ thuật, nhất là ở lĩnh vực sáng tác nghệ thuật. Riêng trong sáng tác văn học, thuật ngữ “văn học hậu hiện đại” được xem là một trào lưu xuất phát từ phương Tây từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai và đạt đến đỉnh cao vào những năm 70, 80 của thế kỉ XX. Khi nhắc đến văn học hậu hiện đại, ngoài ý nghĩa chỉ thời gian còn thể hiện những quy định của các thuộc tính nghệ thuật đối với nó.

 

Chúng tôi đồng ý với ý kiến đa số của các nhà nghiên cứu khi nhấn mạnh đến các đặc tính của văn học hậu hiện đại như tính phi lý tính (hoặc phản lý tính), tính phi xác định, phi chủ thể, tính phân mảnh và tính đại chúng. Văn học hậu hiện đại cũng đã sử dụng hàng loạt khái niệm, thuật ngữ mới trong cách viết, tạo nên những văn bản nghệ thuật chưa từng có trước đó cả về hình thức lẫn nội dung như: cảm quan hậu hiện đại, giễu nhại, mã kép, phi lựa chọn, giải nhân cách hoá, bất tín nhận thức, mặt nạ tác giả, ngoại biên, liên văn bản, siêu truyện… và trong số đó nhiều cái được xem như thủ pháp nghệ thuật hậu hiện đại. Các nhà văn hậu hiện đại chủ trương sử dụng các phương thức thể hiện khác biệt với quy chuẩn của văn học hiện đại. Mọi yếu tố nghệ thuật của văn học hiện đại hầu hết được thể hiện một cách tập trung, liền mạch. Ngược lại, ở văn học hậu hiện đại các yếu tố đó được thể hiện một cách rải rác, phân tán như thể những mảnh vỡ… Nhà nghiên cứu Ihab Hassan đã chỉ ra một số điểm khác biệt cơ bản giữa tác phẩm văn học hiện đại và hậu hiện đại. Về hình thức, văn học hiện đại có hình thức đóng thì văn học hậu hiện đại theo hình thức mở (còn gọi là phi hình thức). Các chi tiết, biến cố…trong tác phẩm văn học hiện đại được sắp xếp và thiết kế một cách kĩ lưỡng bởi sự hư cấu khéo léo và chặt chẽ (chẳng hạn nhiều tác phẩm của chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn thường được sắp đặt theo trật tự chặt chẽ của một vở kịch: thắt nút, phát triển, đỉnh điểm, mở nút) thì ở văn học hậu hiện đại, chúng được sắp xếp một cách ngẫu nhiên, gần như không theo một trật tự nào. Do cấu trúc như thế mà một tác phẩm văn học hiện đại như là một cuộc hành trình về đích, còn văn học hậu hiện đại là một hành trình vẫn còn dang dở. Bởi thế, đọc văn học hiện đại, người đọc có thể dễ dàng nhận ra dấu ấn sắp đặt của nhà văn. Đến với văn học hậu hiện đại, người đọc lại có cảm giác được tiếp xúc với một thế giới bề bộn, ngổn ngang. Nhà văn hậu hiện đại hạn chế một cách tối đa sự bộc lộ chủ quan của mình. Họ sẽ không bao giờ viết những dòng văn, câu thơ miêu tả mang đậm cảm xúc chủ quan. Nghệ thuật hậu hiện đại cũng nhấn mạnh tính tự quy chiếu của tác phẩm, tính đứt gãy và hỗn loạn của thực tại, cũng phủ nhận ranh giới các thể loại và thế giới khách quan đơn nhất, tuy đi xa hơn thế. Nó chống lại sự phân chia nghệ thuật cao cấp với bình dân, đề cao tính giễu nhại, lắp ghép, hài hước, đa nghĩa của sự vật và tác phẩm. Cái khác cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại so với chủ nghĩa hiện đại là thái độ của nó đối với thực tại. Trái với cách nhìn nhuốm màu bi thảm của chủ nghĩa hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại nhìn sự đổ vỡ, đứt đoạn và vô nghĩa của thực tại như là một cái gì đó đương nhiên. Nói cách khác, nếu nghệ thuật hiện đại là sự thương tiếc những ước mơ của thời Khai sáng thì trong nghệ thuật hậu hiện đại, những ước mơ ấy đã hoàn toàn bị lãng quên, thậm chí không hề có. Khi đề cập đến văn học hậu hiện đại, chúng ta phải kể đến những gương mặt nổi tiếng trên thế giới đã thành công với lối viết này. Barry Lewis, trong Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn chương đã thống kê khá đầy đủ các tác giả nổi bật của văn học hậu hiện đại: Văn chương hư cấu hậu hiện đại là một hiện tượng mang tính quốc tế, với những đại diện quan trọng từ khắp nơi trên thế giới: Gunter Grass và Peter Handke (Đức); Geogrges Perec và Monique Wittig (Pháp); Umberto Eco và Italo Canvino (Italy); Algela Cater và Salman Rushdie (Anh); Stanislaw Lem(Ba Lan); Milan Kundera(trước kia ở Tiệp); Mario Vargas Llosa (Peru); Gabriel Garcia Marquez (Colombia); J. M. Coetzee (Nam Phi); Peter Carey (Úc). Trong đó, tổng số những nhà văn Mỹ có thể được liệt vào đề mục hậu hiện đại là một con số lớn” [2, 237].

Những tên tuổi được nêu ở trên là minh chứng thuyết phục về sự ảnh hưởng mạnh mẽ của trào lưu văn học hậu hiện đại trên toàn thế giới. Một trào lưu văn học mới đã thu được những thành tựu lớn, do vậy sự ảnh hưởng của nó đến nền văn học Việt Nam là điều không tránh khỏi. Chưa thể nói rằng trong văn học Việt Nam đã xuất hiện các trường phái, khuynh hướng hay trào lưu hậu hiện đại như các nền văn học lớn trên thế giới. Tuy vậy, chúng ta vẫn tìm thấy những dấu hiệu và yếu tố hậu hiện đại trong sáng tác của một số cây bút tiêu biểu. Khi nhận xét về chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học nước ta, tác giả Nguyễn Hưng Quốc (nguồn talawas.com) khẳng định:“Chúng ta có thể xem chủ nghĩa hậu hiện đại tại Việt Nam là một thứ chủ nghĩa hậu hiện đại nguyên hợp”, tức là các nhà văn Việt Nam chịu ảnh hưởng từ nhiều nguồn khác nhau để tạo nên màu sắc hậu hiện đại.

 

Như vậy khi bàn về chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học hậu hiện đại ở Việt Nam, mặc dù còn có nhiều ý kiến tranh luận, song chúng ta có thể nhận định, văn học hậu hiện đại là một bước phát triển mới của văn học nhân loại. Những phương thức thể hiện có nhiều sự biến đổi phù hợp với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật và thị hiếu thưởng thức nghệ thuật giàu tính trí tuệ của bạn đọc đương đại. Văn học Việt Nam không nằm ngoài vòng quỹ đạo ấy, mang ít nhiều màu sắc hậu hiện đại là một sự thú vị và khả thể, đây cũng là một mảnh đất đang tạo ra nguồn cảm hứng lớn để nhiều người yêu thích khám phá nó.

1.1.2. Quá trình tiếp nhận và quan niệm về văn học hậu hiện đại ở Việt Nam

 

Cuộc sống luôn vận động và biến đổi không ngừng. Sau năm 1975, bước ra khỏi những năm tháng chiến tranh gian khổ, cả dân tộc Việt Nam bước vào guồng quay mới của cuộc sống thời bình. Bước vào cuộc sống mới, tư duy của con người cũng thay đổi. Cách sống, cách nghĩ không còn đơn giản và bình dị như trước đây. Cuộc đời vì thế trở nên muôn màu muôn vẻ. Từ đó đến nay, không thể phủ nhận rằng chính cơ chế kinh tế thị trường đã góp phần quan trọng làm nên sự khởi sắc của đất nước. Thời kì mở cửa để hội nhập và phát triển, dân tộc ta đón nhận nhiều tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu cho Tổ quốc. Chính môi trường chính trị cởi mở đã tạo điều kiện để Việt Nam giao lưu, tiếp xúc với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nghệ thuật hậu hiện đại thể hiện quan điểm mỹ học hậu hiện đại với những đặc điểm như vứt bỏ tính hàn lâm của các nhà hiện đại, xóa nhòa ranh giới giữa nghệ thuật và đời sống hằng ngày, bởi sự phát triển mạnh của tính công khai và dân chủ. Phủ nhận tính nguyên bản của một tác phẩm nghệ thuật và muốn hướng tới tính phổ quát, đại chúng. Phá bỏ cấu trúc, sự tiếp nhận hay mô tả hiện tượng không cần suy diễn, không chú ý đến chiều sâu, không diễn dịch bản chất sự vật theo chủ quan tác giả, giá trị nghệ thuật tùy thuộc vào kinh nghiệm cá nhân của người tiếp nhận, tùy thuộc vào nền văn hóa mà họ sở thuộc… Trái ngược với chủ nghĩa hiện đại muốn tạo lập một thế giới hoàn thiện, bất biến, thì chủ nghĩa hậu hiện đại lại xem thực tại hỗn loạn, phi lí, giễu cợt những điều mang tính toàn trị. Họ muốn nghệ thuật gắn liền với hoàn cảnh xã hội đặc trưng cụ thể, mang tính thời sự. Đối thoại với hỗn loạn chính là chiến lược nghệ thuật của hậu hiện đại. Trong lĩnh vực nghệ thuật, đi tiên phong là các nhà kiến trúc sư. Họ phê bình lối kiến trúc đơn điệu, thô kệch của các tòa nhà mang nặng tính thực dụng mà lại bỏ quên tính đa dạng. Do đó họ sẵn sàng cắt đứt với nghệ thuật tiền phong, chấp nhận thử bất cứ điều gì như sự phi lí, sự hỗn loạn và sự ngớ ngẩn. Cái phản chất lượng được lên ngôi bởi sự khác thường, sự tự do và sự phá vỡ khuôn khổ. Sự xuất hiện của khuynh hướng hậu hiện đại trong văn chương Việt Nam thể hiện một quy luật bình thường trong giao lưu văn hoá nhưng lại ghi một dấu ấn quan trọng đối với sự tiến triển của văn chương. Nó chứng tỏ tinh thần hội nhập mạnh mẽ và thuận chiều của văn chương nước ta với tiến trình văn chương thế giới. Khuynh hướng hậu hiện đại trên thực tế đã góp phần làm phong phú thêm diện mạo thi pháp văn học dân tộc, thay đổi tư duy văn học, cách đọc và thị hiếu thẩm mĩ của công chúng. Thử nghiệm theo khuynh hướng hậu hiện đại đáp ứng được đòi hỏi phát triển của bản thân văn chương, và trước hết nó giúp cho các nghệ sĩ thoả mãn nhu cầu với cái mới, cũng là để mở rộng chân trời sáng tạo của mình… Riêng ở lĩnh vực thơ, những sáng tác theo khuynh hướng hậu hiện đại du nhập vào nước ta và thực sự nở rộ từ những năm 1980 với những tên tuổi tiêu biểu như: Nguyễn Quang Thiều, Trương Đăng Dung, Thanh Thảo, Lê Vĩnh Tài, Lê Hữu Khóa, Mai Văn Phấn, Inrasara,… và sau này là Văn Cầm Hải, Vi Thùy Linh, Trần Tuấn… Sự góp mặt của đội ngũ này đã mở rộng lãnh thổ thơ ca và đưa đến những cách nhìn mới, suy nghĩ mới, đánh giá mới trong tiến trình phát triển.

 

Trước thực tế cuộc sống mới đầy những đổi thay, văn học tất yếu phải đổi mới để hoàn thành sứ mạng của mình, đồng thời để đáp ứng những nhu cầu, thị hiếu của một thế hệ độc giả có tư duy hoàn toàn khác so với trước đây. Nhưng điều đầu tiên là trước những ngổn ngang, phức tạp của đời sống hiện đại, chắc chắn tâm hồn của mỗi nhà thơ, nhà văn không khỏi chất chứa những “sóng ngầm”, “bão xoáy”, để rồi họ đưa tất cả vào thơ ca làm nên một thời kì văn chương không yên tĩnh. Văn chương hậu hiện đại đã góp phần không nhỏ làm phong phú thêm cách tiếp nhận cuộc sống từ nhiều chiều. Các nhà văn, nhà thơ tỏ ra năng động, ráo riết và táo bạo trên hành trình tìm kiếm bản sắc, lối đi trong công cuộc sáng tạo của mình. Do đó, sự khai sinh của thời đại cộng với khát vọng thay đổi cuộc sống, thay đổi cách tư duy, cách nghĩ theo tinh thần dân chủ trong sáng tác đã trở thành động lực thúc đẩy các hoạt động sáng tạo. Đây cũng chính là tiêu đề cho sự đổi mới văn chương.

 

Trong quá trình vận động và phát triển, văn chương Việt Nam đương đại, đặc biệt là các tác phẩm viết theo tâm thức hậu hiện đại đã dung nạp vào trong nó những kĩ thuật mới. Ở đó, các yếu tố hậu hiện đại đã được các nhà văn, nhà thơ lựa chọn, tiếp biến ở nhiều cách thức và mức độ khác như kĩ thuật lạ hóa, bút pháp giễu nhại, nghịch dị, trò chơi ngôn ngữ, nhằm thể hiện tính chất phức tạp quay cuồng của trật tự đời sống, qua đó thể hiện sự bế tắc của con người, sự băng hoại đạo đức, sự đau đáu bơ vơ và bất an của phận người trước thời cuộc.

 

Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn chương Việt Nam bắt đầu từ bao giờ? Ai là người tiên phong? Câu hỏi này cho đến nay vẫn thật khó để tìm được câu trả lời. Tùy thuộc vào quan niệm của từng nhà nghiên cứu sẽ có những lựa chọn khác nhau. Theo quan điểm của Lê Huy Bắc: “Tôi thấy Nguyễn Khải là người tiên phong trong lĩnh vực đổi mới văn xuôi từ hiện đại sang hậu hiện đại. Dễ nhận thấy điều này qua việc ông chuyển đổi từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng đời thường. Song hành với quá trình đó là việc chuyển đổi vai trung tâm: từ người lính với cảm hứng ngợi ca lãng mạn cách mạng (Xung đột, 1959 – 1962; Mùa lạc, 1960) sang người thường dân bé nhỏ với cảm hứng châm biếm mỉa mai, hoài niệm (Gặp gỡ cuối năm, Một người Hà Nội,...). Quá trình chuyển đổi đó được thể hiện ngay từ chính nhan đề truyện. Năm 2003, Nguyễn Khải đã tiếp cận hơn chân lí hậu hiện đại qua Thượng đế thì cười (2003). Tác phẩm tuy về hình thức là tập hồi kí về cuộc đời viết lách của ông nhưng nó cho thấy cái nhìn của ông chênh chao không còn vững chãi như xưa nữa” [42]. Lê Huy Bắc cho rằng Nguyễn Khải là người đầu tiên đổi mới văn học theo hướng hậu hiện đại ở Việt Nam ta. Những tác phẩm của Nguyễn Khải đã có sự chuyển đổi cảm hứng, nhân vật trung tâm rất rõ rệt theo khuynh hướng hậu hiện đại, khác với các tác phẩm văn xuôi truyền thống.

 

Góp phần tạo tiền đề cho sự đổi mới văn học là các nhà lý luận phê bình, nhà nghiên cứu. Họ là những người đã có công trong việc tiếp biến “mã hóa” để các trào lưu vào Việt Nam một cách rộng rãi. Khi mà luồng văn hóa, văn học phương Tây du nhập vào, họ luôn là người mở ra những chiều hướng cho văn học phát triển. Họ phải tìm những lối nghiên cứu mới, họ phải là những nhà chuyên môn, chuyên nghiệp chứ không phải là những người làm công tác tư tưởng, một ca sĩ trong dàn đồng ca. Trong cuộc hành trình đó, họ đã trang bị cho mình, tìm cho mình một lối đi. Sẽ là không quá khi nói rằng nếu thiếu đi sự nghiêm túc của các nhà nghiên cứu thì nền văn học sẽ không phát triển được. Ở Việt Nam, đội ngũ phê bình, lí luận, dịch thuật còn khiêm tốn, tuy nhiên không vì thế mà làm mất đi tính hiệu quả trong văn chương nghệ thuật. Các lí thuyết hậu hiện đại thường xuyên được giới thiệu, có thể kể đến các tác giả như Phương Lựu, Nguyễn Văn Dân, Đỗ Đức Hiểu, Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy…đó là những cây bút phê bình lý luận, dịch thuật sắc sảo, đưa ra ý kiến tạo tiền đề cho sự đổi mới. Họ đã tìm tòi những con đường đi mới, thoát khỏi những lối mà người trước đã đi. Dấu hiệu này cho thấy nghiên cứu văn học Việt Nam đang có những dịch chuyển tích cực. Văn chương hậu hiện đại Việt Nam sẽ ngày càng phát triển hơn nữa, hội nhập với nền văn chương thế giới. Nói như ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Dũng thì: “Tìm hiểu hoạt động nghiên cứu, phê bình hậu hiện đại trong lĩnh vực văn học mới thấy hết được sự gian khó của cái mới để tồn tại, khi nó phải đối diện với những thái độ ứng xử rất khác nhau, và không phải bao giờ cũng có sự công tâm và sự khách quan khoa học. Thời gian là người thầy của các sự kiện, câu trả lời về hậu hiện đại và tất cả những gì là nội hàm và ngoại diên, tất cả những gì bao bọc lấy khái niệm này sẽ có câu trả lời ở tương lai, một tương lai gần. Nhưng tất cả chúng ta đều buộc phải thừa nhận rằng, cả trên thế giới và ở Việt Nam, hậu hiện đại đã đem đến một nhận thức mới, một luồng sinh khí mới cho đời sống, trong đó có cả cho đời sống văn hóa, văn học”[45]. Bên cạnh những công trình nghiên cứu sâu về những biểu hiện cụ thể của văn học hậu hiện đại thì có thể nói bài viết của tác giả Nguyễn Hồng Dũng là một trong những công trình nghiên cứu tổng hợp khá công phu về tình hình nghiên cứu - phê bình văn học hậu hiện đại ở Việt Nam hiện nay.

Nếu chủ nghĩa hậu hiện đại nói chung rất khó xác định phạm vi thì đối với thơ hậu hiện đại càng khó khăn bội phần, vì nó không những gắn với cá tính và phong cách của từng nhà thơ mà còn phụ thuộc vào đặc điểm xã hội và truyền thống văn hóa của từng khu vực. Ranh giới giữa thơ hiện đại và thơ hậu hiện đại là rất khó phân định tuyệt đối. Theo Phương Lựu “Trước hết đây là loại thơ không mang đến việc kết tinh ý nghĩa, không hẳn vô nghĩa, nhưng hiểu thế nào thì tùy. Chủ nghĩa hậu hiện đại phủ nhận bên trong hiện tượng có bản chất, bên cạnh ngẫu nhiên có tất yếu, bên dưới vô thức có ý thức, bên sau ngôn từ có ngôn ngữ. Chính vì thế cứu cánh của hành động đan dệt ngôn từ trong sáng tạo thơ không cần thiết mà cũng không thể kết tinh thành một nội dung, ý nghĩa chủ đạo nào cả” [25; 260]. Nhà nghiên cứu Phương Lựu đã nói rõ thêm vấn đề sau ngôn từ có ngôn ngữ của văn học hậu hiện đạiĐây là điều rất quan trọng trong quá trình sáng tác và tiếp nhận văn học hậu hiện đại. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và sự du nhập của các trào lưu tư tưởng phương Đông, chủ nghĩa hậu hiện đại đã đi vào và trở thành phong cách sáng tác của một bộ phận lớn các nhà thơ trẻ ở nước ta. Các nhà thơ đã và đang cố gắng đưa nền thơ ca Việt Nam thoát khỏi lối mòn cũ để tiến đến một chân trời mới. Trên cái nền chung ấy, thơ hậu hiện đại đã có một bước phát triển vượt bậc cả về số lượng lẫn chất lượng. Các tác giả không ngừng tìm tòi, thể nghiệm, đổi mới không chỉ nội dung mà cả hình thức biểu đạt. Thơ hậu hiện đại đã góp phần tạo một nền tảng tương đối vững chắc để thơ ca tiếp tục phát triển, hội nhập cùng nền thơ ca nhân loại. Có thể nói ở Việt Nam, Bùi Giáng là nhà thơ đầu tiên sáng tác thơ theo cảm thức hậu hiện đại, hoặc gần như thế. Sáng tác của Bùi Giáng giai đoạn sau, nhất là các bài thơ mà tỉ lệ từ Hán Việt lấn át. Có khi những bài thơ  của ông chỉ là một chuỗi liên hệ âm, vần, phép nói lái trong ngôn ngữ nối tiếp hoặc chồng chéo lên nhau, lồng vào nhau như thể một ma trận chữ vô nghĩa, rồi cả chuỗi hình ảnh, ý nghĩa giẫm đạp lên nhau, xô đẩy, nhảy cóc rối tù mù. Bởi chưa tiếp cận hệ mĩ học của trào lưu văn nghệ này nên cả giới sáng tác lẫn phê bình cứ giật mình mỗi khi nhắc đến hậu hiện đại. Những tác phẩm thơ hậu hiện đại chủ yếu được in photocopy hay được đăng trên báo điện tử. Nếu như nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 (đặc biệt là thơ mới và tiểu thuyết) gắn liền với sự ra đời và phát triển của báo chí tiếng Việt thì thơ hậu hiện đại Việt Nam hình thành  và gắn kết chặt chẽ với Website. Trong hành trình đưa thơ ca Việt thoát khỏi quỹ đạo và biên độ chủ nghĩa hiện đại không thể không nhắc đến Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Hoàng Nam, Khế Iêm,… Những tác phẩm của họ tiêu biểu cho phong cách sáng tác theo cảm quan hậu hiện đại. Những tác phẩm đó mang đậm những dấu ấn của thơ hậu hiện đại như mảnh vỡ, dán ghép, giễu nhại, giải nhân cách, bùng nổ ngôn từ theo hướng bình dân và suồng sã. Theo ý kiến của Inrasara các nhà thơ hậu hiện đại chối bỏ mọi dạng đại tự sự bằng cách hiệu quả nhất là giải thiêng sự thể. Giải thiêng để có cơ hội nhìn nhận thực tại bằng một cảm thức khác. Mang tư tưởng tự do, các nhà thơ hậu hiện đại luôn có tiếng nói phản biện xã hội đương thời, bóc trần sự mê hoặc mà thông tin đại chúng muốn tác động vào xã hội. Đồng thời, thơ hậu hiện đại tự thân mang ý hướng phi tâm hóa, xóa bỏ mọi sự phân biệt trong đội ngũ sáng tác. Do vậy, đội ngũ sáng tác thơ hậu hiện đại lúc này xuất hiện những gương mặt nữ có cá tính riêng như Giáng Vân, Vi Thùy Linh, Lê Thị Thẩm Vân... Với những hình thức và phương tiện khác nhau, họ sáng tạo nên các phong cách, các bộ mặt, các  giọng điệu khác nhau. Xu hướng đổi mới thơ triệt để, từ hình thức cho đến nội dung theo hướng hậu hiện đại, đây là xu hướng hậu hiện đại toàn diện và “có ý thức”. Có thể kể đến một số cây bút trong xu hướng này như Khế Iêm, Trần Tuấn, Inrasara, Bùi Chát, Lý Đợi, Phan Bá Thọ, Đặng Thân… đặc biệt là thơ tân hình thức, thơ văn xuôi, kịch đường phố, thơ trình diễn…Tuy nhiên, những sáng tác của họ đa phần mới chỉ dừng lại ở mức những thể nghiệm ban đầu và chưa thực sự dấn thân vì nó. Hàng loạt những cách tân khiến cho bộ mặt thơ hậu hiện đại nói riêng và nền thơ ca đương đại Việt Nam nói chung càng thêm phong phú. Nhìn nhận một cách khách quan tinh thần hậu hiện đại trong thơ Việt Nam đã thể hiện được cảm quan của thời đại với những phương thức biểu hiện đầy mới mẻ. Tuy nhiên, trong quá trình mải mê đi tìm cái mới, một số cây bút sa đà, nhầm tưởng hậu hiện đại là phá cách, là khác người nên họ sử dụng từ ngữ tục tĩu, nổi loạn...mà không chú ý đến truyền thống văn hóa của dân tộc. Việc thúc đẩy tính hiện đại mới mẻ trong thơ không đơn thuần là chạy theo mốt thời thượng mà người nghệ sĩ phải biết chọn lọc, thể hiện đúng tinh thần của thời đại. Đảm bảo tính cá nhân nhưng đồng thời vẫn giữ được bản chất thuần khiết, chức năng thẩm mỹ của thơ ca.

 

Mỗi lí thuyết đang trên hành trình tiếp nhận vào một nền văn hóa, không phải lúc nào cũng có thể khẳng định được vị trí và chỗ đứng của mình ngay, đặc biệt lý thuyết ấy lại được thơ vận dụng – một vấn đề khó nắm bắt của thế giới tâm hồn con người. Nếu quá trình tiếp nhận những trường phái lý luận phương Tây ở Việt Nam như thi pháp học, tu từ học, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức Nga…các cách hiểu thường mang tính bổ sung, làm tiền đề cho nhau thì ở hậu hiện đại, ở mỗi nhà nghiên cứu lại có những quan điểm trái ngược, thậm chí tranh luận gay gắt. Một số nhà nghiên cứu có xu hướng tin tưởng vào những thành tựu mà chủ nghĩa hậu hiện đại có thể mang lại cho nền văn học Việt Nam, tiêu biểu có Nguyễn Hưng Quốc, Inrasara, Phùng Gia Thế… Các nhà nghiên cứu này đều xem lý thuyết văn học hậu hiện đại một khi được du nhập vào đời sống văn học nước nhà sẽ tạo ra tiền đề cơ bản, nhằm đổi mới triệt để nền văn học Việt Nam. Các luận điểm được đưa ra nhằm chứng minh cho tính khả dụng của văn học Việt Nam bao gồm: Thứ nhất, lý thuyết hậu hiện đại sẽ giúp cho nền văn học nước nhà bắt kịp và hòa chung với tâm thế và trình độ của nền văn học thế giới. Thứ hai, văn học hậu hiện đại với tính đả phá đại tự sự mạnh mẽ, chủ trương không ngừng giải cấu trúc các hiện tượng đã có, đi kèm với tính chất dung hợp bảo vệ cho các “tiểu tự sự”, cái đối lập, cái khác, sẽ khiến nền văn học Việt Nam phá bỏ sức ì, phát triển một cách đa màu sắc hơn, mang tính đối thoại hơn. Ngược lại, những nhà nghiên cứu có quan điểm xem lý thuyết hậu hiện đại sẽ mang lại nhiều tác hại hoặc không có lợi gì đáng kể cho nền văn hóa, văn học nước nhà như Đỗ Minh Tuấn, Bùi Công Thuấn… Họ xem chủ nghĩa hậu hiện đại là một “yêu nữ”, “bóng ma chập chờn”, “một con ma hậu hiện đại” [21]. Với các nghiên cứu này, chủ nghĩa hậu hiện đại đã du nhập vào Việt Nam dưới những mặt trái và tiêu cực, làm biến đổi các giá trị văn hóa, hoặc đã có những âm mưu sử dụng thuật ngữ hậu hiện đại để gán cho những sự kiện văn hóa suy đồi.

 

Không thể phủ nhận rằng, những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, hậu hiện đại là một trong những tiêu ngữ mang lại nhiều nguồn cảm hứng và sự quan tâm nhất của cả giới sáng tác và nghiên cứu - phê bình văn học ở Việt Nam. Dù muốn hay không, nền văn học Việt Nam vẫn không thể chối từ cái khí quyển chung của thời đại, chính vì vậy, tuy còn nhiều bất cập, nhưng hậu hiện đại vẫn là giai đoạn phát triển mang tính tất yếu trong văn học nước nhà. Từ sự nhận thức đó, thơ Việt Nam trên hành trình dấn bước theo con đường hậu hiện đại, còn vấp phải nhiều chông gai. Đó là ý thức giữa việc bảo tồn bản sắc hay lai căng mất gốc, đổi mới triệt để hay kế thừa cơ bản. Vấn đề này phụ thuộc rất lớn vào người sáng tác, sự tương tác của độc giả và cả giới phê bình nghiên cứu.

1.2. Thơ Mai Văn Phấn trong quá trình đổi mới thơ Việt Nam sau 1986

1.2.1. Những đổi mới của thơ Việt Nam sau 1986

 

Giai đoạn từ năm 1986 đến nay ghi nhận sự chuyển mình mạnh mẽ của thơ ca từ nội dung đến hình thức. Các nhà thơ đã và đang cố gắng đưa nền thơ ca Việt Nam thoát khỏi lối mòn để đi vào một chân trời mới. Trên cái nền chung ấy, thơ ca đã có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng, đóng góp một phần không nhỏ vào việc đưa văn chương Việt Nam hội nhập cùng nền văn chương nhân loại. Trong Mấy ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi đã nhận định “Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm với cuộc sống. Tóe lên ở nơi giao nhau giữa tâm hồn và ngoại vật, trước hết là những cảm xúc” [67]. Hiện thực và tư duy cuộc sống thay đổi thơ ca cũng phải tìm được hướng đi mới cho mình thì mới có thể tiếp tục tồn tại và phát triển. Từ sau 1986, thơ ca tìm về với cuộc sống đời thường, khai thác những đề tài gần gũi nhất trong xã hội và trong tâm hồn cá nhân con người. Thơ ca suốt chặng đường từ đó đến nay phát triển cùng “ý thức cởi trói” “để xác lập một quan niệm mới về nghệ thuật”. Có thể nhìn nhận thơ ca giai đoạn này như ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp: “Ý thức nhìn nhận cuộc đời bằng cái nhìn tỉnh táo và thơ ca hiện ra như một hình thức tra vấn không ngừng về đời sống” [8; 31]. Các nhà thơ đang “nỗ lực khám phá sự phong phú của “cái tôi ẩn dấu” dám phơi bày những bi kịch nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn đã quá ổn định để đi tìm những giá trị mới” [8; 31]. Thơ ca đưa cái tôi trở về sau nhiều năm hòa nhập cùng cái ta cộng đồng do điều kiện khách quan của lịch sử. Cùng với sự trở lại ý thức cá nhân là cái nhìn đa chiều về cuộc sống, về những gì vốn đã quá ổn định xưa nay. Mặc dù chiến tranh trôi qua chưa lâu nhưng nếu đặt nó trong tương quan với lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc dễ nhận thấy một thực tế: các nhà văn đã có một độ lùi cần thiết đề nhìn về cuộc chiến bằng cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn. Trước đây hiện thực hiện lên trong tác phẩm thường là hiện thực “nhìn thấy” thì nay chiến tranh chủ yếu hiện lên trong kí ức. Cùng với công cuộc đổi mới năm 1986, tư duy cuộc sống thay đổi mở ra một chân trời mới cho thơ ca. Không còn bị gò ép, chi phối về mặt tư tưởng, các nhà thơ bây giờ không còn muốn đứng mãi trong dàn đồng ca đơn điệu, họ muốn được nói lên tiếng nói của chính mình, sống thật với từng rung động của con tim. 

 

Năm 2002 cùng với sự ra đời của hàng loạt website văn học tiếng Việt, văn học hậu hiện đại có bước phát triển đột phá, đặc biệt trong lĩnh vực thơ. Internet và các loại hình thông tin bùng nổ tạo điều kiện thuận lợi để các nhà văn, nhà thơ trẻ có cơ hội tiếp cận với mọi trào lưu văn học trên thế giới và văn học hậu hiện đại cũng không ngoại lệ. Theo Inrasa, nhà thơ hậu hiện đại chối bỏ mọi dạng đại tự sự bằng cách hiệu quả nhất là giải thiêng sự thể. Mang tư tưởng tự do, nhà thơ hậu hiện đại luôn có tiếng nói phản biện xã hội đương thời, bóc trần sự mê hoặc mà thông tin đại chúng muốn tác động vào xã hội. Đồng thời thơ hậu hiện đại tự thân mang ý hướng phi tâm hóa, xóa bỏ mọi sự phân biệt trong đội ngũ sáng tác.Trước đây, các nhà thơ dường như ngại đề cập đến những mặt trái của cuộc sống thì đến thời kì này thơ nhìn thẳng vào cuộc đời bằng những cái nhìn không giấu diếm, quanh co. Và cũng đến giai đoạn này, xu hướng văn học hiện đại, văn học hậu hiện đại phát triển mạnh mẽ. Từ cái nhìn hiện đại, hậu hiện đại, thơ Việt đã đặt các nhà thơ trước một thực tế: nếu quay lại với cách cảm cũ, cách nói cũ thì có nghĩa là anh ta đã chấp nhận hậu quả “theo chồng bỏ cuộc chơi”. Tuy nhiên trong quá trình chạy theo hướng hiện đại này đã có rất nhiều cây bút nhầm tưởng. Họ cứ nghĩ đổi mới theo hướng hiện đại, hậu hiện đại là phải dùng những từ ngữ tục tĩu hay dùng những từ ngữ thời thượng, nổi loạn… Tuy nhiên thực tế không phải như vậy. Cái quan trọng nhất là các tác phẩm phải thể hiện được chân dung tinh thần của thời đại hậu chủ nghĩa cũng như tâm thức của con người trong xã hội hiện nay. Điều đó đòi hỏi họ phải tìm ra một hình thức tổ chức diễn ngôn mới, cách tạo âm và tạo nghĩa mới. Việc thúc đẩy tính hiện đại trong thơ không phải là chạy theo những thời thượng nghệ thuật mà quan trọng hơn nhà thơ phải thể hiện được tinh thần hiện đại trong tác phẩm của mình. Trong nghệ thuật hiện đại và nhất là hậu hiện đại con người có ý thức nêu lên quan điểm cá nhân và chống lại những quan điểm mang tính toàn trị. Dù đổi mới thế nào đi chăng nữa thì thơ ca vẫn phải là tiếng nói hồn nhiên nhất, nguyên sơ nhất và giàu tính nhân bản nhất của con người về cuộc sống, vì sự cao đẹp của con người.

 

Trong một thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, người nghệ sĩ sẽ có cơ hội lựa chọn nhiều cách để trình bày tư tưởng của mình. Từ đội ngũ sáng tác mới, nền văn học nước nhà có cơ hội quảng bá văn chương Việt ra nước ngoài. Vấn đề này có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi nó không chỉ tác động đến cách thế giới nhìn nhận bản sắc văn hoá Việt ra sao mà còn khơi dậy niềm tự hào về thành tựu văn học của dân tộc. Nó gián tiếp thúc đẩy kinh tế mạnh mẽ trong lĩnh vực du lịch - ngành được mệnh danh là “ngành công nghiệp không khói”. Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã khai thác hiệu quả những thành tựu văn chương trong quảng bá đất nước, con người để thu hút khách du lịch, thậm chí là thu hút cả những nhà đầu tư nước ngoài. Điều đáng mừng là, trong công cuộc đổi mới này, tuy chúng ta đang đi sau thời đại nhưng không phải là một khoảng cách quá xa. Một phần lớn lợi thế đó là nhờ công lao tiếp nhận lý thuyết hậu hiện đại vào Việt Nam khá hiệu quả. Thách thức vẫn còn ở phía trước, bởi công cuộc hiện đại hóa lần thứ nhất đã để lại quá nhiều thành tựu (thơ Mới, văn xuôi lãng mạn, văn xuôi hiện thực…). Thế nên, công cuộc đổi mới thời nay cần cố gắng rất nhiều để hoàn thiện nền văn chương dân tộc. Đúng như nhận định của Inrasara: “Nếu không tiếp nhận ngay từ hôm nay, tôi e rằng chúng ta tiếp tục chương trình làm kẻ trễ tàu thời đại” [49]. Mặc dù mang lại nhiều thành tựu, nhưng các tác phẩm thuộc xu hướng này mới chỉ dừng lại ở dạng mang “yếu tố”, “dấu ấn” hậu hiện đại, chứ chưa thể hoàn toàn xem đó là các sáng tác mang đầy đủ diện mạo và bản chất của chủ nghĩa hậu hiện đại. Cũng chính bởi lý do này, nên mới có sự tranh luận, nghi ngờ diễn ra thường xuyên ở những năm qua trong giới phê bình, nghiên cứu văn học Việt Nam về việc phân định và xác định các tác phẩm, tác giả hậu hiện đại. Trong chỉ hơn ba mươi năm, vừa tiến hành tiếp thu lý thuyết, vừa triển khai ứng dụng vào sáng tác, lại phải vừa tiến hành việc tiếp thu và ứng dụng nhiều hệ hình lý thuyết văn học khác, có thể nói văn học theo xu hướng hậu hiện đại Việt Nam đã có những thành tựu nổi bật, không thể không tính đến trong phê bình nghiên cứu văn học. Mặc dù vẫn còn nhiều tiếng nói e ngại, nhiều cái nhìn phiến diện, những sự rụt rè và hoài nghi về hệ hình lí thuyết văn học này nhưng không thể phủ nhận rằng, những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, hậu hiện đại là một trong những tiêu ngữ mang lại nhiều nguồn cảm hứng và sự quan tâm nhất của cả giới sáng tác và nghiên cứu - phê bình văn học ở Việt Nam. Dù muốn hay không, nền văn học Việt Nam vẫn không thể chối từ cái khí quyển chung của thời đại. Chính vì vậy, tuy còn nhiều bất cập, nhưng hậu hiện đại vẫn là giai đoạn phát triển mang tính tất yếu trong văn học nước nhà. Từ sự nhận thức đó, thơ Việt Nam trên hành trình dấn bước theo con đường hậu hiện đại còn vấp phải nhiều chông gai. Đó là ý thức giữa việc bảo tồn bản sắc hay lai căng mất gốc, đổi mới triệt để hay kế thừa cơ bản. Vấn đề này phụ thuộc rất lớn vào người sáng tác, sự tương tác của độc giả và cả giới phê bình nghiên cứu. Trong thời gian hơn ba mươi năm qua đã tạo được một nền tảng tương đối vững chắc để thơ ca Việt tiếp tục phát triển, hội nhập cùng nền thơ ca hậu hiện đại thế giới. 

1.2.2. Thơ Mai Văn Phấn - nỗ lực cách tân theo hướng hậu hiện đại

 

Mai Văn Phấn được xem là một trong những gương mặt cách tân nổi bật của thơ Việt Nam đương đại. Thơ ông đã tạo được những dấu ấn rất riêng trên hành trình sáng tạo nghệ thuật của thơ ca nói chung với tư cách “một nhà thơ rất chuyên nghiệp, chuyên sâu và nhiều ý tưởng mới” [38; 278].  Trong thơ của Mai Văn Phấn, mỗi một thi phẩm là “một thể nghiệm để có được một phát hiện mới, một ghi nhận mới về sự cách tân” [38; 284]. Mai Văn Phấn luôn coi quá trình sáng tạo nghệ thuật là một cuộc “vong thân”, một cuộc vượt thoát chính bản thân mình. Mỗi nhà thơ phải biết tự phủ định mình, tức là phải coi cái mà mình vừa viết ra là cái đã cũ thì mới mong đạt đến thành công đỉnh cao trong nghệ thuật. Ông cho rằng, bài thơ mà nhà thơ viết ra không còn thuộc về anh ta nữa mà thuộc về độc giả. Và nhà thơ muốn tiếp tục tồn tại phải được tái sinh trong một bài thơ khác đang chờ đợi phía chân trời: "Tôi quan niệm tác phẩm sau khi được công bố tồn tại độc lập với người làm ra nó (...). Tôi không có thói quen chiêm bái những con đường cũ của mình, không “quay vái lậy chiếc áo vừa treo lên giá" [38; 368]. Không chỉ dừng lại ở đó, Mai Văn Phấn còn xem vấn đề cách tân là vấn đề trung tâm trong quan niệm thơ của mình. Ông dùng từ “vong thân” để nói đến quá trình vượt thoát khỏi cá tính của người nghệ sĩ. Mai Văn Phấn cho rằng: “Thật kinh hãi khi phải ngắm nhìn một nghệ sỹ cứ đứng mãi một chỗ mà biểu diễn quá nhiều lần một tiết mục tới gần như vô cảm, nói cách khác là thương hại những ai thâm canh triền miên trên mảnh đất đã cằn cỗi” [38; 399]. Mà quá trình “vong thân” thường đồng hành với quá trình đổi mới thi pháp. Với Mai Văn Phấn: “Đổi mới thi pháp trước hết là từ chối ve vuốt những sở thích của người đọc, nhằm tạo những sóng từ khác, những mã số khác trong không gian thơ vừa được khám phá. Lý tưởng thi ca của sự cách tân nhằm gọi đúng bản chất của sự vật trong nhịp điệu đời sống hiện đại”[38; 378]. Nói thì dễ mà làm mới khó. Ai đã từng làm thơ đều biết rằng, đổi mới thi pháp luôn là con đường đầy khó khăn và hiểm trở. Nó đòi hỏi ở người làm thơ một bản lĩnh, một nghị lực, một sự quyết tâm cao độ và hơn thế là một tài năng thực sự. Nhưng điều đáng trân trọng ở Mai Văn Phấn là lời nói luôn song hành cùng hành động. Hơn ai hết, là một con chiên của Chúa, Mai Văn Phấn hiểu rằng: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Thánh Gia-cô-bê). Vì thế, trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, Mai Văn Phấn luôn tâm niệm: “Các khuynh hướng sáng tác đều rất cần và làm phong phú thêm cho nền thi ca của chúng ta. Hiện chúng ta vẫn còn hồ nghi vì còn quá ít tài năng cho những “thể nghiệm” được thuyết phục” [48; 439]. Bàn về vấn đề đổi mới thi pháp, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã mạnh dạn khẳng định: “Nếu có nhà thơ nào đó đang lặng lẽ luôn tự đổi mới thơ mình và phá vỡ các nhịp điệu mòn cũ trong các thể nghiệm thơ hôm nay, theo tôi, người đó phải là Mai Văn Phấn. Từ trữ - tình – cổ - điển, anh “bay” thẳng một mạch vào hậu - hiện - đại, rồi từ đó “lao” vào vòng xoáy đầy ấn tượng của thơ - cách - tân” [22; 420].

 

Quả đúng như vậy, sau năm 1986, tư duy nhận thức của con người về cuộc sống thay đổi, đòi hỏi kéo theo đó là sự đổi mới văn chương để bắt kịp xu thế thời đại. Mai Văn Phấn đã nỗ lực hết mình đưa thơ Việt hòa nhập với nền văn chương thế giới. Những tập thơ của ông ngày càng có sự cách tân mãnh liệt, bỏ qua hơi hướng thi pháp truyền thống và đến gần hơn với văn chương hậu hiện đại. Và những thành tựu ông mang lại là không nhỏ. Nhìn lại chặng đường sáng tác của ông, ta thấy rõ cả một quá trình vận động mạnh mẽ, quyết liệt, đổi mới cả về nội dung và hình thức thể hiện. Nỗ lực thay đổi liên tục lối thể hiện như thế – từ Giọt nắng (1992), Gọi xanh, Cầu nguyện ban mai, Nghi lễ nhận tên, trường ca Người cùng thời cho đến những tập thơ mới nhất: Lặng yên cho nước chảy, Tĩnh lặng, Thời tái chế (2018) và cả hàng trăm bài thơ lẻ đăng trên Website các nơi, mỗi tập thơ, mỗi giai đoạn là một tìm tòi phong cách độc đáo hơn, mới và khác hơn.

 

Sự cách tân trong thơ Mai Văn Phấn biểu hiện qua hệ thống ngôn ngữ đa dạng kết hợp một cách linh động với nhiều biện pháp tu từ để tạo nên sự lạ hóa mang hiệu ứng thẩm mĩ cao. Sự phá cách nhưng vẫn lấy nền tảng tư tưởng cổ điển làm nòng cốt đã tạo cho ông có một phong cách độc đáo riêng biệt. Nhiều bài thơ, tập thơ của ông đã được giới phê bình nước ngoài đánh giá cao. Mai Văn Phấn đã xuất bản 16 tập thơ và một công trình phê bình - tiểu luận trong nước; 15 tập thơ xuất bản ở nước ngoài. Thơ ông đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng (tính đến tháng 10/2019 và vẫn còn tiếp tục được dịch ở một số thứ tiếng khác nữa); xuất hiện trong hơn 50 tuyển tập thơ và tạp chí quốc tế: tập thơ tiếng Thụy Điển Igar - Tolv vietnamesiska poeter (Cho ngày hôm qua - Mười hai nhà thơ Việt Nam, Nhà xuất bản Tranan, 2009), do Erik Bergqvist chuyển ngữ; Tạp chí Poetry NZ 36 (New Zealand) 5 & 6 (Anh); Tạp chí Poesy 33, Fulcrum 3, Nhà văn Viết tập 6, 7 & 8, Wordbridge (Hoa Kỳ); Tạp chí Thơ và Bình luận (Hàn Quốc); Tạp chí Hạt nhân Softblow(Singapore), Báo Văn học (Indonesia)…Thành công trong sáng tác của Mai Văn Phấn đã được ghi nhận bằng hàng loạt các giải thưởng uy tín như: Giải thưởng Cuộc thi thơ tuần báo Người Hà Nội năm 1994, Giải thưởng Cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ năm 1995, chuỗi giải thưởng Văn học Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hải Phòng) trong các năm 1991, 1993, 1994, 1995, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam dành cho tập thơ Bầu trời không mái che năm 2010; Giải thưởng văn học Cikada của Thụy Điển trao năm 2017 (Giải Cikada được sáng lập năm 2004 và được trao cho các nhà thơ Đông Á, nơi "cảm quan thơ ca của họ chỉ ra tính bất khả xâm phạm của đời sống) và mới đây nhất là giải thưởng của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Hoàng gia Cộng hòa Serbia được trao năm 2019. Mỗi tập thơ là sự bứt phá, đổi mới khỏi chính mình của tác giả để thực hiện sứ mệnh cách tân thơ Việt theo hướng đi tìm một diện mạo riêng cho thơ dân tộc, làm giàu thêm truyền thống thơ dân tộc. Tài năng và nghị lực là yếu tố cơ bản giúp Mai Văn Phấn khẳng định được vị trí của mình. Thơ cách tân theo hướng hậu hiện đại của ông mềm mại uyển chuyển, là sự thăng hoa về mặt cảm xúc và ngôn từ được mã hóa bằng trí tuệ của một con người từng trải. Ông đã vẽ nên một màu sắc riêng, mới và lạ, hòa chung trong dòng chảy của nền thơ ca đương đại Việt Nam. Để thể hiện được nhiều cung bậc tình cảm, suy tư trước đời sống nhân sinh, thế sự, Mai Văn Phấn  đã sử dụng rất linh hoạt các thể thơ, trong đó thành công nhất là thể thơ tự do. Thơ tự do của Mai Văn Phấn là sự kết hợp giữa thơ không vần và thơ văn xuôi đã làm nên một giọng điệu riêng biệt và mới lạ. Ở đó người viết đã bỏ qua hết những vần điệu để tìm về với sự tự do trong cảm hứng, những câu thơ thực sự thoát khỏi mọi sự ràng buộc để có thể chuyển tải tốt nhất cảm xúc của nhà thơ, sự đa dạng, phức tạp của đời sống. Mai Văn Phấn dụng công tìm kiếm khả năng thể hiện ý tưởng bằng nhiều cấu trúc câu thơ dài ngắn khác nhau. Có lúc câu thơ được dồn nén, cô đặc có lúc lại chảy tràn bung phá. Cảm xúc dạt dào của thi sĩ đã vượt qua mọi luật lệ khuôn khổ của thơ truyền thống. Sự gián đoạn trong cấu trúc câu thơ, bài thơ cũng là một đặc điểm khác biệt của thơ anh so với thơ truyền thống. Sự gián đoạn đó được hình thành trên sự đồng hiện, phân mảnh hoặc lắp ghép hình ảnh khiến cho câu thơ mất đi quan hệ nhân - quả theo chiều tuyến tính. Phương thức này giúp gia tăng độ căng của cảm xúc. Sự cách tân trong hệ thống cấu trúc hình ảnh, biểu tượng và ngôn ngữ trong thơ Mai Văn Phấn cũng rất đáng chú ý. Trong thơ ông, hình ảnh được sử dụng với cường độ cao, câu thơ chất chồng những hình ảnh, nhưng đó thường là những hình ảnh vừa mang tính hiện đại vừa mang âm hưởng bản sắc riêng của dân tộc bình dị, gần gũi. Trong thơ Mai Văn Phấn, biểu tượng gần gũi, hài hòa với thiên nhiên, đời sống con người. Với những tìm tòi và cách tân về cấu trúc thơ, hình ảnh, biểu tượng, ngôn ngữ thơ, giọng điệu thơ, Mai Văn Phấn đã cho thấy một diện mạo thơ mới có thể chuyển tải được những bộn bề, phức tạp của cuộc sống và tâm trạng, với nhiều cung bậc tình cảm của cái tôi luôn mang nặng ý thức trách nhiệm với con người và cuộc sống. Mai Văn Phấn là một trong rất ít nhà thơ tiêu biểu nhất của thơ hậu hiện đại Việt Nam góp phần đưa thơ hậu hiện đại Việt Nam hội nhập với nền văn chương nhân loại.

 

*

*       *

 

Hậu hiện đại không phải là chủ nghĩa nghệ thuật thuần tuý, mà là trào lưu văn hoá mang tính toàn cầu, tác động rộng lớn đến nhiều mặt trong đời sống văn hoá xã hội của nhiều quốc gia. Văn học hậu hiện đại vì thế cũng mang tính phổ quát. Người sáng tác văn chương hậu hiện đại phải mang đầy đủ cảm thức hậu hiện đại, với những phương thức thể hiện mới. Để thể hiện thành công một tác phẩm hậu hiện đại không hề đơn giản. Các nhà thơ Việt Nam thời kì đổi mới trong những năm gần đây